Hôm nay,  

Chất đất hiếm: R.E.E.

10/10/201700:00:00(Xem: 12930)
Chất đất hiếm - REE
Thanh Trương Lacey

 
Trong tương lai, quốc gia nào làm chủ nguồn đất hiếm sẽ làm bá chủ về mặt công nghiệp kỹ thuật cao cấp trong nhiều lãnh vực.

*

Đất hiếm đang được dùng trong công nghệ có mức đòí hỏi kỹ thuật cao như pin điện cho xe hơi, các cơ phận điện tử quốc phòng và trong nhiều lảnh vực khác.    Đất hiếm được xem là “quý hơn vàng” vì có nó mới có thể chế tạo đươc những sản phẩn công nghệ cao.  Hiện nay Trung quốc có rất nhiều mỏ về đất hiếm và coi như đang ở vị thế “bá chủ hoàn cầu” về khoáng chất quý này và đang cố tình giảm lại mức xuất cảng làm ảnh hưởng rất nặng nề đế công nghệ kỷ thuật của Nhật và nhiều quốc gia tiên tiến khác.  Chúng ta thử tìm hiểu thêm về chất đất hiếm  hay R.E.E. này.                   

Chất đất hiếm, hay rare earth element, viết tắc là R.E.E., được định nghĩa là một kết hợp của 17 hoá chất , trong đó có hai chất có tên là Scandium, Yttrium và 15 chất Lanthanides.  Scandium và yttrium được xem là đất hiếm vì có nằm chung quặng mỏ với chất lanthanides và có cùng giá trị hoá học.

Dù có tên khác nhau nhưng các chất đất hiếm ( trừ chất có tính bất định cao là promethium ) thì các chất khác tương đối có nhiều trong vỏ trái đất.  Tuy nhiên vì do tính sở -hữu- điạ- chất, chúng không thể được tìm ở hình thức cô đọng và ít tốn kém.  Chính vì sự hiếm hoi của những khoáng chất này  nên chúng được gọi là “đất hiếm”.  Chất đầu tiên là gadoline được lấy ra từ một mỏ ở làng Ytterby, Thụy điển; nhiều chất khác được đặt tên lấy từ địa danh này, một số khác được lấy tên các khoa học gia đã tìm ra chúng.  Chúng được phân loại ra:

- Đất hiếm

- Kim loại đất hiếm

- Phần tử đất hiếm

- Ốc-xit đất hiếm

- Phần tử đất hiếm nhẹ

- Phần tử đất hiếm nặng.

Chất đất hiếm được thế giới biết đến từ khám phá “khoáng chất đen” tên ytterbite (được đổi thành tên là “gadolinite” năm 1800) do một sĩ quan tên Carl Axel Arrhenius vào năm 1787 tại một hầm mỏ đá ở làng Ytterby, Thụy điển.

Cho đến năm 1802, có hai chất đất hiếm nữa được tìm ra là yttrium và cerium và cả 30 năm nữa mơí tìm ra được những chất khác như ceria và ochroia.

Năm 1839, một nhà hóa học dùng nhiệt tách chất ceria và cho hoà tan vào acid nitric và gọi tên nó là dung dịch muối lanthana và ông phải mất 3 năm nữa để tách lanthana thành chất didymia và lanthana ròng.

Đến năm 1842 thì số chất đất hiếm được tìm ra là 6 chất.  Các chất đất hiếm thường được tìm ra chung với nhau.  Chúng khó tách rời ra khỏi nhau.  Hai chất tách ra được đầu tiên tìm ra ở thể tách rời là yttria ( năm 1794) và ceria (1802).  Quặng có chất cerium có ở nhiều nơi trên thế giới và hiện đang được đào xới.  Còn quạng có chất yttrium thì nhỏ và hiếm lại ít tập trung một chỗ.  Phần lớn quặng yttrium có ở miền Nam Trung quốc.  Có nơi có độ tập trung đến 65% chất yttrium oxide.  Khoáng chất eudialyte được tìm ra ở miền nam của Greenland có số lượng nhỏ nhưng có trử lượng rất cao chất yttrium.  Trong nhiều năm qua, nhiều quặng có các chất đất hiếm được tìm ra ở Brazil, Ấn độ, Úc và Nam Phi, ở Nga, California và China.


Trong những năm vừa qua, chất đất hiếm được dùng trong kỹ thuật hiện đại ngày càng gia tăng đáng kể như trong các dụng cụ kỷ thuật, kể cả dụng cụ có tính siêu-dẩn, hợp kim, máy đánh bóng điện tử, các tác nhân tinh tế và các bộ phận trong xe hơi điện (phần chính yếu là cho pin và nam châm).   Ions của đất hiếm được trong ngành nhản khoa điện tử có tên là Nd:YAG laser.  Chất Erbrium được dùng trong quang sợi trong hệ thống truyền thông.  Chất đất hiếm cũng được dùng trong bóng điện cathode cho máy tv.  Chất euphorium làm cho màu của truyền hình CRT đẹp hơn.  Yttrium được dùng trong loại microwave có dĩa quay đựng thức ăn.  Chấtđất hiếm oxides được thay thế trong việc hàn vì ít tiết ra chất độc.  Nhiều sản phẩm quôc phòng dùng các chất đất hiếm như: kính quan sát ban đêm, máy đo tầm xa, radar SPY-1 trang bị cho tàu chiến và cho hệ thống phóng ngư lôi của ngư lôi đỉnh Arleigh Burke.

Từ năm 1948, phần lớn đất hiếm trên thế giới được lấy từ Ấn và Brazil.  Trong những năm của 1950, Nam Phi chiếm điạ vị độc tôn.  Trong những năm của 1960 cho đến những năm của 1980, rặng nứi Mountain Pass ở California dẫn đầu sản xuất.  Ngày nay, Ấn và Nam Phi vẫn còn sản xuất nhưng không theo kịp China.  Hiện nay China sản xuất 97% lượng đất hiếm trên thế giới, phần lớn là ở Nội Mông cổ. Tất cả đầt hiếm nặng trên thế giới như chất dysprosium đều nằm ở China.  Năm 2011, Hội Đia chất Mỹ cho ra một tài liệu nghiên cứu là Hoa kỳ có 13 triệu thước khối  các chất đất hiếm.  Nhu cầu  mới hiện nay vượt quá mức cung, người ta e rằng thế giới sẽ sớm bị thiếu chất đất hiếm.

Vì China hạn chế xuất cảng đất hiếm nên ngươì ta đi tìm những nguồn quặng  ở Úc, Brazil, Canada, Nam Phi và tại Mỹ.  Năm 2010 Việt Nam ký hợp đồng với Nhật để cung cấp đất hiếm ở phiá tây bắc tỉnh Lai Châu.   Một phương cách để lấy được đất hiếm là từ phế chất điện tử và từ các chất phế thải có chứa chất đất hiếm.

Việc khai mỏ, lọc và tái phục hoàn chất đất hiếm nếu không được quản trị đúng cách sẽ đem lại hậu quả nghiêm trọng cho môi trường.  Các chất như thorium và uranium, cũng như các chất acids độc đều tạo ra phóng xạ.  Tuy China đã đưa ra những biện pháp đối phó nhưng những nơi khai thác lớn như ở Baotu, thuộc Nội Mông Cổ, nơị tinh luyện hầu hết chất đất hiếm cho thế giới đang bị hũy hoại trầm trọng về môi trường.

Viện dẫn  cớ này, China tuyên bố giảm đi mức sản xuất đất hiếm để tạo thành phẩm với chất  đất hiếm rồi bán ra với giá cao  thay vì bán ra nguyên liệu với giá rẽ cho các quốc gia khác.  Trong biến cố một tàu của Trung cộng bị Nhật bắt giữ hồi tháng Chín năm 2010, TC đã cấm xuất cảng chất oxides đất hiếm sang Nhật [nhưng lại không cấm xuất cảng thành phẩm tạo từ chất đất hiếm của mình!].  TC cũng đã giãm mức xuất cảng chất R.E.E. mỗi năm ở mức 40%, tương đương với 30.258 tấn./.

 
 - Thành phố cuả Bình Yên - Trung tuần tháng Hai, 2011

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhiều năm sau, mỗi năm đến ngày 30 tháng 4, nhớ lại những ngày chinh chiến trên quê hương, những trang chiến sử Bảo Quốc An Dân oai hùng của người lính quốc gia được lần lượt lật qua cùng với những đoạn đường khổ nạn của dân tộc mà đoàn quân Mũ Đỏ đã kinh qua, câu nói của vị cựu Tư lệnh "Nhảy Dù là phải như vậy" cũng là câu nói của các thế hệ người lính Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa, một đời tận trung báo quốc
Các cuộc khảo sát và nghiên cứu từ chính phủ, các tổ chức dân sự cho đến đại học đều cho thấy, dù có những bước tiến bộ to lớn cũng như được luật pháp bảo vệ, trên thực tế thì các phân biệt đối xử dựa trên sắc tộc, giới tính, tuổi tác... vẫn còn hiện hữu trong xã hội Mỹ. Riêng trong vấn đề bạo lực cảnh sát thì rủi ro một người da đen hay da màu bị cảnh sát bắn chết hay đối xử bất công đều cao hơn người da trắng.
Tỉnh thức thân phận là vấn đề kiến thức; xác định ý muốn để thay đổi là vấn đề quyết tâm. Nếu còn sống trong vô cảm, mang tâm trạng nô lệ tự nguyện hay còn Đảng còn mình và chờ đợi hạnh phúc giả tạo do Đảng, Trung Quốc, Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế ban phát, thì người dân sẽ còn tiếp tục thua trong đau khổ. Không ai có phép lạ để chuyển hoá đất nước thay cho chúng ta. Vấn đề là sự chọn lựa.
Người già nghĩ về quá khứ, còn người trẻ nghĩ đến tương lai. Người trẻ Việt Nam đã có mặt trong chính quyền, làm việc ở phủ Tổng Thống, ở Quốc Hội, là Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ, Chánh Án của liên bang, của tiểu bang, làm Tướng và giữ những chức vụ quan trọng ở Bộ Quốc Phòng. Tuổi trẻ Việt Nam là khoa học gia, là thương gia, là giáo sư đại học. Người trẻ có mặt khắp nơi, ở Mỹ, Úc, Á, Âu Châu. Người trẻ Việt Nam tiến rất nhanh.
Ở Việt Nam, người dân không hiểu tại sao công tác phòng, chống Quốc nạn tham nhũng cứ “vẫn còn nghiêm trọng và tinh vi” mãi sau 16 năm có Luật phòng, chống tham nhũng đầu tiên (2005), 3 năm sau có Luật thứ nhì (2018) và sau 9 năm (2012) Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được chuyển từ Chính phủ sang Bộ Chính trị do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Ban.
Trong chiến tranh 1954-1975 vừa qua trên đất nước chúng ta, cả Bắc Việt Nam (BVN) và Nam Việt Nam (NVN) đều không sản xuất được võ khí và đều nhờ nước ngoài viện trợ. Nước viện trợ chính cho NVN là Hoa Kỳ; và một trong hai nước viện trợ chính cho BVN là Liên Xô. Những biến chuyển từ hai nước nầy ảnh hưởng rất lớn đến tình hình chiến tranh Việt Nam.
Nói một cách tóm tắt, hiểm hoạ lớn nhất của Việt Nam không phải là chế độ độc tài trong nước hay âm mưu xâm lấn biển đảo của Trung Quốc mà là sự dửng dưng của mọi người. Chính sự dửng dưng đến vô cảm của phần lớn dân chúng là điều đáng lo nhất hiện nay.
Bà Vivien Tsou, giám đốc Diễn đàn Phụ nữ Mỹ gốc Á Thái Bình Dương, cho biết: “Mặc dù trọng tâm là sự thù ghét người gốc Á, nhưng tất cả đều bắt nguồn từ quan điểm da trắng thượng đẳng, và bất cứ ai cũng có thể trở thành “Con dê tế thần bất cứ lúc nào”.
Tổ chức Người Bảo Vệ Nhân Quyền cho biết hiện có 276 tù nhân lương tâm đang bị giam giữ tại Việt Nam. Nhà đương cuộc Hà Nội đối xử với họ ra sao? Tồ Chức Ân Xá Quốc Tế nhận định: “Các nhà tù ở Việt Nam có tiếng là quá đông và không đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu. Vietnamese jails are notoriously overcrowded and fail to meet minimum international standards.”
Nếu so sánh ta sẽ thấy các cuộc biểu tình giữa Việt Nam và ba nước kia khác nhau: ở Việt Nam, yếu tố Trung Quốc là mầm mất nước, nguyên nhân chánh làm bùng phát các cuộc biểu tình. Còn ở Miến Điện, Hồng Kông và Thái Lan, nguyên nhân thúc đẩy giới trẻ xuống đường là tinh thần dân chủ tự do, chống độc tài.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.