Hôm nay,  

HÁ MIỆNG MẮC QUAI

04/08/201715:04:00(Xem: 7333)
_PHAM TRAN_
Phạm Trần


Việt Nam (CSVN) có Lực lượng vũ trang nhân dân, bao gồm Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân và Dân quân tự vệ với số quân phỏng định là 5,495.000 người. Nhưng lực lượng này có thể làm gì trước đe dọa tấn công của Trung Cộng, hay đã há miêng mắc quai thì cứ lờ đi cho đỡ nhục ?

Trước hết, theo Bách khoa toàn thư mở thì:”Lực lượng Quân đội bao gồm Lục quân, Hải quân, Không quân, Biên phòng, Cảnh sát biển, đặt dưới sự quản lý của Bộ Quốc phòng và chịu sự điều động của Bộ Tổng tham mưu. Lực lượng Công an bao gồm An ninh và Cảnh sát, chịu sự quản lý của Bộ Công an. Riêng lực lượng Dân quân - Tự vệ là lực lượng quản lý hỗn hợp của Bộ Quốc phòng và cơ quan hành chính địa phương.”

Tài liệu chi tiết cho thấy Việt Nam có 455,000 quân chính quy; 5.000.000 dự bị và 40,000 bán quân sự.
Về phiá Trung Cộng có 2,285.000 quân chính quy; 800,000 dự bị; 3,969.000 bán quân sự. Tổng số lực lượng võ trang là 7,054.000 người.

Vũ khí và quân trang của hai bên không được tiết lộ.

Đảng CSVN từng tự hào đã “chận đứng” 2 cuộc tấn công qua biên giới của quân đội Trung Hoa năm 1979 (17 tháng 2 – 16 tháng 3 năm 1979) và sau đó tiếp tục ngắt đọan từ Cao Bằng (1980) đến mặt trận Vỵ Xuyên, Tỉnh Hà Giang (1984-1990).

Lãnh tụ tối cao của Trung Cộng khi ấy là Đặng Tiểu Bình đã gọi cuộc tấn công là “dạy cho Việt Nam một bài học” để trả đũa Hà Nội xua quân qua Cao Miên đánh quân Khmer Đỏ, đàn em của Trung Hoa.

Không có thống kê chính thức nào được xác nhận tổn thất của đôi bên, ngoài số ước định hàng ngàn người. Riêng tổn thất của Việt Nam, kể cả thường dân, từng được loan truyền từ 40 đến 45,000 người.

Tuy nhiên, một hành động tàn sát dã man thường dân Việt Nam của Quân dội Trung Hoa trước khi rút khỏi mặt trận đã được ghi lại, đó là vụ :”Thảm sát ngày 9 tháng 3 tại thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, khi quân Trung Quốc đã dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối. Trong thời gian chuẩn bị rút quân, Trung Quốc còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình xây dựng, từ nhà dân hay cột điện, tại các thị xã thị trấn Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn.” (Tài liệu Bách khoa tòan thư mở)

Bao nhiêu mẫu đất của Việt Nam đã bị Tầu chiếm trong 2 cuộc chiến này chưa được làm rõ. Chỉ biết rằng, tại mặt trận Vỵ Xuyên (Tỉnh Hà Giang), khốc liệt nhất trong 2 cuộc chiến biên giới, thương vong của Trung Cộng được Việt Nam loan báo 7,500 quân sau 4 tháng giao tranh năm 1984, trong khi Trung Cộng chỉ thừa nhận có 939 lính và 64 dân công chết.

Trung Cộng nói họ đã loại khỏi vòng chiến 2,000 lính Việt Nam trong cùng thời gian.

Việt Nam không công bố số thương vong của mình nhưng, theo tài liệu của Bách khoa tòan thư mở thì:” Phía Việt Nam xác nhận trong cuộc giao tranh ngày 12 tháng 7 (1984), Sư đoàn 356 của họ đã có gần 600 binh sĩ thiệt mạng. Ngoài ra còn có 820 binh sĩ Việt Nam khác bị thương trong đợt xung đột này.”

Tuy nhiên Việt Nam đã để mất phần đất chiến lược quan trọng nhất của Cao điểm 1509, hay Núi Đất mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn, tại biên giới hai nước.

Sau 4 năm mặt trận Vỵ Xuyên, vào ngày 14/03/ 1988 Đặng Tiểu Bình lại xua quân đánh chiếm 3 vị trí đảo và đá của Việt Nam gồm
Đá Gạc Ma, đá Cô Lin, đá Len Đao ở Trường Sa, sau khi đã chiếm quần đảo Hòang Sa từ tay Hải quân Việt Nam Cộng hòa tháng 1/1974.

Nhưng khác với cuộc giao chiến dũng cảm ở Hòang Sa của Quân lực Việt Nam Cộng hòa khiến 74 sỹ quan và binh sỹ hy sinh, những người lính can trường của Quân đội Nhân dân đảng CSVN có nhiệm vụ bảo vệ Gạc Ma đã không được phép nổ súng chống quân xâm lược, được nói là theo lệnh của Lê Đức Anh, khi ấy là Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng.

Có 64 chiến sỹ người Việt Nam yêu nước đã phải bỏ mình trong tủi hờn ở Trường Sa mà cho đến nay, lãnh đạo đảng và quân đội CSVN vẫn chưa có một lời tạ lỗi nào.

Chẳng những thế, nhà nước CSVN còn ra lệnh cấm và đánh phá mọi nỗ lực tự phát của dân muốn tổ chức tưởng niệm 138 liệt sỹ đã hy sinh khi bảo vệ lãnh thổ Hòang-Trường Sa.

Tướng Lê Đức Anh, sau này được biết là người thân của Trung Cộng mà vẫn được lên làm Chủ tịch nước, đã bị nhiều cựu Lãnh đạo đảng viên, được gọi là “lão thành cách mạng” lên án phản quốc.

HIỆN TÌNH BIỂN ĐÔNG

Từ sau trận hải chiến Trường Sa, Trung Cộng tiếp tục lấn chiếm biển đảo của Việt Nam và tân tạo các đảo và đá này thành các căn cứ quân sự trực tiếp đe dọa Việt Nam.

Cho đến nay, tuy Trung Cộng chỉ kiểm soát 7 đảo và bãi đá, nhưng chúng là những pháo đài kiên cố, được trang bị các giàn Radar, súng phòng không, có thêm bến cảng, sân bay và trại lính cho quân đội đồn trú.

Sự bành trướng lãnh thổ và quốc phòng của Trung Cộng tại các vị trí chiến lược quan trọng này ở Biển Đông đã khiến cho tuyến giao thông hàng hải từ Thái Bình Dương qua Bắc Đại Tây Dương bị đe dọa thường xuyên.

Và mặc dù Việt Nam đang kiểm soát 21 vị trí đá, đảo ở Trường Sa, nhưng khả năng quân sự của Việt Nam không thể nào so với lính Trung Cộng được.

Hơn nữa, lính Trung Cộng đồn trú ở Gạc Ma có thể cắt đứt đường tiếp tế cho lính Việt Nam ở phí Nam Trường Sa, trong khi máy bay Trung Hoa có thể cất cánh tấn công Đà Nẵng từ đảo Chữ Thập vì khỏang cách chỉ chừng 400 cây số.

Ngoài Việt Nam, Phi Luật Tân cũng đang làm chủ 7 Bãi đá, Mã Lai Á chiếm 7 và Đài Loan làm chủ 2, trong đó có đảo Ba Bình lớn nhất trong số các đảo của Trường Sa.

Sơ lược lại những biến cố xung đột quân sự gần nhất giữa hai nước Việt-Trung và âm mưu của Bắc Kinh ở Biển Đông để thấy rằng hàng ngũ lãnh đạo Trung Hoa, từ cổ tới kim, chưa bao giờ từ bỏ tham vọng đánh chiếm Việt Nam.

Hãy lấy tỷ dụ như khi còn cầm quyền, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra chủ trương “ hãy gác tranh chấp để cùng khai thác” ở Biển Đông với các nước tranh chấp lãnh thổ với Trung Hoa.

Chủ trương của họ Đặng là muốn không đánh mà thắng vì trong thực tế, Trung Hoa chưa bao giờ chứng minh được là người Trung Hoa đã liên tục làm chủ các vùng đảo và đá ở Biển Đông từ thời cổ đại.

Nhưng từ Đặng Tiểu Bình (cầm quyền 1982-1987) cho đến Tập Cận Bình (cầm quyền từ 2012) , qua 35 năm, lãnh đạo Trung Cộng luôn luôn tuyên truyền với Thế giới và nhắc nhở các đối tác láng giềng như Việt Nam, Phi Luật Tân, Nam Dương, Brunei, Mã Lai Á v.v… rằng các đảo và bãi đá ở Biển Đông là của Trung Quốc từ thời cổ đại.

Họ cũng bảo đó là lập trường bất di bất dịch của họ về biển đảo ở Biển Đông. Bắc Kinh cũng đã ngang ngược bác bỏ tài liệu lịch sử của Việt Nam chứng minh rằng cả hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa là do tổ tiên người Việt tìm ra và làm chủ từ ngàn xưa.

THỰC TẾ PHŨ PHÀNG

Nhưng nói là một chuyện còn có làm được hay không lại là chuyện hòan tòan tùy thuộc vào khả năng lãnh đạo của đảng CSVN và Lực lượng vũ trang.

Rất tiếc cho đến nay, lãnh đạo đảng CSVN, từ thời ông Hồ Chí Minh cho đến thời Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng (2017) vẫn không sao rửa được vết nhơ lịch sử mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chuốc về cho Việt Nam năm 1958.

Trước hết nên biết ngày ngày 4 tháng 9 năm 1958, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (Trung Cộng) đã ra Tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ và hải đảo nguyên văn như sau:

Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nay tuyên bố:
(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa (Senkaku Islands -- tranh chấp với Nhật Bản), quần đảo Tây Sa (Hòang Sa –Việt Nam), quần đảo Trung Sa (Scarborough Shoal -- tranh chấp với Phi Luật Tân), quần đảo Nam Sa (Trường Sa – Việt Nam), và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm cơ sở của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường cơ sở của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường cơ sở là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường cơ sở, kể cả vịnh Bột Hải và eo biển Quỳnh Châu, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường cơ sở, kể cả đảo Đông Dẫn, đảo Cao Đăng, các đảo Mã Tổ, các đảo Bạch Khuyển, đảo Điểu Khâu, Đại và Tiểu Kim Môn, đảo Đại Đảm, đảo Nhị Đảm, và đảo Đông Đĩnh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.
(3) Nếu không có sự cho phép của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tất cả máy bay nước ngoài và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè nước ngoài nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
(4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa), và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
Khu vực Đài Loan và Bành Hồ hiện tại vẫn bị lực lượng vũ trang Hoa Kỳ xâm chiếm. Đây là hành vi phi pháp, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đài Loan và Bành Hồ đang chờ được thu phục. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai, không cho phép nước ngoài can thiệp.”
(Tài liệu của Bách khoa toàn thư mở)

Rồi sau khi nhận được văn kiện do Chu Ân Lai gửi, ông Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã hớt hải đáp lễ như sau :

Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.”
Ngày 22 tháng 9 năm 1958, công hàm trên của thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được đăng trên báo "Nhân dân".

Như vậy, rõ ràng là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của miền Bắc thời đó đã nhìn nhận chủ quyền của Trung Hoa ở Biển Đông, bao gồm cà Hòang Sa và Trường Sa.

Hèn chi mà khi bị Trung Hoa đe dọa sẽ tấn công các vị trí đóng quân của Việt Nam ở Trường Sa nếu Việt Nam không ngưng đào kiếm dầu ở khu vực này thì lập tức Việt Nam tuân lệnh ngay.

Trung Hoa đã cảnh cáo Việt Nam ngày 23/07/2017 và Việt Nam đã âm thầm nói với Talisman-Việt Nam, công ty con của Repsol (Tây Ban Nha) thuê đình chỉ tìm dầu ở lô 136-03 hay Dự án Cá Rồng Đỏ, cách bờ biển Việt Nam khỏaqng 400 hải lý.

Trung Cộng gọi lô này là Van An Bắc 21 và cho một công ty khác thuê mặc dù không rõ đó là công ty nào.

Và khi được báo chí hỏi ngày 28/07/2017, người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng chỉ biết quanh co lãng nhách rằng:”Hoạt động dầu khí liên quan của Việt Nam diễn ra tại khu vực biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam được xác lập phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Việt Nam đề nghị các bên liên quan tôn trọng các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của Việt Nam và cùng nỗ lực đóng góp tích cực và thiết thực vào việc duy trì hòa bình và hợp tác ở Biển Đông.”

Như vậy thì ông Nguyễn Phú Trọng và đảng CSVN có cần phải giải thích với Quốc hội và người dân tại sao Lực lượng vũ trang của Đảng CSVN đã vô dụng và lãnh đạo thì bất tài ? -/-


Phạm Trần
(08/017)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.