Hôm nay,  

Chuyện Tình Chưa Kể

13/05/201910:37:00(Xem: 5436)

Hồi đó, những ngày có mây trôi, lang thang trên vòm trời những sáng sớm Chủ Nhật, tôi theo Hạ Vy đi xem Lễ trong một Xóm Đạo.

Hạ Vy hỏi tôi:

- Mình chưa là gì với nhau, nên anh phải đi thật xa Hạ Vy, kẻo rồi ba mẹ em biết ...

Tôi hỏi Hạ Vy:

- Ba mẹ em biết gì?

Hạ Vy thẹn thùng, ấp úng:

- Biết anh đi theo Hạ Vy!

Tôi nhìn hun hút vào mắt Hạ Vy, đáp:

- Nhưng ba mẹ Hạ Vy biết, Hà theo Hạ Vy, thì có sao đâu?

Hạ Vy nhìn tôi nụng nịu nói:

- Cái ông này! Không sợ sao?

Tôi ân cần hỏi Hạ Vy:

- Sợ gì?

- Làng xóm, họ hàng mà biết được thì khổ cho em lắm đó!

Tôi hỏi:

- Mà Hạ Vy, có cho anh theo Hạ Vy không? Hạ Vy có yêu Hà không?

Hạ Vy thẹn thùng:

- Cái anh chàng này! Biết rồi! Mà còn cứ hỏi?

Tôi hững hờ nói:

- Nào Hà có biết Hạ Vy muốn nói gì đâu?

Tôi hỏi lại:

- Hạ Vy có yêu Hà không? Nói đi Hạ Vy!

Hạ Vy âu yếm:

- Sao không?

Vừa lúc đó, có người con gái, rão bước theo chân Hạ Vy, rồi cả hai người, kẻ trước người sau, quỳ xuống dưới chân Đức Mẹ. Bất giác, tôi quỳ theo...

Hạ Vy nguyện cầu điều gì đó, rồi đứng dậy. Nàng thấy tôi vẫn còn quỳ phía sau lưng cô gái cùng xóm.

Khi Lễ xong, tôi theo Hạ Vy ra về.

Hạ Vy giận dỗi hỏi tôi:

- Sao không quỳ bên cạnh Hạ Vy, mà lại quỳ bên cạnh người con gái ấy? Bộ Hà thương cô ấy sao?

Tôi đáp:

- Có đâu!

Hạ Vy buồn buồn, không nhìn tôi, hờ hững đáp:

- Không có chi! Sao lại quỳ sát sạt người ta. Làm vậy, Hạ Vy không thích đâu!

Tôi chống chế:

- Hồi nãy Hạ Vy bảo, Hà phải đi xa xa Hạ Vy ra, kẻo người ta biết. Bây giờ Hạ Vy lại bảo, sao Hà không quỳ gần Hạ Vy? Bây giờ Hà biết phải làm gì để Hạ Vy khỏi buồn đây?

Hạ Vy giải thích:

- Đi với Hạ Vy, thì phải đi theo thật xa, để đừng ai biết, vì Hà chỉ mới 18, còn Hạ Vy 16 thôi!

Lỡ ra có ai biết thì khổ cho Hạ Vy đó!

Tôi hỏi:

- Còn quỳ thì phải quỳ ra sao? Xa hay gần đây?

- Hạ Vy giải thích:

- Phải quỳ thật gần, để Chúa còn biết, Hạ Vy đang nguyện cầu điều gì với Chúa. Hà hiểu không?

Tôi hiểu, nhưng chẳng nói thêm gì!

Chiều hôm đó, tôi đàn cho Hạ Vy hát.

Tiếng hát của Hạ Vy bềnh bồng như đám mây tím, chờn vờn trong bầu trời xanh, vài  đám mây hồng bay thật thấp trôi theo tiếng hát cao vút của Hạ Vy, như màu lưu ly. Tơi khẽ hát theo ở những nhịp thở như hai đứa đang song ca của đôi tình nhân trên nẻo đường về, có hoàng hôn tím cuối nẻo đi.

Tôi thầm lặng yêu Hạ Vytừ buổi hừng đông có tiếng chuông vọng về với nhịp đập của con tim thổn thức.

Rồi trời đất đổ sụp, tôi hôn môi Hạ Vy lần đàu trong đời và cũng là lần cuối trong chuyện tình chưa kể cho ai nghe.

Những đêm mất ngủ trong trại tù, tôi nghe tiếng hát Hạ Vy, đong đưa theo chiếc võng buốt giá với ánh mắt Hạ Vy sâu thăm thẳm vì tháng ngày đợi chờ trong vô vọng.

Tôi lau nước mắt Hạ Vy và hẹn ngày hội ngộ trong cơn mộng mị đục nát thân tù.

Xa em âm thầm nghe tiếng khóc. Để ngàn đời say giọt nhớ thâu đêm.

Sáu năm sau, tôi lủi thủi về nhà sau khi được ra trại.

Trên đường về, người quen đều xa lạ, những vết chân trâu giậm, con đường hiu hắt, bụi bờ hai bên vệ đường, còn nỗi nhớ.

Mây và đàn cò trắng vẫn còn chờn vờn như ngày tôi đi.

Tôi khấp khểnh trên đường về như người đang lên cơn suyễn nhưng con tim đang rộn ràng tìm về với nỗi nhớ người xưa.

Phải đi qua nhà Hạ Vy, mới đến nhà Mẹ tôi. Tôi ghé nhà Hạ Vy trước.

Vẫn căn nhà xưa, tường quét vôi vàng đậm. Tôi mừng xiết bao khi Hạ Vy vừa bước ra. Hạ Vy ngơ ngẩn nhìn tôi, chẳng nói gì!

Anh về đây để chờ em tìm đến. Anh trở lại như một kẻ cô đơn.

Tôi như người mất trí, khi nghe Hạ Vy, nói:

- Em hai con rồi!

Tôi lấy Giấy Ra Trại, định đưa cho Hạ Vy xem nhưng lại thôi.

Tôi đọc lại  Giấy Ra Trại:

- 6 năm: 2 con rồi!

Tôi thầm lặng nhìn Hạ Vy, trên ngực nàng, lốm đốm những vệt sữa thấm ướt.

Hồn tôi một kiếp sầu ray rứt. Rớt xuống tình em vạn nỗi đau.

Tôi ra về, tiếng hát Hạ Vy chết trong tôi từ ngày đó!

Trên đường về, tôi còn thấy lá me bay quyện gót. Tan trường về sao chẳng thấy bóng Vy. Ai đưa đón trao Vy tình muôn thuở. Ai trao Vy từng nhịp đập nhớ nhung.

Tôi chờ Vy bên này bờ biển mộng. Tôi đợi Vy hoài bên phiến đá ngày xưa. Mà hồn buồn rêu xanh vay cổ mộ. Tình anh chưa hóa đá đâu Vy. Anh âm thầm ôm ấp mộng tình si. Và nhẹ bước

Anh gõ cửa hòn em lạc.

Dáng xưa

Dáng dấp em

Lưu đày ta hàng thế kỷ

Tháng Tư về

Nên nhớ hay quên đi

Người lính trở về hối hả

Trình em Giấy Ra Trại

Em ngỡ ngàng

Nay đã có hai con

Anh vội bước

Chân đi như nghiêng ngả

Thấy lòng mình

Vội vã bước chân hoang

Và cứ thế

dòng đời trôi lặng lẽ

Ta quên người

Hay Người đã quên ta

người cổ tích

CÚI  XUỐNG

Cúi xuống cho môi em thật gần

Để tình ta thật xót xa

Cúi xuống để thấy giòng sông xưa

Và con thuyền mang tóc em

Trôi đi thật xa

Cúi xuống để nhìn đời hiu quạnh

Và em xa ta thật xa

Cúi xuống bới tìm sợi tóc em

Rơi trong hoang đường như con thuyền

Đã trôi đi thật xa

Tíc em giăng giăng như khói sương

Bên bờ sông quá khứ đêm qua

Cúi xuống để khóc tình mình

Và tóc em đã bay đi thật xa

Tóc em! Huyển hoặc

Òa vỡ trong tôi!

Người Cổ Tích

Mẹ già

Niềm vui sẽ được gặp lại Mẹ già sau gần 6 năm cách biệt. Mẹ già có còn mạnh khỏe như ngày xưa nữa không?

 Trên chuyến xe lửa trở về lại Nha Trang, niềm vui lẫn lộn nỗi buồn man mác gieo vào lòng.

Những bàng hoàng đó rồi cũng qua nhanh, để đêm đêm tôi phải cúi mặt ngỡ ngàng, chập chờn ký ức bồi hồi, làm lòng mình xao xuyến, muốn biết tin Mẹ già, giờ này ra sao? 

Đêm đêm dưới ánh trăng xuyên qua cửa sổ phòng giam, tôi tìm đôi mắt Mẹ trong tĩnh lặng, khi Mẹ òa khóc vì biết tin tôi phải đi tù.

Đôi khi tôi nhắm mắt lại để cố giữ nguyên vẹn hình hài của Mẹ khỏi bị xóa nhòa trong trí nhớ, và đêm đêm trong giấc ngủ mắt tôi nhòa lệ, thương nhớ Mẹ vô vàn.

Có nhiều lúc, trong giờ giải lao, ngồi một mình trên đồi vắng, không chịu được những nỗi nhớ quay quắt, tôi gục đầu bên một than cây cổ thụ chết đứng trên lưng đồi, rồi bật lên tiếng khóc tức tưởi, để thấy nỗi đau của mình quá lớn và thấy từng giọt nước mắt của Mẹ, âm thầm rơi trên gò má nhăn nheo của Mẹ với bao sử lụy ưu phiền mà dáng Mẹ tóc bạc phơ, đang tựa cửa trông con về!

Hồi đó, tù nhân chính trị khi thả, bị buộc không được về các thành phố, vì địch bảo ngụy quân ngụy quyền là rác rưởi của xã hội. Họ buộc chúng tôi phải chọn đi một vùng kinh tế mới hoặc một hợp tác xã, ở thôn quê; do đó tôi đành phải chọn một hợp tác xã Mây Tre Lá tại thị trấn Diên Khánh, Khánh Hòa, thay vì tôi phải được về Nha Trang, nơi tôi đã tạo dựng một căn nhà trong khuôn viên đất

‘trường canh’ mà cha mẹ tôi đã cho tôi đất để cất nhà.

Trên chuyến xe lửa hôm đó, tôi thấy nhớ Mẹ vô cùng. Nhiều lúc không tự chủ được, tôi muốn nhảy vội xuống sân ga, chạy nhanh về thăm Mẹ, khi con tàu dừng lại đón khách và súc vật sau đó con tàu chạy cà rịch cà tang như xe bò lăn bánh, như thế biết bao giờ mới đến Nha Trang được.

Việc gì sẽ đến cũng phải đến…

Sau một đêm và một ngày dài, ngồi uể oải trên chuyến xe lửa Thống Nhất. Tôi nghe bánh xe nghiến kèn kẹt trên đường sắt để tiến vào Sân ga Nha Trang.

Xe thắng gắp, chiếc ghế dài bị đẩy mạnh về phía trước, làm chiếc ba-lô của tôi rơi xuống sàn gỗ.

Khom lưng xuống nhặt chiếc ba-lô, tôi khập khiễng  bước ra khỏi sân ga và từ từ đi dọc theo các khu phố để về nhà Mẹ tôi.

Bình minh tỏa sáng. Tiếng chim hót líu lo.

Tôi không còn nhận ra các con đường ngày xưa. Phố xá đìu hiu. Đường về nhà Mẹ tôi xa vời vợi.

Tôi băng qua một con dốc đất đá lổn ngổn, hai bên vệ đường đầy rác rưởi. Vài biệt thự, ngoài hành lang, treo lủng lẳng nịt ngực, quần lót phụ nữ, lốm đốm màu vàng khè. Tã lót trẻ em treo nghêng ngang ngo ài v ỉa hè. Tôi bước nhanh qua khu phố đó, với những bức tường đầy rong rêu.

Chân tôi r ảo bước như muốn bay qua khỏi những con đường lầy lội đó.

Nhà mẹ tôi đây rồi.

Cửa trước đóng kín. Tôi gõ cửa.

Tiếng động trên cánh cửa gỗ vang dội to hơn.

Đứng lặng thinh trước cửa, sau đó tôi gọi to.

-M ẹ ơi! Có Mẹ ở nhà không?

Trong lúc này, con chó long xù chạy ra, sủa vang. Tôi gọi tên nó.

-Mực!

Mực nghe tên nó, liền quỳ xuống, đưa hai chân trước, trườn về phía tôi.

Tôi âu yếm bảo con xù:

-Mực đến đây!

Ngay lập tức, con xù trườn nhanh về phía chân tôi, dùng mũi ngửi. Sau đó, xù nhận ra tôi và đứng dậy bằng hai chân đưa lưỡi liếm tay tôi. Tôi vuốt ve, âu yếm, xoa đầu con xù.

Mẹ tôi tay vịn tường ra mở cửa.

Tôi ôm Mẹ, nước mắt dâng trào. Mẹ nheo mắt nhìn tôi rồi òa khóc. Hai tay Mẹ ôm lấy mặt tôi. M ẹ ẹmân mê khuôn mặt xương xảu của tôi, để biết chắc có phải tôi là con của Mẹ không?

Mẹ hỏi tôi: -Con đó hả? Phải Hải không con?

Tôi ôm Mẹ nghẹn ngào.

-Con đó Mẹ. Hải đây Mẹ!

Cảnh đoàn tụ trong tiếng khóc oà vỡ của Mẹ.

Đáng lý mẹ con tôi phải mừng rỡ, vui cười nhưng sao mẹ tôi cứ ôm tôi khóc nức nở.

  Trưa hôm đó, tôi từ giã Mẹ, để đi về Diên Khánh, trình diện với Hợp Tác Xã Mây Tre Lá, trong nỗi bùi ngùi của Mẹ.

Đến nơi, tôi mới vỡ lẽ ra, muốn trở thành một xã viên của hợp tác xã, tôi phải có hai điều kiện như sau:

1/ Phải đóng cho Hợp Tác Xã 2 lượng vàng mới được thu nhận làm xã viên.

2/ Phải biết đan thúng mủng, rổ rá. Vì nơi đây hưởng công theo sản phẩm.

Tôi trình bày với ông chủ tịch, cả hai điều kiện trên tôi không có, nên được ông chủ tịch giới thiệu qua xã Diên Toàn.

Nơi đây, có nhiều hợp tác xã nông nghiệp. Muốn trở thành xã viên, tôi phải có ruộng tại xã, rồi giao ruộng cho Xã, mới trở thành xã viên.

Lẽ dĩ nhiên, tôi làm gì có ruộng ở đây, nên Xã Diên Toàn không nhận tôi, và ký sau Giấy Ra Trại, trả tôi về lại Nha Trang, nơi mẹ tôi đang cư ngụ.

Trở về Nha Trang, lấy cớ mẹ tôi đã già, không ai săn sóc. Công an địa phương cũng thuận tình cho tôi tạm trú.

Tôi định kiếm một công việc phù hợp vơi khả năng của tôi để sinh sống qua ngày. Nhưng tôi đã lầm.

Những ngả đường bước vào công sở, những Hợp Tác Xã, những quầy hàng, những công việc mà tôi có thể gánh vác được, không bao giờ thu nhận tôi, chỉ vì lý lịch của tôi là công dân không được xếp hạng.

Tháng ngày bình yên không còn nữa. Những hàng biểu ngữ với ý nghĩa ‘tự do’ báo hiệu cho sự hiện hữu của cái cũ thay

bằng cái mới. Người ta đã đặt tên những cái đồng hồ ‘tự động’ bằng danh từ mới, kêu hơn, cách mạng hơn, nhưng ngu ngơ và buồn cười hơn: ‘Đồng hồ không người lái’. Hay ‘Đồng hồ hai, ba cửa sổ’.

Cà phê phin thì được gọi là ‘Cà phê hai từng lầu’.

Đôi giầy bóng loáng đã bị vất nằm vào một xó xỉnh nào đó, mà đường phố được trang trí bằng những đôi dép râu, được sáng tạo bởi những kỹ thuật gia biến  chế từ nguyên liệu của những bánh xe hơi phế thải của Mỹ Ngụy, một thời phồn vinh giả tạo làm trì trệ nền kinh tế xã hội, xã hội chủ nghĩa đang trên đà thăng tiến.?!!!

Dĩ vãng đã xa xưa lắm rồi. Kỷ niệm cũng không phải dành riêng cho mình. Những con đường ngày xưa nay đã đổi tên. Khu phố buồn heo hắt, hàng cây cằn cỗi đứng bơ phờ, xóm làng cũ cũng thay tên, đổi họ. Những ngôi nhà kín cổng cao tường, đã đổi chủ, thay người.

Bóng dáng ai ngồi bên cửa sổ, chong đèn học bài, nay không còn nữa, mà hiên  nhà là những chiếc quần đen của quý bà nữ cán binh, dơ dáy, bẩn thỉu, tanh tưởi, phơi vắt ngổn ngang, bừa bãi, lẫn lộn với nịt ngực, quần lót, lốm đốm  màu vàng khè … để cho các anh hùng  chống Mỹ, chiêm  ngưỡng, lối sống bừa bộn của một khu nhà tập thể, với tiếng cười, tiếng chửi nhau hô hố của các chị nữ hộ lí…hỗn tạp của những con người thiếu văn minh đang chiếm ngụ nhà cửa của dân, mà trước đây ở miền Băc họ phải chui rúc trong những xó xỉnh của những khu nhà lợp lá kè, thấp lè tè, thiếu vệ sinh.

Các chị du kích, tay vừa bế con, cho trẻ bú, tay kia vác  súng trừơng, mắt ngắm bắn pháo đài bay B. 52 của đê quốc Mỹ rơi ngay cửa mình. Nay được dảng ta vinh danh là anh hùng chống Mỹ, được nhà nước ta cấp phát những căn hộ của các gia đình tù nhân chính trị.
Duy Xuyên, Tacoma

Tạp chí TIMES kết thúc cuộc phỏng vấn với Tổng thống Trump nhân dịp đánh dấu 100 ngày ông ta quay lại Tòa Bạch Ốc (20/1/2025) bằng câu hỏi, “John Adams, một công thần lập quốc, vị tổng thống thứ hai của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (1797 – 1801) đã nói chúng ta là một quốc gia pháp trị, chứ không phải bất kỳ người nào, Tổng thống đồng ý không?” Donald Trump trả lời: “Chúng ta là một chính phủ do luật pháp cai trị, không phải do con người sao? Ồ, tôi nghĩ vậy, nhưng anh biết đấy, phải óc ai đó quản lý luật pháp. Bởi nên, con người, nam hoặc nữ, chắc chắn đóng một vai trò trong đó. Tôi không đồng ý với điều đó 100%. Chúng ta là một chính phủ mà con người tham gia vào quá trình thực thi luật pháp, và lý tưởng nhất là anh sẽ có những người công chính như tôi.”
Chuyện “Ngưng bắn…” kể cho độc giả Bloomington ngày ấy, đã là chuyện quá khứ. 30 tháng Tư năm sau, cuộc chiến trên đất Việt tàn. Chủ nghĩa Cộng sản, nguyên nhân của nạn binh đao, dìm quê hương tôi trong biển máu hàng thập kỷ, cuối cùng đã hưởng hết 70 năm tuổi thọ. Tưởng chuyện đau thương trong một ngày ngưng bắn của gia đình, vì sự an toàn, phúc lợi của loài người, phải trở thành cổ tích. Vậy mà hôm nay, trong thời đại này, chuyện buồn chiến tranh của tôi đang tái diễn...
Mười năm, 20 năm, và nhiều hơn nữa, khi lịch sử kể lại buổi chuyển giao quyền lực hứa hẹn một triều đại hỗn loạn của nước Mỹ, thì người ta sẽ nhớ ngay đến một người đã không xuất hiện, đó là cựu Đệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama.
Chiến tranh là chết chóc, tàn phá và mất mát! Có những cuộc chiến tranh vệ quốc mang ý nghĩa sống còn của một dân tộc. Có những cuộc chiến tranh xâm lược để thỏa mãn mộng bá quyền của một chế độ hay một bạo chúa. Có những cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa hai chủ nghĩa, hai ý thức hệ chỉ biến cả dân tộc thành một lò lửa hận thù “nồi da xáo thịt.” Trường hợp sau cùng là bi kịch thống thiết mà dân tộc Việt Nam đã gánh chịu! Hệ lụy của bi kịch đó mãi đến nay, sau 50 năm vẫn chưa giải kết được. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một nữ chiến binh cộng sản miền Bắc có tên là Dương Thu Hương khi vào được Sài Gòn và chứng kiến cảnh nguy nga tráng lệ của Hòn Ngọc Viễn Đông thời bấy giờ đã ngồi bệch xuống đường phố Sài Gòn và khóc nức nở, “khóc như cha chết.” Bà khóc “…vì cảm thấy cuộc chiến tranh là trò đùa của lịch sử, toàn bộ năng lượng của một dân tộc dồn vào sự phi lý, và đội quân thắng trận thuộc về một thể chế man rợ. Tôi cảm thấy tuổi trẻ của tôi mất đi một cách oan uổng ...
Ngày 30 tháng 4 năm 2025 là một ngày có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử Việt Nam đương đại, cũng là dịp để chúng ta cùng nhau hồi tưởng về ngày 30 tháng 4 năm 1975 và những gì mà dân tộc đã sống trong 50 năm qua. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã kết thúc chiến tranh và đáng lẽ phải mở ra một vận hội mới huy hoàng cho đất nước: hoà bình, thống nhất và tái thiết hậu chiến với tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc. Nhưng thực tế đã đánh tan bao ước vọng chân thành của những người dân muốn có một chỗ đứng trong lòng dân tộc.
Điều thú vị nhất của nghề làm báo là luôn có sự mới lạ. Ngày nào cũng có chuyện mới, không nhàm chán, nhưng đôi khi cũng kẹt, vì bí đề tài. Người viết, người vẽ, mỗi khi băn khoăn tìm đề tài, cách tiện nhất là hỏi đồng nghiệp. Ngày 26 tháng 3, 1975, hoạ sĩ Ngọc Dũng (Nguyễn Ngọc Dũng: 1931-2000), người dùng bút hiệu TUÝT, ký trên các biếm hoạ hàng ngày trên trang 3 Chính Luận, gặp người viết tại toà soạn, hỏi: “Bí quá ông ơi, vẽ cái gì bây giờ?”
Sau ngày nhậm chức, Tổng thống Donald Trump đã ban hành hàng loạt sắc lệnh hành pháp và bị một số tòa án tiểu bang chống đối và hiện nay có hơn 120 vụ tranh tụng đang được xúc tiến. Trump cũng đã phản ứng bằng những lời lẽ thoá mạ giới thẩm phán và không thực thi một số phán quyết của tòa án. Nghiêm trọng hơn, Trump ngày càng muốn mở rộng quyền kiểm soát hoạt động của các công ty luật và công tố viên nghiêm nhặt hơn. Trong khi các sáng kiến lập pháp của Quốc hội hầu như hoàn toàn bị tê liệt vì Trump khống chế toàn diện, thì các cuộc tranh quyền của Hành pháp với Tư pháp đã khởi đầu. Nhưng Trump còn liên tục mở rộng quyền lực đến mức độ nào và liệu cơ quan Tư pháp có thể đưa Trump trở lại vị trí hiến định không, nếu không, thì nền dân chủ Mỹ sẽ lâm nguy, đó là vấn đề.
Khi Bạch Ốc công bố công thức tính thuế lên các quốc gia với các thang thuế khác nhau, người ta nhận ra đó chỉ là một một phép tính toán học căn bản, chẳng liên quan đến kinh tế học hay mậu dịch lẫn các dữ liệu thực tế nào cả. Chúng chỉ là những số liệu vô nghĩa và phi lý. Việt Nam không đánh thuế hàng Mỹ đến 90% và đảo hoang của những chú chim cánh cụt có liên quan gì đến giao thương. Điều này thể hiện một đối sách vội vã, tự phụ và đầy cảm tính, cá nhân của Donald Trump nhằm tạo áp lực lên thế giới, buộc các nước tái cân bằng mậu dịch với Mỹ hơn là dựa trên nền tảng giao thương truyền thống qua các hiệp ước và định chế quốc tế. Hoặc nhỏ nhặt hơn, để trả thù những gì đã xảy ra trong quá khứ: Trump ra lệnh áp thuế cả những vật phẩm tâm linh từ Vatican đưa sang Mỹ như một thái độ với những gì đức Giáo Hoàng Francis từng bày tỏ.
Tổng thống Donald Trump vào hôm qua đã đột ngột đảo ngược kế hoạch áp thuế quan toàn diện bằng cách tạm dừng trong 90 ngày. Chỉ một ngày trước đó đại diện thương mại của Trump đã đến Quốc Hội ca ngợi những lợi ích của thuế quan. Tuần trước chính Trump đã khẳng định "CHÍNH SÁCH CỦA TÔI SẼ KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI". Nhưng Trump đã chịu nhiều áp lực từ những nhân vật Cộng Hòa khác, các giám đốc điều hành doanh nghiệp và thậm chí cả những người bạn thân thiết, đã phải tạm ngừng kế hoạch thuế quan, chỉ duy trì thuế căn bản (baseline tariff) 10% đối với tất cả những đối tác thương mại.
Trật tự thế giới là một vấn đề về mức độ: nó thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào các yếu tố công nghệ, chính trị, xã hội và ý thức hệ mà nó có thể ảnh hưởng đến sự phân phối quyền lực trong toàn cầu và ảnh hưởng đến các chuẩn mực. Nó có thể bị thay đổi một cách triệt để bởi các xu hướng lịch sử rộng lớn hơn và những sai lầm của một cường quốc. Sau khi Bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, và gần một năm trước khi Liên Xô sụp đổ vào cuối năm 1991, Tổng thống Mỹ George H.W. Bush đã tuyên bố về một "trật tự thế giới mới". Hiện nay, chỉ hai tháng sau nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của Donald Trump, Kaja Kallas, nhà ngoại giao hàng đầu của Liên minh châu Âu, đã tuyên bố rằng "trật tự quốc tế đang trải qua những thay đổi ở mức độ chưa từng thấy kể từ năm 1945". Nhưng "trật tự thế giới" là gì và nó được duy trì hoặc phá vỡ như thế nào?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.