Hôm nay,  

HÁ MIỆNG MẮC QUAI

04/08/201715:04:00(Xem: 7245)
_PHAM TRAN_
Phạm Trần


Việt Nam (CSVN) có Lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân và Dân quân tự vệ với số quân phỏng định là 5,495.000 người. Nhưng lực lượng này có thể làm gì trước đe dọa tấn công của Trung Cộng, hay đã há miêng mắc quai thì cứ lờ đi cho đỡ nhục ?

Trước hết, theo Bách khoa toàn thư mở thì:”Lực lượng Quân đội bao gồm Lục quân, Hải quân, Không quân, Biên phòng, Cảnh sát biển, đặt dưới sự quản lý của Bộ Quốc phòng và chịu sự điều động của Bộ Tổng tham mưu. Lực lượng Công an bao gồm An ninh và Cảnh sát, chịu sự quản lý của Bộ Công an. Riêng lực lượng Dân quân - Tự vệ là lực lượng quản lý hỗn hợp của Bộ Quốc phòng và cơ quan hành chính địa phương.”

Tài liệu chi tiết cho thấy Việt Nam có 455,000 quân chính quy; 5.000.000 dự bị và 40,000 bán quân sự.
Về phiá Trung Cộng có 2,285.000 quân chính quy; 800,000 dự bị; 3,969.000 bán quân sự. Tổng số lực lượng võ trang là 7,054.000 người.

Vũ khí và quân trang của hai bên không được tiết lộ.

Đảng CSVN từng tự hào đã “chận đứng” 2 cuộc tấn công qua biên giới của quân đội Trung Hoa năm 1979 (17 tháng 2 – 16 tháng 3 năm 1979) và sau đó tiếp tục ngắt đọan từ Cao Bằng (1980) đến mặt trận Vỵ Xuyên, Tỉnh Hà Giang (1984-1990).

Lãnh tụ tối cao của Trung Cộng khi ấy là Đặng Tiểu Bình đã gọi cuộc tấn công là “dạy cho Việt Nam một bài học” để trả đũa Hà Nội xua quân qua Cao Miên đánh quân Khmer Đỏ, đàn em của Trung Hoa.

Không có thống kê chính thức nào được xác nhận tổn thất của đôi bên, ngoài số ước định hàng ngàn người. Riêng tổn thất của Việt Nam, kể cả thường dân, từng được loan truyền từ 40 đến 45,000 người.

Tuy nhiên, một hành động tàn sát dã man thường dân Việt Nam của Quân dội Trung Hoa trước khi rút khỏi mặt trận đã được ghi lại, đó là vụ :”Thảm sát ngày 9 tháng 3 tại thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, khi quân Trung Quốc đã dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối. Trong thời gian chuẩn bị rút quân, Trung Quốc còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình xây dựng, từ nhà dân hay cột điện, tại các thị xã thị trấn Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn.” (Tài liệu Bách khoa tòan thư mở)

Bao nhiêu mẫu đất của Việt Nam đã bị Tầu chiếm trong 2 cuộc chiến này chưa được làm rõ. Chỉ biết rằng, tại mặt trận Vỵ Xuyên (Tỉnh Hà Giang), khốc liệt nhất trong 2 cuộc chiến biên giới, thương vong của Trung Cộng được Việt Nam loan báo 7,500 quân sau 4 tháng giao tranh năm 1984, trong khi Trung Cộng chỉ thừa nhận có 939 lính và 64 dân công chết.

Trung Cộng nói họ đã loại khỏi vòng chiến 2,000 lính Việt Nam trong cùng thời gian.

Việt Nam không công bố số thương vong của mình nhưng, theo tài liệu của Bách khoa tòan thư mở thì:” Phía Việt Nam xác nhận trong cuộc giao tranh ngày 12 tháng 7 (1984), Sư đoàn 356 của họ đã có gần 600 binh sĩ thiệt mạng. Ngoài ra còn có 820 binh sĩ Việt Nam khác bị thương trong đợt xung đột này.”

Tuy nhiên Việt Nam đã để mất phần đất chiến lược quan trọng nhất của Cao điểm 1509, hay Núi Đất mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn, tại biên giới hai nước.

Sau 4 năm mặt trận Vỵ Xuyên, vào ngày 14/03/ 1988 Đặng Tiểu Bình lại xua quân đánh chiếm 3 vị trí đảo và đá của Việt Nam gồm
Đá Gạc Ma, đá Cô Lin, đá Len Đao ở Trường Sa, sau khi đã chiếm quần đảo Hòang Sa từ tay Hải quân Việt Nam Cộng hòa tháng 1/1974.

Nhưng khác với cuộc giao chiến dũng cảm ở Hòang Sa của Quân lực Việt Nam Cộng hòa khiến 74 sỹ quan và binh sỹ hy sinh, những người lính can trường của Quân đội Nhân dân đảng CSVN có nhiệm vụ bảo vệ Gạc Ma đã không được phép nổ súng chống quân xâm lược, được nói là theo lệnh của Lê Đức Anh, khi ấy là Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng.

Có 64 chiến sỹ người Việt Nam yêu nước đã phải bỏ mình trong tủi hờn ở Trường Sa mà cho đến nay, lãnh đạo đảng và quân đội CSVN vẫn chưa có một lời tạ lỗi nào.

Chẳng những thế, nhà nước CSVN còn ra lệnh cấm và đánh phá mọi nỗ lực tự phát của dân muốn tổ chức tưởng niệm 138 liệt sỹ đã hy sinh khi bảo vệ lãnh thổ Hòang-Trường Sa.

Tướng Lê Đức Anh, sau này được biết là người thân của Trung Cộng mà vẫn được lên làm Chủ tịch nước, đã bị nhiều cựu Lãnh đạo đảng viên, được gọi là “lão thành cách mạng” lên án phản quốc.

HIỆN TÌNH BIỂN ĐÔNG

Từ sau trận hải chiến Trường Sa, Trung Cộng tiếp tục lấn chiếm biển đảo của Việt Nam và tân tạo các đảo và đá này thành các căn cứ quân sự trực tiếp đe dọa Việt Nam.

Cho đến nay, tuy Trung Cộng chỉ kiểm soát 7 đảo và bãi đá, nhưng chúng là những pháo đài kiên cố, được trang bị các giàn Radar, súng phòng không, có thêm bến cảng, sân bay và trại lính cho quân đội đồn trú.

Sự bành trướng lãnh thổ và quốc phòng của Trung Cộng tại các vị trí chiến lược quan trọng này ở Biển Đông đã khiến cho tuyến giao thông hàng hải từ Thái Bình Dương qua Bắc Đại Tây Dương bị đe dọa thường xuyên.

Và mặc dù Việt Nam đang kiểm soát 21 vị trí đá, đảo ở Trường Sa, nhưng khả năng quân sự của Việt Nam không thể nào so với lính Trung Cộng được.

Hơn nữa, lính Trung Cộng đồn trú ở Gạc Ma có thể cắt đứt đường tiếp tế cho lính Việt Nam ở phí Nam Trường Sa, trong khi máy bay Trung Hoa có thể cất cánh tấn công Đà Nẵng từ đảo Chữ Thập vì khỏang cách chỉ chừng 400 cây số.

Ngoài Việt Nam, Phi Luật Tân cũng đang làm chủ 7 Bãi đá, Mã Lai Á chiếm 7 và Đài Loan làm chủ 2, trong đó có đảo Ba Bình lớn nhất trong số các đảo của Trường Sa.

Sơ lược lại những biến cố xung đột quân sự gần nhất giữa hai nước Việt-Trung và âm mưu của Bắc Kinh ở Biển Đông để thấy rằng hàng ngũ lãnh đạo Trung Hoa, từ cổ tới kim, chưa bao giờ từ bỏ tham vọng đánh chiếm Việt Nam.

Hãy lấy tỷ dụ như khi còn cầm quyền, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra chủ trương “ hãy gác tranh chấp để cùng khai thác” ở Biển Đông với các nước tranh chấp lãnh thổ với Trung Hoa.

Chủ trương của họ Đặng là muốn không đánh mà thắng vì trong thực tế, Trung Hoa chưa bao giờ chứng minh được là người Trung Hoa đã liên tục làm chủ các vùng đảo và đá ở Biển Đông từ thời cổ đại.

Nhưng từ Đặng Tiểu Bình (cầm quyền 1982-1987) cho đến Tập Cận Bình (cầm quyền từ 2012) , qua 35 năm, lãnh đạo Trung Cộng luôn luôn tuyên truyền với Thế giới và nhắc nhở các đối tác láng giềng như Việt Nam, Phi Luật Tân, Nam Dương, Brunei, Mã Lai Á v.v… rằng các đảo và bãi đá ở Biển Đông là của Trung Quốc từ thời cổ đại.

Họ cũng bảo đó là lập trường bất di bất dịch của họ về biển đảo ở Biển Đông. Bắc Kinh cũng đã ngang ngược bác bỏ tài liệu lịch sử của Việt Nam chứng minh rằng cả hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa là do tổ tiên người Việt tìm ra và làm chủ từ ngàn xưa.

THỰC TẾ PHŨ PHÀNG

Nhưng nói là một chuyện còn có làm được hay không lại là chuyện hòan tòan tùy thuộc vào khả năng lãnh đạo của đảng CSVN và Lực lượng vũ trang.

Rất tiếc cho đến nay, lãnh đạo đảng CSVN, từ thời ông Hồ Chí Minh cho đến thời Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng (2017) vẫn không sao rửa được vết nhơ lịch sử mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chuốc về cho Việt Nam năm 1958.

Trước hết nên biết ngày ngày 4 tháng 9 năm 1958, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (Trung Cộng) đã ra Tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ và hải đảo nguyên văn như sau:

Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nay tuyên bố:
(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa (Senkaku Islands -- tranh chấp với Nhật Bản), quần đảo Tây Sa (Hòang Sa –Việt Nam), quần đảo Trung Sa (Scarborough Shoal -- tranh chấp với Phi Luật Tân), quần đảo Nam Sa (Trường Sa – Việt Nam), và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm cơ sở của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường cơ sở của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường cơ sở là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường cơ sở, kể cả vịnh Bột Hải và eo biển Quỳnh Châu, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường cơ sở, kể cả đảo Đông Dẫn, đảo Cao Đăng, các đảo Mã Tổ, các đảo Bạch Khuyển, đảo Điểu Khâu, Đại và Tiểu Kim Môn, đảo Đại Đảm, đảo Nhị Đảm, và đảo Đông Đĩnh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.
(3) Nếu không có sự cho phép của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tất cả máy bay nước ngoài và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè nước ngoài nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
(4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa), và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
Khu vực Đài Loan và Bành Hồ hiện tại vẫn bị lực lượng vũ trang Hoa Kỳ xâm chiếm. Đây là hành vi phi pháp, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đài Loan và Bành Hồ đang chờ được thu phục. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai, không cho phép nước ngoài can thiệp.”
(Tài liệu của Bách khoa toàn thư mở)

Rồi sau khi nhận được văn kiện do Chu Ân Lai gửi, ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã hớt hải đáp lễ như sau :

Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.”
Ngày 22 tháng 9 năm 1958, công hàm trên của thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được đăng trên báo "Nhân dân".

Như vậy, rõ ràng là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của miền Bắc thời đó đã nhìn nhận chủ quyền của Trung Hoa ở Biển Đông, bao gồm cà Hòang Sa và Trường Sa.

Hèn chi mà khi bị Trung Hoa đe dọa sẽ tấn công các vị trí đóng quân của Việt Nam ở Trường Sa nếu Việt Nam không ngưng đào kiếm dầu ở khu vực này thì lập tức Việt Nam tuân lệnh ngay.

Trung Hoa đã cảnh cáo Việt Nam ngày 23/07/2017 và Việt Nam đã âm thầm nói với Talisman-Việt Nam, công ty con của Repsol (Tây Ban Nha) thuê đình chỉ tìm dầu ở lô 136-03 hay Dự án Cá Rồng Đỏ, cách bờ biển Việt Nam khỏaqng 400 hải lý.

Trung Cộng gọi lô này là Van An Bắc 21 và cho một công ty khác thuê mặc dù không rõ đó là công ty nào.

Và khi được báo chí hỏi ngày 28/07/2017, người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng chỉ biết quanh co lãng nhách rằng:”Hoạt động dầu khí liên quan của Việt Nam diễn ra tại khu vực biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam được xác lập phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Việt Nam đề nghị các bên liên quan tôn trọng các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của Việt Nam và cùng nỗ lực đóng góp tích cực và thiết thực vào việc duy trì hòa bình và hợp tác ở Biển Đông.”

Như vậy thì ông Nguyễn Phú Trọng và đảng CSVN có cần phải giải thích với Quốc hội và người dân tại sao Lực lượng vũ trang của Đảng CSVN đã vô dụng và lãnh đạo thì bất tài ? -/-


Phạm Trần
(08/017)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.