Hôm nay,  

Lịch Sử Lá Cờ Vàng

10/04/201800:00:00(Xem: 7977)

Trần Gia Phụng

 

Chiều Thứ Ba 27-3-2018, tại Hội đồng Thành phố Toronto, 100% nghị viên hiện diện (38/38) đã bỏ phiếu chấp thuận đề nghị thượng kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tại Kỳ đài quảng trường Nathan Phillips ở City Hall Toronto ngày Thứ Bảy 28-4-2018 nhân dịp Tưởng niệm Quốc hận 30-04 từ năm nay. 

 

Đề nghị nầy do Thị trưởng John Tory cùng nghị viên Chin Lee đưa ra, đáp ứng nguyện vọng của đại đa số người Việt tỵ nạn cộng sản chẳng những ở Toronto, mà cả trên toàn Canada và trên toàn thế giới, vì lá cờ nầy là di sản tinh thần thiêng liêng và là biểu tượng của người Việt tỵ nạn cộng sản hải ngoại sau năm 1975.

 

Xin kính mời quý vị đồng hương tham dự đông đảo LỄ CHÀO CỜ VIỆT NAM CỘNG HÒA tại CITY HALL Toronto trong lễ Tưởng niệm Quốc hận vào lúc 12 giờ trưa ngày THỨ BẢY 28-4-2018.  Nhân dịp nầy, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại nguồn gốc lá cờ Việt Nam Cộng Hòa tức CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ.

 

*

 

Xin bắt đầu từ năm 1945 là cột mốc quan trọng xoay chiều lịch sử Việt Nam.  Vào năm nầy, trên thế giới, thế chiến thứ hai đi vào tàn cuộc.  Đức thất bại ở  u Châu và đầu hàng vào tháng 5-1945, trong khi Nhật vẫn còn chiến đấu ở Á Châu.

 

Riêng tại Việt Nam, Nhật Bản mở cuộc hành quân Meigo ngày 9-3-1945, đảo chánh Pháp tại Đông Dương.  Nhật tuyên bố trao trảo độc lập lại cho Việt Nam.  Vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) công bố bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ngày 11-3-1945.  Nhà vua mời học giả Trần Trọng Kim lập chính phủ.  Chính phủ Trần Trọng Kim chính thức ra mắt ngày 17-4-1945, gồm các bộ theo lối Tây phương, nhưng đặc biệt không có bộ Binh, hay bộ Quốc phòng hay bộ An ninh.

 

Một trong những việc làm đầu tiên của chính phủ Trần Trọng Kim là chọn quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ theo hình quẻ “ly”, một trong tám quẻ của bát quái.  Quẻ “ly” gồm ba sọc song song, trong đó hai sọc ngoài (ở hai bên) là hai sọc thẳng, còn sọc ở giữa cách khoảng với nhau.

 

Sau khi Hoa Kỳ thả hai quả bom nguyên tử tại Hiroshima (6-8-1945) và Nagasaki (9-8-1945), Nhật Bản đầu hàng ngày 14-8-1945.  Quân đội Nhật tại Đông Dương phải hạ khí giới và rút vào trong các đồn bót của mình để chờ quân đội Đồng minh đến giải giới. 

 

Trong khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ Binh hay bộ Quốc phòng để giữ gìn trật tự an ninh.  Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh (VM), lúc đó gồm khoảng 5,000 đảng viên, (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris Éditions du Seuil, 1952, tr. 182) liền lợi dụng cơ hội thuận tiện, nổi lên cướp chính quyền ở Hà Nội và đánh điện yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị.

 

Vua Bảo Đại được đại sứ Nhật ở Huế hứa giúp đỡ, dùng lực lượng Nhật còn lại ở Đông Dương, để dẹp tan VM, nhưng lo ngại nội chiến xảy ra, người ngoài sẽ lợi dụng, nên nhà vua không chấp nhận đề nghị của đại sứ Nhật, mà đồng ý thoái vị ngày 25-8-1945. 

 

Lúc đó vua Bảo Đại cũng như đa số dân chúng Việt Nam chưa biết Hồ Chí Minh là cộng sản, và nếu có biết, cũng chưa hiểu bản chất của đảng Cộng Sản.  Hồ Chí Minh ra mắt chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945, gồm đa số là đảng viên cộng sản.  Chính phủ nầy chọn Cờ đỏ sao vàng là cờ của mặt trận Việt Minh làm quốc kỳ.

 

Khi nắm được quyền lực, Hồ Chí Minh, Mặt trận VM và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) gia tăng việc khủng bố, giết hại, thủ tiêu hàng trăm ngàn người không đồng chính kiến ở tất cả các cấp, từ trung ương xuống tới địa phương, làng xã trên toàn cõi Việt Nam.  Làm như thế, Việt Minh gọi là giết tiềm lực, nghĩa là giết tất cả những thành phần có tiềm năng gây nguy hiểm cho Việt Minh về sau.

 

Trong khi đó, thi hành tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945, Trung Hoa và Anh dẫn quân vào giải giới quân đội Nhật ở Đông Dương.  Trung Hoa (lúc đó do Quốc Dân Đảng cầm quyền) giải giới ở phía bắc vĩ tuyến 16 và Anh giải giới ở nam vĩ tuyến 16 (ngang Tam Kỳ, Quảng Nam).

 

Khi quân Trung Hoa vào Việt Nam, các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) lâu nay ở Trung Hoa, cũng về theo.  Tại miền Nam, khi quân Anh đến Sài Gòn, quân Pháp cũng đi theo, tái chiếm miền Nam và kiếm cách tiến quân ra Bắc. 

 

Lúc đó, Hồ Chí Minh và VM rất bối rối, vì phải đối phó với nhiều thế lực cùng một lúc:  Quân Pháp, quân Trung Hoa (Quốc Dân Đảng), Việt Quốc, Việt Cách.  Hồ Chí Minh nhượng bộ, tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương ngày 11-11-1945 (thực tế là lui vào hoạt động bí mật), thành lập chính phủ Liên hiệp ngày 1-1-1946, tổ chức tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt Nam ngày 6-1-1946, tức giả vờ hòa giải hòa hợp nhằm yên lòng những đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc.

 

Mặt khác, để rảnh tay đối phó với tất cả những thành phần đối lập không cộng sản ở trong nước, Hồ Chí Minh và VM liền ký thỏa ước Sơ bộ ngày 6-3-1946 với Pháp, chính thức hợp thức hóa sự hiện diện quân đội Pháp ở Việt Nam.

 

Không thể để bị tiêu diệt mãi, vì nhu cầu sinh tồn, những người theo khuynh hướng chính trị dân tộc không cộng sản quy tụ chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, và chẳng đặng đừng tạm thời liên kết với Pháp chống lại VM cộng sản.  Năm 1948, đại diện ba miền đất nước cùng về Sài Gòn thành lập Chính phủ Lâm thời Trung ương Việt Nam ngày 23-5-1948 do ông Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng. Chính phủ chính thức ra mắt ngày 1-6-1948.

 

Khi đó có năm mẩu cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ, gồm có ba lá cờ do uỷ ban đại diện ba miền Bắc, Trung và Nam phần đưa ra, và hai lá cờ do đại diện Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài đề nghị.  Cuối cùng lá cờ do đại diện miền Nam đề nghị được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại đơn giản, không phức tạp.

 

Ngày 2-6-1948, thủ tướng Xuân công bố lá quốc kỳ mới hình chữ nhật, chiều ngang bằng hai phần ba chiều dài, nền vàng giống như cờ của Trần Trọng Kim, nhưng thay vì quẻ ly, nay đổi lại ba sọc đỏ bằng nhau và cách đều nhau chạy dài theo chiều ngang của lá cờ. 

 

Ý nghĩa thứ nhất là ba sọc ngang của lá cờ tượng trưng cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ Bắc, Trung, và Nam phần của đất nước, trên nền vàng tượng trưng nền tảng của quốc gia Việt Nam.  Nếu lá cờ năm 1945 của Trần Trọng Kim thừa tiếp lá cờ long tinh có từ thời vua Khải Định (trị vì 1916-1925), thì lá cờ hình thành năm 1948 lại thừa tiếp truyền thống lá cờ của Trần Trọng Kim, về hình thức, màu sắc, và cả về lý tưởng chính trị, đó là lý tưởng quốc gia, đối nghịch hẳn với cờ đỏ sao vàng của Hồ Chí Minh. 

 

Ý nghĩa thứ hai, lá cờ nầy tượng trưng cho khuynh hướng chính trị mới lúc đó (1948) ở khắp Bắc, Trung và Nam Việt Nam.  Đó là khuynh hướng chính trị dân tộc độc lập, chống lại sự đô hộ của Pháp, nhưng ở thế chẳng đặng đừng phải liên kết với Pháp, để chống Việt Minh cộng sản.  Việt Minh cộng sản nguy hiểm trực tiếp hơn là thực dân Pháp.  Khuynh hướng nầy càng rõ nét khi cựu hoàng Bảo Đại ký hiệp định Élysée ngày 8-3-1949 với tổng thống Pháp là Vincent Auriol, thành lập chính thể Quốc Gia Việt Nam do ông làm quốc trưởng.  Hiệp định Élysée chính thức giải kết hiệp ước bảo hộ năm 1884 và trao trả độc lập lại cho Việt Nam.

 

Ý nghĩa thứ ba là tính tự do dân chủ của chính thể mà lá cờ tượng trưng.  Ngay từ đầu, chính phủ Nguyễn Văn Xuân đã trưng cầu ý dân về hình thức lá cờ.  Khi đó có năm mẩu cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ (đã viết ở trên).  Sau đó, đại diện dân chúng tự do chọn lựa một trong các mẩu vẽ, chứ không phải là lấy lá cờ của một tập đoàn thiểu số rồi áp đặt trên ý dân như cờ đỏ của cộng sản. Cuối cùng lá cờ do đại diện miền Nam đề nghị được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại không phức tạp.

 

Vận mệnh của CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ thăng trầm theo vận mệnh của đất nước.  Sau chính phủ Lâm thời Trung ương Việt Nam do ông Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng, chính phủ Quốc Gia Việt Nam tiếp tục chọn lá Cờ vàng Ba sọc đỏ làm quốc kỳ.  Lá Cờ vàng tung bay trên toàn lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam, từ Nam Quan xuống tới Ca Mau.

 

Khi Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh ngày 7-7-1954, nước Việt Nam bị chia hai do hiệp định Genève ngày 20-7-1954.  Thủ tướng Ngô Đình Diệm ổn định tình hình miền Nam Việt Nam, tổ chức trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, thiết lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa do ông làm tổng thống. 

 

Quốc hội lập hiến được bầu ngày 4-3-1956.  Trong khi xây dựng hiến pháp, quốc hội cũng đã bàn chuyện tuyển chọn quốc kỳ và quốc ca, nhưng chưa có mẩu vẽ quốc kỳ mới nào ưng ý hơn, nên ngày 31-7-1956, Quốc hội ra quyết nghị hoãn bàn, và vẫn giữ quốc kỳ như cũ. (Đoàn Thêm, 1945-1964 Việc từng ngày, California: Xuân Thu tái bản không đề năm, tr. 200.)

 

Sau đó Quốc hội mở cuộc thi vẽ quốc kỳ mới trên toàn miền Nam.  Có tất cả 350 mẩu cờ và 50 bài nhạc được đề nghị.  Ngày 17-10-1956, Quốc hội lập hiến một lần nữa ra tuyên bố không chọn được mẩu quốc kỳ và bài hát  nào hay đẹp và ý nghĩa hơn, nên quyết định giữ nguyên màu cờ và quốc ca cũ làm biểu tượng quốc gia. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 203.)  

 

Như thế, LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ đã được chọn lựa qua nhiều đề nghị, nhiều thảo luận, nhiều ý kiến, nhiều thử thách, chứng tỏ lá cờ nầy mang đầy đủ ý nghĩa nhất để tượng trưng cho chế độ tự do dân chủ trên quê hương của chúng ta.

 

Năm 1975, sau khi cộng sản tạm thời cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa, nhiều người bỏ nước ra đi.  Những người may mắn đến được bế bờ tự do, xây dựng cuộc sống mới. Họ mang theo trong tim mình toàn bộ hình ảnh quê hương, gia đình, bạn bè, và đặc biệt hình ảnh tượng trưng cho chế độ dân chủ tự do, dù chế độ đó chưa được hoàn thiện: đó là LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ của Quốc Gia Việt Nam, rồi sau đó của Việt Nam Cộng Hòa.

 

Khi ra nước ngoài, người Việt tiếp tục giữ gìn biểu tượng thiêng liêng của tổ quốc.  Trong tất cả các buổi sinh hoạt đều có lễ chào cờ địa phương và chào Cờ vàng Ba sọc đỏ.  Từ đó Cờ vàng Ba sọc đỏ trở thành biểu tượng của người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại.  Rõ nét nhất là mỗi lần sinh hoạt cộng đồng hay hội họp ở đâu, Ban tổ chức chỉ cần treo một lá cờ VÀNG BA SỌC ĐỎ là người Việt biết địa điểm và tìm đến tham dự.

 

Cộng đồng người Việt dần dần lớn mạnh và tạo thành một thế lực cử tri quan trọng.  Nhiều tiểu bang, nhiều thành phố ở Hoa Kỳ chính thức thừa nhận LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ là BIỂU TƯỢNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN.

 

Hiện nay, ở hải ngoại, lá cờ của nhà nước cộng sản Việt Nam chỉ được treo tại các tòa đại sứ và các tòa lãnh sự của cộng sản mà thôi.  Ở bên ngoài các cơ sở ngoại giao cộng sản, hoàn toàn không có bóng dáng lá cờ cộng sản. 

 

Trong khi đó, CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ, tuy tạm thời không còn chính phủ, lại tung bay rợp trời ở khắp nơi trên thế giới, vòng quanh quả đất.  Dầu phải bôn ba khắp bốn phương trời và không bị ai thúc đẩy hay bắt buộc, đâu đâu người Việt Nam ở hải ngoại cũng tự động giương cao LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ.  Hành động tự động đồng bộ của người Việt khắp trên thế giới chứng tỏ LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ là lá cờ của lòng người, sáng ngời CHÍNH NGHĨA, đời đời bất diệt.

 

Xin kính mời đồng hương Toronto và vùng phụ cần đến tham dự đông đảo lễ chào cờ Việt Nam Cộng Hòa vào lúc 12 giờ trưa Thứ Bảy 28-4-2018 tại CITY HALL Toronto trong buổi Tưởng niệm Quốc hận năm nay.

 

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 11-4-2018)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ôi, tưởng gì chớ cái “tác phong chưng dép” thì bác vẫn “thao tác” đều đều – vô cùng thành thạo – ở khắp cả mọi nơi: Khi Bác tới thăm 1 ngôi đền lớn và cổ kính của Ấn Độ thì có một chuyện lạ xảy ra. Lúc Bác bước vào trong đền, để lại đôi dép bên ngoài thì bất ngờ có hàng trăm phóng viên báo chí, nhiếp ảnh, quay phim ập đến vây kín đôi dép cao su của Bác… (“Trăm phóng viên nước ngoài vây kín đôi dép của Bác” – Tin Ngắn, 19/05/2013). Ngoài đôi dép, đôi môi của Bác cũng được bạn bè thế giới đặc biệt quan tâm và (vô cùng) quan ngại – theo như bản tường thuật của The Straits Times, số ra ngày 8 tháng 3 năm 1959: “Chủ tịch Hồ Chí Minh của Bắc Việt, 68 tuổi, đã bị bảo một cách thẳng thừng rằng phải ngưng việc hôn hít các em gái Indonesia và tôn trọng những điều dạy của Hồi giáo.”
“Cái nền dân trí luôn là mảnh đất cho hận thù, ngờ vực và chia rẽ” nếu chỉ giới hạn trong lãnh thổ VN thì có thể tìm ngay ra thủ phạm: Chủ Nghĩa Toàn Trị và học thuyết Marx – Lenin! Vấn đề là không ít người Việt đang sống ở nước ngoài, chả có liên quan (hay ảnh hưởng chi nhiều) với cái chế độ thổ tả hiện hành mà vẫn sẵn sàng chửi nhau, hủy bạn bè vì những chuyện nhỏ (như con thỏ) như thường. Vì cái nước mình nó thế nên dân mình không thể khác được chăng?
Bến Ninh Kiều, Cần Thơ đã ghi lại trong tôi biết bao là kỷ niệm vui buồn từ khi tôi mới bắt đầu xuống dạy tại Viện Đại Học Cần Thơ năm 1967 … Chính tại nơi đây, năm 1978, cũng vì khát khao hai chữ tự do, nên tôi đã liều mạng lôi cả gia đình xuống “cá nhỏ” để ra “cá lớn” đậu ngoài khơi vàm, không mấy xa chợ Cần Thơ. Nhưng than ôi, khi leo qua cá lớn thì bị dưa luôn về Chấp Pháp, trên đường vô Cái Răng. Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa “ấm ớ hội tề” là “thái độ không dứt khoát”. Đem nghĩa này gắn vào những tuyên bố của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng liên quan đến công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội đảng XIII, dự kiến diễn ra trong tháng 01 năm 2021, thì sẽ thấy vẫn chỉ là chuyện nói nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu, hay chỉ nhằm tung hòa mù để hù họa nhau.
Báo chí trong nước hôm 12/5/2020 đưa tin Bộ Công an cho hay dự luật biểu tình chưa thể được trình lên Quốc hội vì "cần phải được nghiên cứu kỹ, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng". 45 năm qua dường như đảng Cộng sản Việt Nam chưa có được một ngày hòa bình, trong tâm trí họ xung quanh lúc nào cũng có những "thế lực thù địch" đe dọa sự tồn vong của thể chế. Câu chuyện "hòa hợp hòa giải dân tộc" đã được nói đến ngay từ khi Chiến tranh kết thúc năm 1975, nhưng đến nay nhà cầm quyền vẫn đề cao lịch sử của “bên thắng cuộc” và tiếp tục coi mọi tiếng nói khác biệt là thù địch.
Từ Bangkok, FB Trần Quang Đô hớn hở cho hay: “Ngân hàng hôm nay 5/5 đông kín người. Thiên hạ xếp hàng nhận 5000 baht, tương đương 250 đô la Úc, tiền hổ trợ người dân trong dịch Cúm Vũ Hán. Điện nước thì miễn phí trong ba tháng cho dân lao động.” Tôi cũng hay lui tới Thái Lan nên hoàn toàn không ngạc nhiên gì về chuyện này. Tuy mang tiếng là “quân phiệt” nhưng bọn tướng lãnh ở nước này “yếu xìu” hà, và hay “mị dân” bằng tiền lắm: tiền trợ cấp cho những người khuyết tật, tiền giúp đỡ cho kẻ neo đơn, hay ông già/bà lão … Họ tạo cho dân chúng Thái cái tâm lý ỷ lại, và hèn yếu. Bởi vậy dân Thái chưa bao giờ đánh thắng được một đế quốc to nào cả, đế quốc cỡ trung bình, hoặc nhỏ (xíu) cũng khỏi có dám luôn.
Thương thay tấm lòng người mẹ suốt 13 năm kiên trì kêu oan cho con. Tiếng kêu thấu trời xanh mà không thấu những “hình người, dạ thú”. Ngày 8 tháng 5 năm 2020, phiên tòa của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao (TANDTC) tại Việt Nam, đã biểu quyết 100% đồng thuận của 17 ông thẩm phán, y án tử hình đối với bị cáo Hồ Duy Hải bằng cách giơ tay, trước ông xếp của họ là Chánh Án Nguyễn Hòa Bình! (Ai dám không giơ tay!) Đây là Phiên Tòa Nội Bộ, vì Luật Sư của bị cáo tuy được gọi vào nhưng khi chưa chính thức thảo luận gì thì đã được mời ra!
Trong những hình ảnh cuối tháng Tư 1975, tôi thấy nhiều bộ đội cụ Hồ đội nón cối hoặc nón tai bèo, mặc bộ quần áo lếch thếch, ngồi chồm hổm trên thảm cỏ hoặc trên thành mấy hồ nước trước dinh Độc Lập; nhóm bộ đội khác vóc nước từ hồ nước bằng hai bàn tay xương xẩu, đưa lên miệng uống rồi vóc thêm nước, rửa mặt; nhóm bộ đội khác nữa thì cởi đôi dép râu, thọc đôi chân còi cọc và dơ bẩn vào hồ nước để rửa chân? Nhiều hình chụp các anh bộ đội cụ Hồ trông rất “hồ hởi”, tay xách con gà, con vịt, trên vai gánh hai cái rương nhỏ, lưng mang ba lô, bên trên kèm theo một búp bê bằng nhựa. Tôi cũng thấy hình từng đoàn xe tải chở tủ lạnh/ TV/radio/bàn ghế/giường/tủ/xe gắng máy, v.v… – những hiện vật của miền Nam vừa được bộ đội cụ Hồ “giải phóng” – ồ ạc và liên tục chạy về Bắc
Do tham vọng quyền lực, do chủ trương bành trướng chủ nghĩa cộng sản và do làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tức Bắc Việt Nam công khai họp đại hội tuyên bố mở cuộc chiến, xân lăng Việt Nam Cộng Hòa tức Nam Việt Nam dưới chiêu bài thống nhứt đất nước và chống Mỹ cứu nước, trong khi Lê Duẩn chủ trương: “Ta đánh Mỹ là đánh cho cả Trung Quốc, cho Liên Xô”. (Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng nhà nước cộng sản Việt Nam từ 1991-2000, trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 24-1-2013.) Một nhân vật tầm cỡ ngoại trưởng như ông Nguyễn Mạnh Cầm xác nhận công khai như thế thì không sai vào đâu được.
Khi chính quyền Hoa Kỳ tung gói cứu cấp khổng lồ trị giá 3 ngàn tỷ USD thì không khỏi tránh bị lạm dụng. Theo một ước tính con số thất thoát có thể lên đến 20% (tức là 600 tỷ USD) do thiếu kiểm soát khi tiền tung ra quá nhanh hòng chận đứng đà suy thoái của nền kinh tế do ôn dịch Vũ Hán gây ra. Ngoài việc khai man hoặc luồn lách kẽ hở luật pháp để lãnh cứu trợ còn một vấn đề được nêu lên là một khi nhà nước nhúng tay can thiệp vào thị trường tự do tất sẽ tạo ra tiền lệ xấu dẫn đến nhiều rủi ro đạo đức (moral hazard) trong kinh doanh. Lẽ phải trên thương trường tức làm ăn gian dối hay cẩu thả phải chấp nhận sớm muộn bị đào thải; nhưng nếu doanh nghiệp ỷ lại được chính quyền bảo kê thì sẽ không thay đổi thói hư tật xấu mà tiếp tục liều lĩnh đi tìm lợi lộc, hay nói nôm na cũng giống như con hư tại mẹ cháu hư tại bà!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.