Hôm nay,  

Lịch Sử Lá Cờ Vàng

10/04/201800:00:00(Xem: 6892)

Trần Gia Phụng

 

Chiều Thứ Ba 27-3-2018, tại Hội đồng Thành phố Toronto, 100% nghị viên hiện diện (38/38) đã bỏ phiếu chấp thuận đề nghị thượng kỳ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tại Kỳ đài quảng trường Nathan Phillips ở City Hall Toronto ngày Thứ Bảy 28-4-2018 nhân dịp Tưởng niệm Quốc hận 30-04 từ năm nay. 

 

Đề nghị nầy do Thị trưởng John Tory cùng nghị viên Chin Lee đưa ra, đáp ứng nguyện vọng của đại đa số người Việt tỵ nạn cộng sản chẳng những ở Toronto, mà cả trên toàn Canada và trên toàn thế giới, vì lá cờ nầy là di sản tinh thần thiêng liêng và là biểu tượng của người Việt tỵ nạn cộng sản hải ngoại sau năm 1975.

 

Xin kính mời quý vị đồng hương tham dự đông đảo LỄ CHÀO CỜ VIỆT NAM CỘNG HÒA tại CITY HALL Toronto trong lễ Tưởng niệm Quốc hận vào lúc 12 giờ trưa ngày THỨ BẢY 28-4-2018.  Nhân dịp nầy, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại nguồn gốc lá cờ Việt Nam Cộng Hòa tức CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ.

 

*

 

Xin bắt đầu từ năm 1945 là cột mốc quan trọng xoay chiều lịch sử Việt Nam.  Vào năm nầy, trên thế giới, thế chiến thứ hai đi vào tàn cuộc.  Đức thất bại ở  u Châu và đầu hàng vào tháng 5-1945, trong khi Nhật vẫn còn chiến đấu ở Á Châu.

 

Riêng tại Việt Nam, Nhật Bản mở cuộc hành quân Meigo ngày 9-3-1945, đảo chánh Pháp tại Đông Dương.  Nhật tuyên bố trao trảo độc lập lại cho Việt Nam.  Vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) công bố bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ngày 11-3-1945.  Nhà vua mời học giả Trần Trọng Kim lập chính phủ.  Chính phủ Trần Trọng Kim chính thức ra mắt ngày 17-4-1945, gồm các bộ theo lối Tây phương, nhưng đặc biệt không có bộ Binh, hay bộ Quốc phòng hay bộ An ninh.

 

Một trong những việc làm đầu tiên của chính phủ Trần Trọng Kim là chọn quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ theo hình quẻ “ly”, một trong tám quẻ của bát quái.  Quẻ “ly” gồm ba sọc song song, trong đó hai sọc ngoài (ở hai bên) là hai sọc thẳng, còn sọc ở giữa cách khoảng với nhau.

 

Sau khi Hoa Kỳ thả hai quả bom nguyên tử tại Hiroshima (6-8-1945) và Nagasaki (9-8-1945), Nhật Bản đầu hàng ngày 14-8-1945.  Quân đội Nhật tại Đông Dương phải hạ khí giới và rút vào trong các đồn bót của mình để chờ quân đội Đồng minh đến giải giới. 

 

Trong khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ Binh hay bộ Quốc phòng để giữ gìn trật tự an ninh.  Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh (VM), lúc đó gồm khoảng 5,000 đảng viên, (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris Éditions du Seuil, 1952, tr. 182) liền lợi dụng cơ hội thuận tiện, nổi lên cướp chính quyền ở Hà Nội và đánh điện yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị.

 

Vua Bảo Đại được đại sứ Nhật ở Huế hứa giúp đỡ, dùng lực lượng Nhật còn lại ở Đông Dương, để dẹp tan VM, nhưng lo ngại nội chiến xảy ra, người ngoài sẽ lợi dụng, nên nhà vua không chấp nhận đề nghị của đại sứ Nhật, mà đồng ý thoái vị ngày 25-8-1945. 

 

Lúc đó vua Bảo Đại cũng như đa số dân chúng Việt Nam chưa biết Hồ Chí Minh là cộng sản, và nếu có biết, cũng chưa hiểu bản chất của đảng Cộng Sản.  Hồ Chí Minh ra mắt chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945, gồm đa số là đảng viên cộng sản.  Chính phủ nầy chọn Cờ đỏ sao vàng là cờ của mặt trận Việt Minh làm quốc kỳ.

 

Khi nắm được quyền lực, Hồ Chí Minh, Mặt trận VM và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) gia tăng việc khủng bố, giết hại, thủ tiêu hàng trăm ngàn người không đồng chính kiến ở tất cả các cấp, từ trung ương xuống tới địa phương, làng xã trên toàn cõi Việt Nam.  Làm như thế, Việt Minh gọi là giết tiềm lực, nghĩa là giết tất cả những thành phần có tiềm năng gây nguy hiểm cho Việt Minh về sau.

 

Trong khi đó, thi hành tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945, Trung Hoa và Anh dẫn quân vào giải giới quân đội Nhật ở Đông Dương.  Trung Hoa (lúc đó do Quốc Dân Đảng cầm quyền) giải giới ở phía bắc vĩ tuyến 16 và Anh giải giới ở nam vĩ tuyến 16 (ngang Tam Kỳ, Quảng Nam).

 

Khi quân Trung Hoa vào Việt Nam, các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) lâu nay ở Trung Hoa, cũng về theo.  Tại miền Nam, khi quân Anh đến Sài Gòn, quân Pháp cũng đi theo, tái chiếm miền Nam và kiếm cách tiến quân ra Bắc. 

 

Lúc đó, Hồ Chí Minh và VM rất bối rối, vì phải đối phó với nhiều thế lực cùng một lúc:  Quân Pháp, quân Trung Hoa (Quốc Dân Đảng), Việt Quốc, Việt Cách.  Hồ Chí Minh nhượng bộ, tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản Đông Dương ngày 11-11-1945 (thực tế là lui vào hoạt động bí mật), thành lập chính phủ Liên hiệp ngày 1-1-1946, tổ chức tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt Nam ngày 6-1-1946, tức giả vờ hòa giải hòa hợp nhằm yên lòng những đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc.

 

Mặt khác, để rảnh tay đối phó với tất cả những thành phần đối lập không cộng sản ở trong nước, Hồ Chí Minh và VM liền ký thỏa ước Sơ bộ ngày 6-3-1946 với Pháp, chính thức hợp thức hóa sự hiện diện quân đội Pháp ở Việt Nam.

 

Không thể để bị tiêu diệt mãi, vì nhu cầu sinh tồn, những người theo khuynh hướng chính trị dân tộc không cộng sản quy tụ chung quanh cựu hoàng Bảo Đại, và chẳng đặng đừng tạm thời liên kết với Pháp chống lại VM cộng sản.  Năm 1948, đại diện ba miền đất nước cùng về Sài Gòn thành lập Chính phủ Lâm thời Trung ương Việt Nam ngày 23-5-1948 do ông Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng. Chính phủ chính thức ra mắt ngày 1-6-1948.

 

Khi đó có năm mẩu cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ, gồm có ba lá cờ do uỷ ban đại diện ba miền Bắc, Trung và Nam phần đưa ra, và hai lá cờ do đại diện Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài đề nghị.  Cuối cùng lá cờ do đại diện miền Nam đề nghị được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại đơn giản, không phức tạp.

 

Ngày 2-6-1948, thủ tướng Xuân công bố lá quốc kỳ mới hình chữ nhật, chiều ngang bằng hai phần ba chiều dài, nền vàng giống như cờ của Trần Trọng Kim, nhưng thay vì quẻ ly, nay đổi lại ba sọc đỏ bằng nhau và cách đều nhau chạy dài theo chiều ngang của lá cờ. 

 

Ý nghĩa thứ nhất là ba sọc ngang của lá cờ tượng trưng cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ Bắc, Trung, và Nam phần của đất nước, trên nền vàng tượng trưng nền tảng của quốc gia Việt Nam.  Nếu lá cờ năm 1945 của Trần Trọng Kim thừa tiếp lá cờ long tinh có từ thời vua Khải Định (trị vì 1916-1925), thì lá cờ hình thành năm 1948 lại thừa tiếp truyền thống lá cờ của Trần Trọng Kim, về hình thức, màu sắc, và cả về lý tưởng chính trị, đó là lý tưởng quốc gia, đối nghịch hẳn với cờ đỏ sao vàng của Hồ Chí Minh. 

 

Ý nghĩa thứ hai, lá cờ nầy tượng trưng cho khuynh hướng chính trị mới lúc đó (1948) ở khắp Bắc, Trung và Nam Việt Nam.  Đó là khuynh hướng chính trị dân tộc độc lập, chống lại sự đô hộ của Pháp, nhưng ở thế chẳng đặng đừng phải liên kết với Pháp, để chống Việt Minh cộng sản.  Việt Minh cộng sản nguy hiểm trực tiếp hơn là thực dân Pháp.  Khuynh hướng nầy càng rõ nét khi cựu hoàng Bảo Đại ký hiệp định Élysée ngày 8-3-1949 với tổng thống Pháp là Vincent Auriol, thành lập chính thể Quốc Gia Việt Nam do ông làm quốc trưởng.  Hiệp định Élysée chính thức giải kết hiệp ước bảo hộ năm 1884 và trao trả độc lập lại cho Việt Nam.

 

Ý nghĩa thứ ba là tính tự do dân chủ của chính thể mà lá cờ tượng trưng.  Ngay từ đầu, chính phủ Nguyễn Văn Xuân đã trưng cầu ý dân về hình thức lá cờ.  Khi đó có năm mẩu cờ được đề nghị để chọn làm quốc kỳ (đã viết ở trên).  Sau đó, đại diện dân chúng tự do chọn lựa một trong các mẩu vẽ, chứ không phải là lấy lá cờ của một tập đoàn thiểu số rồi áp đặt trên ý dân như cờ đỏ của cộng sản. Cuối cùng lá cờ do đại diện miền Nam đề nghị được chấp thuận vì có ý nghĩa nhất, lại không phức tạp.

 

Vận mệnh của CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ thăng trầm theo vận mệnh của đất nước.  Sau chính phủ Lâm thời Trung ương Việt Nam do ông Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng, chính phủ Quốc Gia Việt Nam tiếp tục chọn lá Cờ vàng Ba sọc đỏ làm quốc kỳ.  Lá Cờ vàng tung bay trên toàn lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam, từ Nam Quan xuống tới Ca Mau.

 

Khi Ngô Đình Diệm về nước chấp chánh ngày 7-7-1954, nước Việt Nam bị chia hai do hiệp định Genève ngày 20-7-1954.  Thủ tướng Ngô Đình Diệm ổn định tình hình miền Nam Việt Nam, tổ chức trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, thiết lập chế độ Việt Nam Cộng Hòa do ông làm tổng thống. 

 

Quốc hội lập hiến được bầu ngày 4-3-1956.  Trong khi xây dựng hiến pháp, quốc hội cũng đã bàn chuyện tuyển chọn quốc kỳ và quốc ca, nhưng chưa có mẩu vẽ quốc kỳ mới nào ưng ý hơn, nên ngày 31-7-1956, Quốc hội ra quyết nghị hoãn bàn, và vẫn giữ quốc kỳ như cũ. (Đoàn Thêm, 1945-1964 Việc từng ngày, California: Xuân Thu tái bản không đề năm, tr. 200.)

 

Sau đó Quốc hội mở cuộc thi vẽ quốc kỳ mới trên toàn miền Nam.  Có tất cả 350 mẩu cờ và 50 bài nhạc được đề nghị.  Ngày 17-10-1956, Quốc hội lập hiến một lần nữa ra tuyên bố không chọn được mẩu quốc kỳ và bài hát  nào hay đẹp và ý nghĩa hơn, nên quyết định giữ nguyên màu cờ và quốc ca cũ làm biểu tượng quốc gia. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 203.)  

 

Như thế, LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ đã được chọn lựa qua nhiều đề nghị, nhiều thảo luận, nhiều ý kiến, nhiều thử thách, chứng tỏ lá cờ nầy mang đầy đủ ý nghĩa nhất để tượng trưng cho chế độ tự do dân chủ trên quê hương của chúng ta.

 

Năm 1975, sau khi cộng sản tạm thời cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa, nhiều người bỏ nước ra đi.  Những người may mắn đến được bế bờ tự do, xây dựng cuộc sống mới. Họ mang theo trong tim mình toàn bộ hình ảnh quê hương, gia đình, bạn bè, và đặc biệt hình ảnh tượng trưng cho chế độ dân chủ tự do, dù chế độ đó chưa được hoàn thiện: đó là LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ của Quốc Gia Việt Nam, rồi sau đó của Việt Nam Cộng Hòa.

 

Khi ra nước ngoài, người Việt tiếp tục giữ gìn biểu tượng thiêng liêng của tổ quốc.  Trong tất cả các buổi sinh hoạt đều có lễ chào cờ địa phương và chào Cờ vàng Ba sọc đỏ.  Từ đó Cờ vàng Ba sọc đỏ trở thành biểu tượng của người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại.  Rõ nét nhất là mỗi lần sinh hoạt cộng đồng hay hội họp ở đâu, Ban tổ chức chỉ cần treo một lá cờ VÀNG BA SỌC ĐỎ là người Việt biết địa điểm và tìm đến tham dự.

 

Cộng đồng người Việt dần dần lớn mạnh và tạo thành một thế lực cử tri quan trọng.  Nhiều tiểu bang, nhiều thành phố ở Hoa Kỳ chính thức thừa nhận LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ là BIỂU TƯỢNG CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN.

 

Hiện nay, ở hải ngoại, lá cờ của nhà nước cộng sản Việt Nam chỉ được treo tại các tòa đại sứ và các tòa lãnh sự của cộng sản mà thôi.  Ở bên ngoài các cơ sở ngoại giao cộng sản, hoàn toàn không có bóng dáng lá cờ cộng sản. 

 

Trong khi đó, CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ, tuy tạm thời không còn chính phủ, lại tung bay rợp trời ở khắp nơi trên thế giới, vòng quanh quả đất.  Dầu phải bôn ba khắp bốn phương trời và không bị ai thúc đẩy hay bắt buộc, đâu đâu người Việt Nam ở hải ngoại cũng tự động giương cao LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ.  Hành động tự động đồng bộ của người Việt khắp trên thế giới chứng tỏ LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ là lá cờ của lòng người, sáng ngời CHÍNH NGHĨA, đời đời bất diệt.

 

Xin kính mời đồng hương Toronto và vùng phụ cần đến tham dự đông đảo lễ chào cờ Việt Nam Cộng Hòa vào lúc 12 giờ trưa Thứ Bảy 28-4-2018 tại CITY HALL Toronto trong buổi Tưởng niệm Quốc hận năm nay.

 

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 11-4-2018)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Như phần trình bày trên cho thấy nạn dịch Virus Corona đã khiến cho ”gió đã đổi chiều” nên thế giới có cái nhìn hoàn toàn ác cảm đối với Trung Cộng và nhà độc tài Tập Cận Bình, bởi lẽ nay hiểm họa này đã liên quan trực tiếp đến mạng sống quý báu của mỗi cá nhân. Biết đâu vì thế rất có thể sẽ có những biến chuyển bất ngờ quan trọng như sự kiện Bức Tường Berlin sụp đỗ thình lình không hề báo trước vào ngày 9.11/1989 đã mang lại tự do thực sự cho cả toàn vùng Đông Âu.
Trước đây với thuyết âm mưu, Đặng Tiểu Bình tuyên bố “Không cần biết mèo trắng hay mèo đen, chỉ cần bắt được chuột đều là mèo tốt”. Với “thuyết con mèo” của Đặng Tiểu Bình trong phiên họp của đại hội Đảng CSTQ lần thứ 11 năm 1985, trong hoàn cảnh đương thời, khi nền kinh tế Trung Quốc đang lâm vào kinh tế lụn bại, khó khăn, khủng hoảng trầm trọng. Muốn xoay xở, thoát khỏi vũng lầy chỉ còn cách “cải tổ kinh tế” rập khuôn như tư bản mà ông tổ của họ Karl Marx (1818–1883) và Friedrich Engels (1820–1895) trong cuốn Tư Bản Luận cho rằng tư bản sẽ giãy chết “Chủ nghĩa tư bản trong cơn giãy chết sẽ tự đào mồ chôn chính nó”.
Ngày 15/04/2020 , chỉ hai tuần sau khi cột mốc một triệu ca nhiễm trùng được ghi nhận, số lượng các trường hợp COVID-19 được báo cáo trên toàn thế giới đã vượt quá hai triệu, theo dữ liệu được tổng hợp bởi các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Johns Hopkins tại Baltimore, Maryland/USA.
45 năm, từ làn sóng người Việt tị nạn đến Mỹ đầu tiên vào năm 1975, đến nay cộng đồng gốc Việt tại Mỹ được xem đã khá ổn định với nhiều thành công cá nhân và trong mỗi gia đình. Trải qua nhiều đời tổng thống, bất luận đảng phái nào, người gốc Việt đã từng bước hội nhập rồi thăng tiến trên đất nước thứ hai của mình. Đọc lại câu chuyện lịch sử để thấy không phải một sớm một chiều hay chỉ riêng với một đời tổng thống nào mới giúp họ tạo dựng nên cuộc sống hiện nay mà đó là cả quá trình trong suốt gần nửa thế kỷ qua.
Sau khi tổng thống Donald Trump hăm doạ sẽ cắt bỏ phần đóng góp của Mỹ cho Tổ chức Y tế Thé giới (OMS/WHO) vì cách tổ chức này giải quyết đại dịch Vũ Hán không minh bạch và có ẩn ý, đã gây ra thảm hại khủng khiếp cho cả thế giới như hiện nay, ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, Tổng Giám đốc của Tổ chức Y tế Thế giới (OMS), liền phản ứng mạnh bằng cách khuyến cáo lãnh đạo các quốc gia là “đừng chính trị hoá đại dịch Covid-19 nếu không muốn có nhiều túi đựng xác chết hơn nữa “.
Tôi sống hơi dai, trải dài từ thế kỷ này qua thế kỷ khác nên đã có dịp đưa tiễn khá nhiều vật dụng tân kỳ (máy đánh chữ, máy fax, máy ảnh chụp phim, radio, akai cassette, DVD …) về nơi an nghỉ cuối cùng. Cứ tưởng như thế là tất cả đều đã mồ yên mả đẹp, và sẽ tiêu diêu nơi miền cực lạc nhưng thực tế lại không hẳn thế.
Báo chí đảng Cộng sản Việt Nam đang “có nguy cơ bị truyền thông xã hội chi phối, lấn át, gây ra nhiều tác hại….”. Đó là thú nhận của Ban Bí thư Trung ương đảng ghi trong Chỉ thị số 43-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới, ban hành ngày 14/04/2020.
Sống giữa thời mắc dịch – thỉnh thoảng – tôi vẫn nghĩ đến chuyện bị Cô Vy (đột ngột) đến thăm, với đôi chút băn khoăn. Chết thì cũng chả oan uổng gì nữa nhưng mang cuộc đời về không thì kể cũng hơi buồn. Không công danh, sự nghiệp (gì ráo) đã đành; chút hư danh (liệt sỹ, thạc sỹ, tiến sỹ, kẻ sỹ, chiến sỹ, đấu sỹ, dũng sỹ, hàn sỹ, thi sỹ, văn sỹ, họa sỹ … ) cũng không luôn. Bia mộ chỉ ghi vỏn vẹn là “thường dân” ngó cũng kỳ
Thế giới những ngày gần đây chăm chú theo dõi việc chính quyền Mỹ tung gói cứu trợ khẩn cấp 2.2 ngàn tỷ USD trong khi Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ (NHTƯ) gấp rút bơm thêm 2.3 ngàn tỷ USD vào thị trường. Tưởng cũng nên tìm hiểu vai trò khác biệt giữa NHTƯ và chính quyền (trong giới hạn của bài này thì chính quyền bao gồm Hành Pháp cùng Lập Pháp) ở hai lãnh vực kinh tế và tài chánh trong nước Mỹ.
Nếu đây là một kịch bản Hollywood điển hình thì người hùng “nước Mỹ ngoại lệ” của chúng ta, sau khi trù trừ lưỡng lự trong Màn một, sẽ có quyết định đúng đắn tại điểm chuyển biến. Quái vật Covid-19 độc ác sẽ bị khống chế, trật tự thế giới được tái lập, và xã hội trở lại cái thời trước khi ác nhân xuất hiện. Nhưng nếu sau khi dập tắt được Covid-19 chúng ta quay về với cơ chế xã hội trước đây thì đó sẽ là một chiến thắng Pyrrhic mà đôi bên đều bị huỷ diệt. Có thể chúng ta sẽ có bộ phim thứ nhì, rồi thứ ba… cho đến hồi cuối: Đại nạn môi trường. Nếu cách chống dịch lủng cà lủng củng của chính phủ trong những ngày qua chỉ là dự thảo cho biện pháp đối phó đại nạn sắp tới thì trái đất này kể như tiêu. Tuy nhiên, vẫn có những tín hiệu của niềm hy vọng và lòng can đảm phát ra từ mớ bòng bong hỗn độn Covid: nhân viên các doanh nghiệp thiết yếu đồng loạt xuống đường đòi hỏi được bảo vệ sức khoẻ và trả lương xứng đáng; dân chúng tự động quyên góp và may khẩu trang cho các cơ sở y tế; bác


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.