Hôm nay,  

Quả bóng

11/08/201903:55:00(Xem: 6747)

 

Hồ Thanh Nhã

 

                          Quả bóng

  

Bà mẹ già tuổi quá chín mươi

Gần đất xa trời

Hai chị em thay phiên chăm sóc

Cứ mỗi chiều chúa nhật

Là họ thay..phiên trực giao ban

Rước mẹ về ở trọn một tuần

Bà cụ già như quả bóng trên sân

Lăn hết cửa nhà em đến sàn nhà chị

Nhiều năm dài như thế

Người chị cứ theo thông lệ

Đi lễ chùa hằng bữa sáng tinh mơ

Đến tối mới về

Hết Pháp hội Di Đà

Tới đợt hành hương mười chùa lễ Phật

Cầu mẹ già trăm tuổi sống lâu

Nhiều bữa về đến nhà quá ư là mệt

Lăn ra giường ngủ lê ngủ lết

Sáng sớm lại ra đi

Quên cả mẹ già suốt ngày trên gác

Khoán trắng cho người làm

Ít có dịp hỏi han

Tình mẹ con lạt còn hơn tô nước lả

Mong đến cuối tuần

Giao bóng sang nhà em

Còn cô em cũng chẳng khác chi nào

Bỏ mặc bà mẹ già cho người giúp việc

Kể cũng tròn chữ hiếu thế gian

Bữa đi họp hành

Hôm khác đến nhà bạn ngồi lê đôi mách

Có khi đi Casino…tiền hưu nướng sạch

Một hôm người chị gọi cô em

Là bận đi hành hương ba tuần Ấn độ

Lúc trở về sẽ làm bù …trực ba ca

Người em gái ngần ngừ

Nhưng rồi sau cũng chịu

..Một tối về nhà

Không nghe tiếng mẹ

Tưởng chị rước về lúc mình sát phạt ở Casino

Nửa tháng sau

Hai vợ chồng đứa con trai

Từ tiểu bang xa bay về thăm mẹ

Sẵn dịp leo lên gác

Thăm bà ngoại già hơn năm vắng bóng

Thấy chiếc giường trống lỏng

Nệm phẳng phiu chẳng dấu người nằm

Cả nhà toáng lên

Gọi em gái thì em đi vắng

Gọi nhiều nơi…cảnh sát tới nhà

Hai tuần đi qua

Bà cụ già vẫn biệt vô âm tín

Như cánh chim lạc đàn phiêu dạt trời xanh

Một bữa có người đàn ông tóc muối phong trần

Tìm đến nhà người chị

Giao chiếc khăn choàng bà cụ lúc ra đi

Có lẽ tủi thân..bà cụ ra ngoài

Đi thất thểu lang thang dưới trời sương tuyết

Nằm chết trước hiên nhà

Cách xa mấy phố

Ông báo chánh quyền

Nhiều tuần không ai đến nhận

Động lòng trắc ẩn

Đành mua quan tài chôn cất kẻ cô đơn

Đám tang âm thầm đưa tiễn chỉ mình ông

Ra nghĩa địa không hoa không câu niệm Phật đưa đường

Trời âm u sương tuyết chiều Đông

Người nầy dắt hai chị em ra nghĩa địa

Trước nắm mộ cỏ um tùm ngọn cỏ

Hai người con khóc lăn ra đất

Muộn quá rồi !

Tình mẫu tử phân ly

Như xôi nếp một như đường mía lau

Vài người khách phương nào

Thấy hai vành khăn trắng

Bên ngôi mộ cỏ mọc xanh rì

Khen nức nở đúng là hai người con chí hiếu

Mẹ chết lâu ngày

Còn nức nở chiều Đông

Nghe tiếng khen của mấy khách qua đường

Hai người con nín một chút nhìn sang

Rồi tiếng khóc càng to thêm …bi thảm

Lời khen qua đường

Như vừa uống xong một tách trà thơm

Ngon thì cũng thấy ngon

Mà hình như quá đắng !

  

            Hồ Thanh Nhã .
 

       Lễ Vu lan báo hiếu 

Đã là người Việt  thì chắc chắn ai cũng biết ngày lễ Vu lan và ít nhất cũng đã từng đi chùa một lần tham dự lễ nầy . Đại lễ Vu lan diễn ra vào ngày Rằm tháng 7 Âm lịch hàng năm và có chùa  tổ chức trong vòng  tháng 7 cũng được . Vu lan là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo và cũng trùng với ngày Rằm tháng 7 Xá tội vong nhân . Theo tín ngưởng dân gian thí đó là ngày mỡ cửa địa ngục ân xá cho vong nhân nên có lễ cúng cô hồn cho các vong linh không nhà không cửa và không có thân nhân trên dương thế thờ cúng . Đó cũng là ngày mà mọi tù nhân ở địa ngục có cơ hội được xá tội và được tái sinh vào cỏi an lành hơn trong 6 cỏi luân hồi .

Xuất phát từ sự tích Đại đức Mục Kiền Liên là 1 trong 2 đệ tử lớn của Phật Thích Ca , với lòng đại hiếu đã cứu mẹ mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ .Vu lan là ngày lễ lớn hàng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ và tổ tiên nói chung . Bao gồm cha mẹ ở kiếp nầy và của các kiếp trước . Đại đức Mục Kiền Liên thấy mẹ mình là bà Thanh Đề vì gây nhiều nghiệp ác nên sau khi chết , sanh làm ngạ quỷ bị đói khát , hành hạ khổ sở . Phật dạy nếu Mục Kiền Liên muốn cứu mẹ thì phải nhờ sự hợp lực của chư tăng khắp mười phương ,mới đủ công lực cứu mẹ ra khỏi kiếp ngạ quỷ . Và ngày Rằm tháng 7 là ngày thích hợp nhất để cung thỉnh chư tăng tụng kinh Vu Lan Bồn , có tác dụng tạo thành sức mạnh tâm linh đưa bà Thanh Đề ra khỏi kiếp ngạ quỷ . Và kết quả là bà Thanh Đề đã được tái sinh vào  cỏi lành .

Kinh Vu Lan Bồn là bộ kinh Đại thừa bao gồm một bài Pháp thoại ngắn và cách báo hiếu cha mẹ là cúng dường trai tăng cho tăng đoàn vào ngày Rằm tháng 7 và nhờ lời đọc kinh của toàn chư tăng chú nguyện mà cứu độ cho cha mẹ , ông bà đã mất .

Do đó lễ Vu lan là ngày lễ được tổ chức vào ngày Rằm tháng 7 là để báo hiếu cho cha mẹ , ông bà và cũng để giúp đỡ những linh hồn đói khát không nơi  nương tựa , thực hành hạnh bố thí .Ngoài ra còn có tục phóng sanh , bố thí để hồi hướng công đức cho các bậc sanh thành đời nầy và nhiều đời khác nữa .

Ngoài ra ngày đại lễ Vu lan còn được gọi là ngày Xá tội vong nhân , lễ cúng kiến thường được cúng vào ban ngày , tránh cúng vào ban đêm .Mỗi nhà cúng một mâm cơm canh đặt trước nhà , để cúng các vong linh bơ vơ không nơi nương tựa . Lễ cúng nầy còn gọi là cúng cô hồn , cúng thí thực ./.

 



 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
Một nhân vật còn sống sót sau thảm họa Lò sát sinh (Holocaust) và từng đoạt giải Nobel Hòa bình, Elie Wiesel, nói: "Sự đối nghịch của tình thương không phải là sự ghét bỏ, mà là sự dửng dưng. Sự dửng dưng khiến đối tượng thành vắng bóng, vô hình…"
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.