Hôm nay,  

Cầu cá

10/10/201700:00:00(Xem: 25248)
Cầu cá
TT Thành
 

Đa số vùng quê ở miền tây Nam phần thường có ao nuôi cá tra (có nơi gọi là “cá vồ”) và cầu cá sau nhà.  Cầu cá giải quyết nhiều vấn đề  cho người dân quê nhưng đối với tôi sống ở thành thị từ nhỏ nên thấy không thấy thích kiểu cầu tiêu này vậy mà tôi bị đi cầu cá hơn một năm khi bị bắt ở trại tù vượt biển Bà Bèo.  

Ao nuôi cá phải dài hơn hai mươi lăm mét, rộng phải hơn mười mét do tù đào khi lập trại.  Một dãy cầu hơn mười ngăn làm bằng cây tràm và vách ngăn che bằng lá dừa nước.  Đưòng đi vào cầu cũng kết bằng cây tràm cong queo, hai bên có gác cây tràm để người đi vịn tay bước vào cầu cho khỏi té xuống ao.  Cá tra đưọc thả dưới hồ ăn phân của tù.  Mỗi sáu tháng được vớt lên để tính vào phần ăn của tù!

Mỗi ngày tù nữ được đi vệ sinh trước.  Tù phải sắp hàng có đội trưởng dẩn đầu.  Khi ra cổng có lính gác để tới nhà cầu, tù phải đếm số,  khi trở vào cũng phải đếm.  Mỗi lần như vậy là cả chục người phải chờ đợi ra công rồi lại phải chờ tới phiên khi ra tới cầu.  Khốn khổ cho ai bị chột bụng thì đây qủa thật là một cực hình.

Sau khi ra khỏi cổng, đi bộ quanh co một hồi rối mới ra tới ao cá.  Người nào mới bị đi cầu này lần đầu sẽ ớn sợ khi phải đi qua caí cầu khỉ bằng cây tràm cong queo, cắp vá để tới nhà cầu.  Mỗi khi trời mưa trơn trợt, đi qua cây cầu này không khác gì đi trên dây trong gánh xiệc.  Đã có người tù nữ bị trợt té xuống ao cá này.  Mỗi lần có người đi, đám cá tra tranh ăn quẩy nước bắn lên người ngồi.


Chưa hết.  Khoảng gần sáu tháng thì cá được vớt lên để phát và cưỡng bức bán cho người tù!  Tù nữ và tù có thăm nuôi đời nào họ chịu ăn cái loại cá nuôi bằng kit đó.  Chỉ có tù hình sự và tù mồ côi thăm nuôi phải rán ăn.  Ngày đó cả trại bay mùi thối nồng nặc khi cá được đem ra bờ kinh làm sạch ruột.

Tôi không biết những trại tù vượt biển khác tàn ác đền mức nào nhưng đối với tôi thì trại Bà Bèo này là vô nhân nhứt đối với tù nam lẫn tù nữ.  Chẳng những người tù bị nhốt đúng hạn hay hơn mà còn phải làm nô lệ lao động để đem lại tiền thu nhập cho bọn coi trại.  Sự thù hằn ngươì vượt biển thấy rõ qua thái độ của bọn cán bộ trại.  Chúng sẵn sàng hành hạ thẳng tay để trả thù [!?] những người không muốn sống với bọn chúng.  Bọn chúng nghĩ rằng bị hành hạ tàn ác như vậy không ai còn dám đi vượt biển nữa, Chúng đã lầm to!  Có những người bị bắt khi thả ra lại đi nữa như “bắt cóc bỏ vào dĩa”.  Không thiếu gì những người vượt biển năm lần bảy lượt cho đến khi nào thoát khỏi địa ngục của bọn chúng mới thôi.

Riêng tôi cũng thấy “ớn” khi bị hành hạ khi còn trong trại nhưng sau khi được thả ra một thời gian lại túi bị lên đường để xuống ghe tiếp.
 
TT Thành, WA

Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.