Hôm nay,  

Thày tôi

03/11/201712:56:00(Xem: 8646)
Thày tôi
 
Bùi Văn Phú
 

Anh em chúng tôi gọi các bậc sinh thành là “Thày u”, hai tiếng thân thương mà trong nhiều gia đình ở Nam Định, Thái Bình các con dùng để gọi cha mẹ mình.


Với tôi tiếng “thày” ngoài ý nghĩa là người cha sinh ra mình và cũng là một người dạy dỗ cho mình nên người. Tiếng “u” chứa đựng những lời ru mà con nghe được từ những ngày mới sinh ra, từ khi còn được bồng bế trên tay hay đong đưa trên võng, luôn được nghe u hát những câu ru hời.


Thày tôi qua đời ngày 22/9 và đã được chôn cất hôm 14/10/2017. Đến ngày từ giã cõi trần, thày u có tất cả 7 người con, 19 cháu và 8 chắt.


Hôm nay ngày 26/10, tôi lại nhớ đến thày mình nhiều hơn. Đó là ngày Quốc Khánh của nền Đệ Nhất Cộng hòa dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Khi còn nhỏ, mỗi năm vào dịp này tôi được thày đưa lên trung tâm Sài-Gòn để xem duyệt binh và bắn pháo bông.


Pháo bông thời đó rất đẹp vì có hình Tổng thống Ngô Đình Diệm, có hình khóm trúc xanh tỏa sáng trên nền trời tối đen. Những năm đi xem bắn pháo bông tôi không nhớ rõ mình đứng ở khúc nào trên đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi ở trung tâm thủ đô, hay ngoài Bến Bạch Đằng. Tôi chỉ nhớ là rất đông người và có một năm không biết gió thổi lạc hướng hay sao mà tàn pháo bông rớt ngay trên tóc với mùi thuốc pháo nồng nặc.


Sau đảo chánh 1/11/1963, thỉnh thoảng có những đêm phải trực tại cơ quan, thày đưa tôi vào nơi làm việc, mắc mùng cho tôi ngủ trên bàn. Thày kể cho tôi nghe những vị xếp của thày là tác giả như Đặng Trần Huân, hay người quen làng nước như Thảo Trường, Duy Hinh là những sĩ quan chỉ huy. Một số tác phẩm do những tác giả này gửi tặng thày để trên kệ sách trong nhà mà sau này tôi cũng đã được đọc.


Lúc đó tôi thích sưu tầm tem thư, có sáng thày đưa tôi qua Đài phát thanh Quân đội, gặp mấy chú bác trong ban thư tín và xin cho tôi những phong bì có dán tem gửi về đài. Mấy chú bác còn cho tôi bưu thiếp hình người em gái hậu phương Dạ Lan nữa.


Kho tàng tem thư nhiều lên vì tôi nhận được cả mấy trăm phong bì các chú bác bạn thày cho. Về nhà tôi ngâm nước, lấy tem thư phơi khô rồi đem đi đổi lấy tem mình không có ở các quầy bán tem trước bưu điện hay ở trên đường Nguyễn Huệ, đường Trần Văn Thạch bên Tân Định.


Đến nay bộ sưu tập tem thư tôi vẫn còn giữ như kỉ niệm về thày và về thời niên thiếu trên quê hương.


Kí ức mà thày đã để lại cho tôi thường ít nhiều có liên quan đến lịch sử miền Nam, như đi xem pháo bông những dịp 26/10 trước năm 1963, như những con tem thời Việt Nam Cộng hòa dán trên phong thư gửi về KBC 3168 là địa chỉ của Đài phát thanh Quân đội.


Năm tôi đi thi vào lớp đệ thất trường công lập, tôi chọn trường Chu Văn An, nhưng không đậu. Thày đạp xe chở tôi đi thi tại trung tâm Phước Đức, đâu gần Chợ Lớn. Đó là một ngôi trường nhiều tầng, còn mầu vôi vàng và kiến trúc kiểu Pháp.


Khi xảy ra Tổng Công kích Tết Mậu Thân 1968, trường này là nơi đặt bộ chỉ huy của các sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa để phản công lại những đợt tấn công của Việt Cộng vào khu vực. Tại đây phe ta đã bắn nhầm phe mình, khi hỏa tiễn từ trực thăng bắn vào trường làm thiệt mạng nhiều sĩ quan cấp tá của Thủy quân Lục chiến và Biệt Động quân, trong đó có người ở Ngã ba Ông Tạ.


Đến năm tôi đi thi tú tài I, ở trường Chi Lăng bên Gia Định, trong ba ngày, mỗi sáng thày chở tôi đi thi và chiều đón về.


Qua kì thi tú tài II thì thày không còn phải đưa tôi đi thi nữa. Tôi đã lớn và tự lo lấy được.


Thày tôi sinh ngày 3/1/1931 tại làng Hiệp Luật, tổng Bái Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Đó là ngày sinh ghi trong “giấy thế vì khai sinh” làm lại sau khi di cư vào Nam năm 1954, chứ tuổi thật của thày hơn giấy tờ hai tuổi.


Gia đình thày có 5 anh em, gồm 2 anh là Bùi Văn Thông và Bùi Văn Thịnh; 2 em gái là Bùi Thị Gương và Bùi Thị Sáng; tất cả đã mãn phần tại Việt Nam. Một bác qua đời ngoài Bắc, một bác mất trong Nam, một cô mất ở Lâm Đồng, một cô mất ở Sài-Gòn.


Thời niên thiếu, tại quê nhà ở miền Bắc Việt Nam, gia đình thày gốc họ Long Cù thuộc giáo xứ Trực Chính, nay thuộc xứ Nam Dương, Giáo phận Bùi Chu.


Đến tuổi thanh niên, thày gia nhập Bảo Chính Đoàn. Năm 1950 kết hôn với u tôi là Trần Thị Quy, người họ Chiền, cũng thuộc giáo xứ Trực Chính.


Trong thời chiến tranh Việt-Pháp thày u và gia đình đã nhiều lần phải chạy loạn hay tản cư từ quê lên tỉnh để tránh bom đạn chiến tranh. Nhiều lần đạn moóc-chê của Pháp bắn vào làng làm hư hại nhà cửa, có trái trúng nhà thờ nhưng không nổ.


Vì tham gia quân đội quốc gia, thày tôi đã bị Việt Minh bắt giam trong trại Đầm Đùn nhiều tháng.


Sau Hiệp định Genève 1954 thày u theo đoàn người lánh nạn cộng sản di cư vào Nam và định cư tại xứ Nghĩa Hòa, Ngã ba Ông Tạ, Gia Định. Gia sản mang theo tôi nhớ chỉ có chiếc thau đồng mà ngày còn nhỏ tôi hay gõ thành âm thanh của những điệu nhạc và khi có lỗ rò thày tôi tìm cách bịt lại.


Vào Nam thày tôi tiếp tục phục vụ trong quân đội qua nhiều đơn vị cho đến tháng Tư 1975, với cấp bậc sau cùng là thượng sĩ tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị.


Khi di cư vào Nam, thày u tưởng hai năm sau đất nước thống nhất thì sẽ trở lại miền Bắc với mồ mả tổ tiên. Nhưng rồi thày u đã không có cơ hội trở về quê xưa, mà sống ở miền Nam cho đến sau ngày đất nước thống nhất cũng không có cơ hội trở về.


Khi biến cố 30/4/1975 xảy ra, tôi đi theo gia đình một người anh con bác, thoát khỏi Việt Nam bằng tàu, sau đó được định cư tại vùng Vịnh San Francisco.


Ở quê nhà, thày u và gia đình trải qua cuộc đổi đời với nhiều khó khăn. Đồ đạc trong nhà, tuy chẳng có gì ngoài cái tủ gỗ cũng phải đem bán để nuôi các con. Thày đi cạo sơn ở xưởng Ba-son, u ra chợ buôn bán, các em phải bươn trải ra đời tìm kế mưu sinh.


Ở bên này, như bao người Việt khác mới đến Mỹ định cư, tôi vừa đi học vừa đi làm để có ít tiền gửi về giúp gia đình.


Trong những năm 1980, sau 30 năm sinh sống tại miền Nam, thày u và nhiều chú bác đồng hương họ Long Cù và họ Chiền đã chung nhau mua mộ phần tại Nghĩa địa Bình Hưng Hòa để lo hậu sự. Dù sống xa quê cha đất tổ miền Bắc, nhưng trong Nam các cụ vẫn muốn khi chết được gần bên nhau. Gia tộc, họ hàng đã di cư vào Nam năm 1954 coi như chấp nhận sinh Bắc, tử Nam.


Nhưng đâu ai ngờ. Vì tương lai của con, tháng 9 năm 1992 thày u tôi đưa một người con út rời Việt Nam đến Hoa Kỳ đoàn tụ gia đình và sinh sống tại thành phố San Pablo, California từ đó đến nay. Tại đây, thày u sinh hoạt với Cộng đoàn Thánh Phaolô thuộc giáo xứ Saint Paul Catholic Church.


Hôm thứ Bảy 14/10/2017 thày tôi đã được an táng tại Nghĩa trang Saint Joseph Cemetery ở thành phố San Pablo, California.


Qua bao ly loạn, cùng với buồn vui trong đời ở quê nhà cũng như nơi đất Hoa Kỳ, thày đã sinh Bắc, tử Mỹ. U tôi rồi cũng thế. Như bao nhiêu người Việt khác.


© 2017 Buivanphu

blank

H01: Thày tôi được chôn cất ngày 14/10/2017 tại Nghĩa trang Saint Joseph, ở San Pablo, California (Ảnh gia đình)


blank

H02: Thày tôi, đứng giữa, trong một lần cùng họ hàng ngoài Bắc đi thăm mồ mả tổ tiên ở xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định trong thập niên 2000 (Ảnh gia đình)

blank

H03: Những con tem Việt Nam Cộng hòa là kỉ niệm mà thày đã để lại mà tôi còn giữ cho đến hôm nay (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi không có duyên lắm với những người phụ nữ cầm bút, đặc biệt là những cô hay những bà làm thơ, kể cả Bà Huyện Thanh Quan. Vấn đề hoàn toàn chả phải vì lý do cá nhân, hay tư tiêng gì ráo. Điều không may chỉ vì tôi gặp nữ sỹ hơi quá sớm, thế thôi!
Năm Kỷ Mão (1279), sau khi tiêu diệt xong triều đại Nam Tống, nhà Nguyên chuẩn bị mở rộng cuộc xâm lăng sang các nước Đại Việt, Chiêm Thành... Lúc bấy giờ một số tàn quân và dân chúng nước Nam Tống không chịu sống dưới sự cai trị của người Mông Cổ đã theo đường biển chạy ra các nước ngoài xin tị nạn.
Uy Lĩnh xưng danh và kể lại những gian nan từ sau khi rời thành Troa. Trước tiên quân Uy Lĩnh cập bờ biển Thạch Các, tấn ông thành Ích Ma Rốt, qua ngày hôm sau bị dân Si Côn phản công dữ dội phải rút lui. Đoàn thuyền binh bị ngược gió băng qua mũi Ma Lê, sau chín ngày lênh đênh cập vào bến xứ Lô Tô Pha.
Ông Nguyễn Phi Khanh thi đỗ Nhị Giáp Tiến sĩ . Khi Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần , ông ra làm quan dưới triều Hồ Hán Thương và được bổ nhiệm chức Hàn Lâm Học sĩ .
muốn nguyện cầu thì phải làm sao, phải tạo nên phước đức rồi từ phước đức này chúng ta hồi hướng đến người thân yêu. Phước đức lớn lao là cúng dường lên Tăng Bảo trong mùa An Cư kiết hạ. Có phước thì mới chia phước cho người khác. Từ ý nghĩa này, người con Phật phát tâm cúng dường chư Tăng cầu phước trong mùa lễ Vu Lan.
Đây là số lượng thơ Nguyễn Lương Nhựt khá nhiều và hiếm đối với một bệnh nhân tâm thần phân liệt làm thơ ở Việt Nam (trường hợp nhà thơ Bùi Giáng và nhà văn Nguiễn Ngu Í thì khác: Hai vị nầy vào bệnh viện tâm thần rất ít, chỉ ở ngoài làm việc, sáng tác, rong chơi...)
cơ thể và đầu óc ông phải chịu đựng những cơn đau đớn hành hạ khốc liệt khi lên cơn, trải qua biết bao năm tháng kéo dài, từ nhẹ đến nặng, từ thuyên giảm tưởng dứt bệnh đến tái phát nặng nề, phải nằm viện tính ra hơn 6 năm trong bệnh viện tâm thần. Người thi sĩ chỉ còn một hy vọng duy nhất và mãnh liệt nhất là “làm thơ” và xem đây là liều thuốc bổ để chữa dứt bệnh tâm thần cho bản thân
Mẹ Về Biển Đông (MVBĐ) là trường ca duy nhất của Du Tử Lê, hình như cũng là trường ca duy nhất viết về mẹ trong thơ Việt Nam cho đến nay. Thực ra giữa các nhà thơ cùng thời, anh là một trong những người nhắc đến mẹ nhiều
Nếu nhìn bằng tà kiến, tức chỉ quan tâm đến cái Tôi, Cái Tôi Thích và Cái Tôi Đúng… thì sáu tỉ người trên trái đất này đều đáng ghét và là kẻ thù của chúng ta... Nếu nhìn bằng chánh kiến tức thấy Cái Tôi này vô thường và giả dối… thì sáu tỉ người trên trái đất này là bạn của ta. Phật Giáo với chánh kiến, không nhìn thấy ai là kẻ thù, mà chỉ nhìn thấy chúng sinh từ vô lượng kiếp đầy dẫy khổ đau và cần cứu độ.
Trên con đường từ Hà Nội đi Phả Lại, thân xe vặn vẹo nhiều hay ít, âm thanh cút kít phát ra lớn hay nhỏ là do diện tích và chiều sâu của từng ổ gà và chiều dài của từng đoạn đường đang được sửa chữa. Để sửa chữa, mấy bác phu làm đường gánh từng gánh đá hoặc đất rải lên mặt đường


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.