Hôm nay,  

Thày tôi

03/11/201712:56:00(Xem: 11830)
Thày tôi
 
Bùi Văn Phú
 

Anh em chúng tôi gọi các bậc sinh thành là “Thày u”, hai tiếng thân thương mà trong nhiều gia đình ở Nam Định, Thái Bình các con dùng để gọi cha mẹ mình.


Với tôi tiếng “thày” ngoài ý nghĩa là người cha sinh ra mình và cũng là một người dạy dỗ cho mình nên người. Tiếng “u” chứa đựng những lời ru mà con nghe được từ những ngày mới sinh ra, từ khi còn được bồng bế trên tay hay đong đưa trên võng, luôn được nghe u hát những câu ru hời.


Thày tôi qua đời ngày 22/9 và đã được chôn cất hôm 14/10/2017. Đến ngày từ giã cõi trần, thày u có tất cả 7 người con, 19 cháu và 8 chắt.


Hôm nay ngày 26/10, tôi lại nhớ đến thày mình nhiều hơn. Đó là ngày Quốc Khánh của nền Đệ Nhất Cộng hòa dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm. Khi còn nhỏ, mỗi năm vào dịp này tôi được thày đưa lên trung tâm Sài-Gòn để xem duyệt binh và bắn pháo bông.


Pháo bông thời đó rất đẹp vì có hình Tổng thống Ngô Đình Diệm, có hình khóm trúc xanh tỏa sáng trên nền trời tối đen. Những năm đi xem bắn pháo bông tôi không nhớ rõ mình đứng ở khúc nào trên đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi ở trung tâm thủ đô, hay ngoài Bến Bạch Đằng. Tôi chỉ nhớ là rất đông người và có một năm không biết gió thổi lạc hướng hay sao mà tàn pháo bông rớt ngay trên tóc với mùi thuốc pháo nồng nặc.


Sau đảo chánh 1/11/1963, thỉnh thoảng có những đêm phải trực tại cơ quan, thày đưa tôi vào nơi làm việc, mắc mùng cho tôi ngủ trên bàn. Thày kể cho tôi nghe những vị xếp của thày là tác giả như Đặng Trần Huân, hay người quen làng nước như Thảo Trường, Duy Hinh là những sĩ quan chỉ huy. Một số tác phẩm do những tác giả này gửi tặng thày để trên kệ sách trong nhà mà sau này tôi cũng đã được đọc.


Lúc đó tôi thích sưu tầm tem thư, có sáng thày đưa tôi qua Đài phát thanh Quân đội, gặp mấy chú bác trong ban thư tín và xin cho tôi những phong bì có dán tem gửi về đài. Mấy chú bác còn cho tôi bưu thiếp hình người em gái hậu phương Dạ Lan nữa.


Kho tàng tem thư nhiều lên vì tôi nhận được cả mấy trăm phong bì các chú bác bạn thày cho. Về nhà tôi ngâm nước, lấy tem thư phơi khô rồi đem đi đổi lấy tem mình không có ở các quầy bán tem trước bưu điện hay ở trên đường Nguyễn Huệ, đường Trần Văn Thạch bên Tân Định.


Đến nay bộ sưu tập tem thư tôi vẫn còn giữ như kỉ niệm về thày và về thời niên thiếu trên quê hương.


Kí ức mà thày đã để lại cho tôi thường ít nhiều có liên quan đến lịch sử miền Nam, như đi xem pháo bông những dịp 26/10 trước năm 1963, như những con tem thời Việt Nam Cộng hòa dán trên phong thư gửi về KBC 3168 là địa chỉ của Đài phát thanh Quân đội.


Năm tôi đi thi vào lớp đệ thất trường công lập, tôi chọn trường Chu Văn An, nhưng không đậu. Thày đạp xe chở tôi đi thi tại trung tâm Phước Đức, đâu gần Chợ Lớn. Đó là một ngôi trường nhiều tầng, còn mầu vôi vàng và kiến trúc kiểu Pháp.


Khi xảy ra Tổng Công kích Tết Mậu Thân 1968, trường này là nơi đặt bộ chỉ huy của các sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa để phản công lại những đợt tấn công của Việt Cộng vào khu vực. Tại đây phe ta đã bắn nhầm phe mình, khi hỏa tiễn từ trực thăng bắn vào trường làm thiệt mạng nhiều sĩ quan cấp tá của Thủy quân Lục chiến và Biệt Động quân, trong đó có người ở Ngã ba Ông Tạ.


Đến năm tôi đi thi tú tài I, ở trường Chi Lăng bên Gia Định, trong ba ngày, mỗi sáng thày chở tôi đi thi và chiều đón về.


Qua kì thi tú tài II thì thày không còn phải đưa tôi đi thi nữa. Tôi đã lớn và tự lo lấy được.


Thày tôi sinh ngày 3/1/1931 tại làng Hiệp Luật, tổng Bái Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Đó là ngày sinh ghi trong “giấy thế vì khai sinh” làm lại sau khi di cư vào Nam năm 1954, chứ tuổi thật của thày hơn giấy tờ hai tuổi.


Gia đình thày có 5 anh em, gồm 2 anh là Bùi Văn Thông và Bùi Văn Thịnh; 2 em gái là Bùi Thị Gương và Bùi Thị Sáng; tất cả đã mãn phần tại Việt Nam. Một bác qua đời ngoài Bắc, một bác mất trong Nam, một cô mất ở Lâm Đồng, một cô mất ở Sài-Gòn.


Thời niên thiếu, tại quê nhà ở miền Bắc Việt Nam, gia đình thày gốc họ Long Cù thuộc giáo xứ Trực Chính, nay thuộc xứ Nam Dương, Giáo phận Bùi Chu.


Đến tuổi thanh niên, thày gia nhập Bảo Chính Đoàn. Năm 1950 kết hôn với u tôi là Trần Thị Quy, người họ Chiền, cũng thuộc giáo xứ Trực Chính.


Trong thời chiến tranh Việt-Pháp thày u và gia đình đã nhiều lần phải chạy loạn hay tản cư từ quê lên tỉnh để tránh bom đạn chiến tranh. Nhiều lần đạn moóc-chê của Pháp bắn vào làng làm hư hại nhà cửa, có trái trúng nhà thờ nhưng không nổ.


Vì tham gia quân đội quốc gia, thày tôi đã bị Việt Minh bắt giam trong trại Đầm Đùn nhiều tháng.


Sau Hiệp định Genève 1954 thày u theo đoàn người lánh nạn cộng sản di cư vào Nam và định cư tại xứ Nghĩa Hòa, Ngã ba Ông Tạ, Gia Định. Gia sản mang theo tôi nhớ chỉ có chiếc thau đồng mà ngày còn nhỏ tôi hay gõ thành âm thanh của những điệu nhạc và khi có lỗ rò thày tôi tìm cách bịt lại.


Vào Nam thày tôi tiếp tục phục vụ trong quân đội qua nhiều đơn vị cho đến tháng Tư 1975, với cấp bậc sau cùng là thượng sĩ tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị.


Khi di cư vào Nam, thày u tưởng hai năm sau đất nước thống nhất thì sẽ trở lại miền Bắc với mồ mả tổ tiên. Nhưng rồi thày u đã không có cơ hội trở về quê xưa, mà sống ở miền Nam cho đến sau ngày đất nước thống nhất cũng không có cơ hội trở về.


Khi biến cố 30/4/1975 xảy ra, tôi đi theo gia đình một người anh con bác, thoát khỏi Việt Nam bằng tàu, sau đó được định cư tại vùng Vịnh San Francisco.


Ở quê nhà, thày u và gia đình trải qua cuộc đổi đời với nhiều khó khăn. Đồ đạc trong nhà, tuy chẳng có gì ngoài cái tủ gỗ cũng phải đem bán để nuôi các con. Thày đi cạo sơn ở xưởng Ba-son, u ra chợ buôn bán, các em phải bươn trải ra đời tìm kế mưu sinh.


Ở bên này, như bao người Việt khác mới đến Mỹ định cư, tôi vừa đi học vừa đi làm để có ít tiền gửi về giúp gia đình.


Trong những năm 1980, sau 30 năm sinh sống tại miền Nam, thày u và nhiều chú bác đồng hương họ Long Cù và họ Chiền đã chung nhau mua mộ phần tại Nghĩa địa Bình Hưng Hòa để lo hậu sự. Dù sống xa quê cha đất tổ miền Bắc, nhưng trong Nam các cụ vẫn muốn khi chết được gần bên nhau. Gia tộc, họ hàng đã di cư vào Nam năm 1954 coi như chấp nhận sinh Bắc, tử Nam.


Nhưng đâu ai ngờ. Vì tương lai của con, tháng 9 năm 1992 thày u tôi đưa một người con út rời Việt Nam đến Hoa Kỳ đoàn tụ gia đình và sinh sống tại thành phố San Pablo, California từ đó đến nay. Tại đây, thày u sinh hoạt với Cộng đoàn Thánh Phaolô thuộc giáo xứ Saint Paul Catholic Church.


Hôm thứ Bảy 14/10/2017 thày tôi đã được an táng tại Nghĩa trang Saint Joseph Cemetery ở thành phố San Pablo, California.


Qua bao ly loạn, cùng với buồn vui trong đời ở quê nhà cũng như nơi đất Hoa Kỳ, thày đã sinh Bắc, tử Mỹ. U tôi rồi cũng thế. Như bao nhiêu người Việt khác.


© 2017 Buivanphu

blank

H01: Thày tôi được chôn cất ngày 14/10/2017 tại Nghĩa trang Saint Joseph, ở San Pablo, California (Ảnh gia đình)


blank

H02: Thày tôi, đứng giữa, trong một lần cùng họ hàng ngoài Bắc đi thăm mồ mả tổ tiên ở xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định trong thập niên 2000 (Ảnh gia đình)

blank

H03: Những con tem Việt Nam Cộng hòa là kỉ niệm mà thày đã để lại mà tôi còn giữ cho đến hôm nay (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết với tỷ lệ 6-3 trong vụ kiện Trump rằng Đạo Luật Quyền Lực Kinh Tế Khẩn Cấp Quốc Tế (IEEPA) không cho phép tổng thống áp đặt thuế quan, vô hiệu hóa các mức thuế quan rộng khắp đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, đến Mexico và Canada, đã được chính quyền Trump ban hành nhằm chống lại nạn buôn bán fentanyl và giải quyết thâm hụt thương mại.
Khi những trang hồ sơ Epstein lần lượt phơi bày ra trước công chúng như một trận mưa giấy màu đen đầy chất độc hại, có hai người phụ nữ bước ra trong bóng tối của kẻ săn mồi. Họ hiện diện ở hai tư thế hoàn toàn khác nhau, nhưng có một điểm trùng lắp với cái tên đang là nỗi ám ảnh trong ngôi nhà quyền lực nhất ở Washington, DC. Cuộc đời của hai người phụ nữ này, trực tiếp và gián tiếp, đều liên quan đến Jeffrey Epstein, tội phạm tình dục đã bị kết án và được cho là đã tự tử trong lúc thụ án.
Trên mặt tiền trụ sở của Mussolini ở Rome, từng có một dãy chữ khổng lồ lặp đi lặp lại: “SI SI SI SI SI” – “vâng, vâng, vâng, vâng, vâng” in kín cả mấy tầng lầu. Hình ảnh ấy không phải khẩu hiệu phức tạp, cũng không phải bản cương lĩnh chính trị. Nó giống như bản tóm tắt cô đọng của một chế độ sống nhờ thói quen gật đầu: chủ nghĩa phát xít không chỉ đứng trên những mệnh lệnh, mà đứng trên những tiếng “vâng” người ta nói ra – và cả những tiếng “không” bị nuốt lại.
Thế giới đang đứng trước nguy cơ bất ổn nghiêm trọng về an ninh chiến lược khi Hiệp ước New START – thỏa thuận quốc tế được Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev ký kết năm 2010 nhằm giới hạn kho vũ khí hạt nhân của hai nước – sẽ chính thức hết hạn vào ngày 5 tháng 2 năm 2026. Theo nội dung các điều khoản của hiệp ước, mỗi bên không được triển khai quá 700 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM), tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) và oanh tạc cơ có khả năng mang vũ khí hạt nhân; tổng số đầu đạn hạt nhân không vượt quá 1.550. Ngoài ra, số bệ phóng của mỗi nước bị giới hạn ở mức 800, và hai bên được quyền tiến hành các cuộc thanh sát lẫn nhau hằng năm, dù cơ chế này đã không còn được thực thi trong những năm gần đây. Dưới thời Tổng thống Joe Biden, vào năm 2021, New START đã được gia hạn một lần duy nhất thêm 5 năm.
Trong 22 năm làm cảnh sát, Phuson Nguyễn, một cảnh sát thủ đô (MPD), sinh năm 1979, con của một vị đại tá miền Nam Việt Nam, đã đối phó với hàng ngàn cuộc biểu tình theo Tu Chính Án Thứ Nhất. Lớn, nhỏ đều có. Anh nhận lệnh đến cuộc biểu tình ngày 6/1/2021 cũng bình thường như thế, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp của người dân. Lực lượng MPD có mặt ở thủ đô từ khoảng 10 giờ sáng. Cho đến lúc đó, MPD không nhận được bất kỳ thông tin tình báo nào cho thấy sẽ có bạo lực xảy ra. Ngồi trong xe tuần tra, Phuson quan sát người qua lại trong thủ đô. Theo thời gian, ngày càng nhiều người đi về phía Điện Capitol. Nhưng cả anh và đơn vị không nghĩ gì cả, “ít nhất là tôi và đơn vị của tôi, nghĩ rằng họ chỉ đến đó để biểu tình, và bày tỏ quan điểm, sự bất đồng của họ về kết quả bầu cử, điều mà họ có quyền làm.”
Cuối năm 1988, một chiếc ghe gỗ ọp ẹp chở 110 người Việt rời bờ trong đêm, lao ra biển Đông. Ba mươi bảy ngày lênh đênh, máy chết, ghe lạc ngoài khơi xa, lương thực và nước ngọt cạn dần; hơn phân nửa người trên ghe lần lượt gục xuống, xác họ thả xuống biển cho ghe nhẹ đi mà tiếp tục cuộc hành trình. Khi ngư dân Phi Luật Tân vớt được chiếc ghe gần thị trấn Bolinao, chỉ còn 52 người bám được vào cõi sống – về sau người ta gọi họ là Bolinao 52, đưa vào trại tị nạn, rồi lần lượt từng người đi định cư ở các xứ tự do. Những người chết mất xác cũng mất luôn tên gọi.
Trong nhiều tuần qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã huy động khoảng 3.000 nhân viên thuộc Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Hoa Kỳ (ICE) đến Minneapolis, thành phố lớn nhất của bang Minnesota. Những hành động truy quét tàn bạo của ICE nhắm vào người nhập cư bất hợp pháp dẫn đến cái chết của Renee Nicole Good và Alex Pretti, hai người dân Mỹ da trắng, đã gây phẫn nộ trong dư luận và truyền thông quốc tế. Thực tế cho thấy ICE còn theo đuổi những mục tiêu chính trị rộng lớn hơn do Tổng thống Mỹ Donald Trump đề ra.
Lực Lượng Hải Quân Mỹ đang lặng lẽ thay đổi vị trí hoạt động, đúng vào thời điểm Iran, Nga và Trung Quốc đang thể hiện sự đoàn kết hải quân ngày càng tăng ở một số vùng biển căng thẳng và tranh chấp nhất trên thế giới. Theo các báo cáo khu vực, tàu sân bay USS Abraham Lincoln đã di chuyển về phía nam, định vị mình xa hơn bờ biển Iran so với trước đây.
Nếu chú ý, cú rơi tự do của tờ Washington Post gần như được báo trước từ giữa năm 2024, với nhiều tầng lý do. Thói quen độc giả thay đổi. Doanh thu quảng cáo in sụp đổ. Cạnh tranh khốc liệt từ mạng xã hội và trí khôn nhân tạo (AI). Bản thân The Post cũng chứng kiến lượng truy cập và thuê bao suy giảm, điều mà lãnh đạo viện dẫn để biện minh cho cắt giảm nhân sự. Nhưng, một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì. Một nửa sự thật thì nó là dối trá.
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.