Hôm nay,  

Hồn Mao Da Nghệ

19/10/201900:00:00(Xem: 4184)

Trương Ba, tuổi còn trẻ, lại giỏi tài đánh cờ tướng, tiếng tăm bay tới bên Tàu. Lúc bấy giờ, bên Tàu có ông Kỵ Như cũng nổi tiếng là vua cờ, nghe danh Trương Ba, bèn qua Việt nam, tìm tới Trương Ba để thi tài cao thấp.

Trương Ba đưa đối thủ lâm vào thế bí, nên có vẻ tự đắc: nước cờ này, Đế Thích cũng phải chịu thua!

Trên Thiên Đình, Đế Thích nghe được lời kiêu ngạo của Trương Ba, tức giận, bèn hạ giới. Ông giúp Kỳ Như gỡ thế bí, chuyển bại thành thắng.

Trương Ba biết người giúp Kỳ Như chắc phải là Đế Thích nên sụp lạy tạ tội xúc phạm bực tiên thánh. Đế Thích bỏ qua và còn cho một thẻ nhang với lời dạy: khi cần ta, hãy đốt lên một cây nhang.

Thời gian sau, Trương Ba bổng ngã ra chết. Ma chay xong, một hôm, chị vợ dọn dẹp nhà cửa, bắt gặp thẻ nhang, bèn lấy ra một cây, đốt lên, đem cắm vào bàn thờ chồng.

Trên Thiên đình, bắt được mùi hương, Đế Thích liền hạ giới. Biết Trương Ba đã chết cả tháng rồi, Ngài tạm dùng xác anh hàng thịt vừa mới chết, gọi Nam Tàu, để sửa sai, hãy trả hồn Trương Ba vào xác anh hàng thịt để cứu người bạn cờ.

Hồn vừa nhập vào xác, anh hàng thịt vụt ngồi dậy, sống lại. Nhưng con người trong anh hàng thịt, giờ đây, là Trương Ba. Sự xung đột mãnh liệt giữa hồn, tức con người nho nhả với cái thân xác kịch cởm, thô bỉ bắt đầu nhưng không có kết thúc nào khác hơn là hồn dần dần bị biến chất theo áp lực thân xác.

Chuyện dân gian được nhà viết kịch Luu Quang Vũ dựng thành kịch nói năm 1981 và năm 1984, đem trình diễn nhiều nơi rất thành công.

“Hồn Mao da Nghệ” là phỏng theo “Hồn Trương Ba da hàng thịt” để nói về một con người thật, tim óc là Mao Trạch-đông, tức cộng sản đặc sệt tuy da, nhơn diện sắc tộc là người xứ Nghệ An.

 

Hồ Chí Minh là đệ tử chơn truyền của Lê nin?

Ngày nay, đang có hiện tượng bênh vực Hồ Chí Minh đi theo cộng sản vì chỉ có Đệ Tam Quốc tế mới chống lại Đế quốc Thực dân.Trước đây có nhiều tổ chức, nhiều phong trào, cũng bôn ba tìm đường cúu nước, nhưng đều thất bại. Mà Hồ Chí Minh đi theo cộng sản là theo Lénine, không theo Staline vì cho rằng Staline là cộng sản cực tả. Cũng như Mao và mao-ít là cực tả (Trần Đĩnh gọi là mao-nhiều). Cánh cực tả ác ôn trong cai trị. Nên ngày nay, Hà nội vẫn kiên quyết đi theo mác-lê và thêm tư tưởng hồ chí minh cho hùng hậu. Là đúng và sáng suốt.

Vậy Lê-nin có gì mà Hồ chí Minh học được?

Tháng Mười 2017, Lê nin cướp được chánh quyền bằng một cuộc đảo chánh – đúng ra chỉ một cuộc binh biến nhỏ. Lập tức, Lê nin dựng lên mô hình cai trị bằng bạo lực. Ông tuyên bố làm chiến tranh thường trực

Học Mác, ông lý thuyết hóa nội chiến làm thành phương tiện cướp chánh quyền. Và giữ chánh quyền. Đó là bài học cách mạng mà cộng sản khắp thế giới không ở đâu không học theo.

Lý thuyết khủng bố hàng loạt của Lê - nin có 2 ý nghĩa: khủng bố do quần chúng làm theo sự xách động của cán bộ cộng sản và khủng bố là tư tưởng trung tân của Lê nin. Khái niệm này được Lê nin đưa ra rất sớm. Vì theo Lê nin, khủng bố là động cơ lịch sử, hoàn toàn do đấu tranh giai cấp thực hiện. Nó làm nổi bậc tương quan lực lượng. Nó là sự thật chánh trị. Vai trò của bạo lực là thanh toán xã họi củ.

Trong chánh trị, Lê-nin đã từng dạy “Thi hành bạo lực triệt để thì chế độ ta không bao giờ bị cướp mất”.

Cái ác ôn của Staline là do học được ở Lê-nin. Có người hỏi Ngoại Trưởng Molotov: Lê-nin và Staline, ai ác hơn ai? Ông trả lời không ngần ngại: Lê-nin là bậc đại gian đại ác, là đại sư phụ của Staline.

Theo Victor Sebestyen, sử gia Anh, trong quyển (“Lenin - The Dictator; An Intimate Portrait” của ông, xuất bản ở Anh), để đạt mục đích, Lê-nin "nói dối trắng trợn" và sẵn sàng bỏ qua lời hứa, cũng vì "mục tiêu Cách mạng".

Victor Sebestyen cho rằng sự tàn bạo của chế độ Liên Xô bắt đầu từ chính Lê-nin chứ không phải từ Staline.

Điểm mấu chốt là từ chỗ lãnh đạo nhóm Bolshevik giành được chánh quyền năm 1917, Lê-nin đã giữ được chánh quyền qua cuộc Nội chiến Nga và tạo ra nhà nước cộng sản đầu tiên bằng bạo lực. Staline chỉ là người kế tục chánh sách bạo lực do Lê-nin dựng lên lúc ông cầm quyền.

Dù lấy cảm hứng từ lý tưởng cộng sản của Karl Marx và tư tưởng xã hội của Friederic Engels, chủ nghĩa do Lê-nin tạo ra cả về lý luận và trên thực tiễn được cho là "nhà nước toàn trị hiện đại đầu tiên" (sau quân chủ với bạo chúa). Những người Bolshevik (cộng sản) đã đem chủ nghĩa xã hội vào thực tế và áp dụng các biện pháp chuyên chế, độc đoán nhằm bẻ gãy sự phản kháng của người dân. Vì thế, mọi mặt của cuộc sống kinh tế, xã hội, văn hóa, trí tuệ và sinh hoạt chính trị tại Liên Xô đều bị Đảng Cộng sản kiểm soát triệt để và mang tính trại lính, không chấp nhận bất cứ phê phán hay dấu hiệu đối lập nào.

Xã hội xã hội chủ nghĩa được xây dựng bằng quyền lực độc đoán của quan chức Đảng Cộng sản và bộ máy quan liêu. Khủng bố được áp dụng không khoan nhượng và các suy nghĩ nhân đạo hoặc tư tưởng cá nhân đều bị gạt đi.

Lớp trí thức củ và cả sinh hoạt đạo đức bị cải tạo. Sự thật, Luân lý, Công lý. Sự tử tế, …dần dần không còn là những gíá trị được xã hội qui chiếu nữa.

Tình trạng xã hội ở Việt nam ngày nay phản ánh rất trung thực xã hội nga dưới thời Lê–nin cai trị.

 

Hồ Chí Minh làm cách mạng dân tộc hay cách mạng cộng sản?

Tại Đại hội II ,Hồ Chí Minh đọc báo cáo do Trường Chinh soạn “Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Và cũng từ đây, đảng cộng sản chánh thức đổi ra thành “Đảng Lao Động”. Đảng vẫn khẳng định “đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn và chuẩn bị những tiền đề đi lên chủ nghĩa xã hội sau khi kháng chiến thành công”. Ngoài ra, đảng còn xây dựng ở mỗi nước Đông Dương một đảng cộng sản riêng. Và sau này, Trung Ương Cục Miền Nam đặc trách luôn cộng sản ở Miên.

Hồ Chí Minh xác định làm cách mạng ở Việt Nam là đánh đuổi xâm lược, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhứt, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhơn dân, gây cơ sở vật chất-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Con đường tiến đến chủ nghĩa xã hội trải qua một thời gian dài gồm 3 giai đoạn, kế tục nhau và quan hệ mật thiết: kháng chiến tiêu diệt đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, củng cố Nhà nước Dân chủ nhơn dân, cải cách ruộng đất triệt để, phát triển nông nghiệp, công nghiệp dưới hình thức hợp tác hóa, kỹ nghệ hóa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, xây dựng cơ sở vật chất -kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

Cương lĩnh đảng Lao Động xác định mục đích, tôn chỉ, nhiệm vụ lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhơn dân đến thắng lợi và nhiệm vụ xây dựng đảng là đảng của giai cấp công nhơn và nhơn dân Lao Động, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lê nin theo nguyên tắc tập trung dân chủ, sau cùng là chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ cộng sản.

Trường Chinh từng chỉ dạy đảng viên “Chiến tranh giải phóng Việt Nam là một bộ phận của chiến lược giải phóng toàn thế giới theo cộng sản”.

Như vậy, Hồ Chí Minh tuyên bố cách mạng giành độc lập là chỉ để vận động quần chúng đánh giặc giúp cách mạng thành công cho mục tiêu cộng sản.

 

Còn tư tưởng Hồ Chí Minh?

Hà Nội từ năm 1991, Đại hội VII (6/1991), đưa ra cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” là một cách bắt chước rập khuôn theo Tàu. Ở đây, họ đề cao tư tưởng Mao Trạch Đông. Thực chất là theo Tàu, nhưng khi nói tư tưởng Hồ chí Minh, ý của Hà Nội muốn tréc lên một chút son phấn “bản sắc dân tộc” sau khi khối cộng sản Liên Xô và đông Âu sụp đổ.

Khi nói “tư tưởng Hồ Chí Minh”, đảng cộng sản gán cho ông cái “tư tưởng” giả tạo vì chính ông đã từng nói “Tôi không có tư tưởng gì ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê cả”. Vì đã lỡ nghe nói tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thử tìm hiểu coi đó là gì?

Về mặt chánh trị, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự đề cao Mao và Staline của ông ở Đại hội II, lúc thành lập đảng Lao Động. Quan điểm của Staline mà Hồ chí Minh vô cùng tâm đắc là “Đảng cộng sản là công cụ của chuyên chính vô sản” và “chuyên chính vô sản, về thực chất, được thay thế bởi chuỳên chính của đảng cộng sản”. Hơn nữa, trong thực tế, chuyên chính của đảng cộng sản là chuyên chính của một người, tức của Tổng Bí thư đảng. Boris Souvarine từng khen ngợi Hồ Chí Minh là đệ tử tuyệt trần của Staline.

Còn Mao ảnh hưởng Hồ Chí Minh, thì tưởng không có gì rõ hơn là ý mà Hồ Chí Minh phát biểu tại Đại hội II “Cách mạng Việt Nam phải học nhiều của cách mạng Trung Quốc, Kinh nghiệm và tư tưởng Mao Trạch- đông đã giúp chúng tôi hiểu thấu hơn học thuyết mác-anghen-lênin-stalin. Những người cách mạng Việt Nam phải luôn luôn ghi nhớ và biết ơn Mao Trạch Đông về sự cống hiến to lớn đó”.

Và cũng tại Đại hội II này, Hồ Chí Minh tuyên bố “Ai đó thì có thể sai, chớ đồng chí Staline và đồng chí Mao trạch-đông thì không thể nào sai đưọc”. Có thể còn sự sùng bái nào hơn dược chăng? Và ngày nay, Tàu lấy trọn nước Việt nam thì cũng đúng thôi!

Nói rỏ hơn, theo Phạm Văn Đồng, tư tưởng Hồ Chí Minh gồm có 5 yếu tố chủ yếu: chủ nghĩa Mác-Lê, sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng cộng sản, chuyên chính vô sản, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và tinh thần quốc tế vô sản.

Ngoài ra, Hồ Chí Minh vẫn khẳng định “chủ nghĩa Mác-Lê là học thuyết đúng đắn nhứt, cách mạng nhứt, là kim chỉ nam cho hành động” của người cách mạng.

Người cộng sản vẫn khẳng định rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh là một sự vận dụng nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác-Lê vào điều kiện cụ thể của nước ta”, nhưng trong thực tế, từ xưa nay, họ chỉ biết áp dụng rập khuôn, một cách máy móc kinh nghiệm của Liên-Xô và Trung Quốc mà không quan tâm tới hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam nên gây ra hậu quả vô cùng thảm hại như cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, cải tạo tư sản, chánh sách kinh tế mới,…

Ngoài ra, khi ở Nga, Staline thanh trừng Trostky, ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng nhiệt tình hưởng ứng, đi lùng tiêu diệt nhóm Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Văn Ngà, Trần Văn Thạch,… mà Hồ Chí Minh gọi “đàn chó trốt-kít, bọn phản động, gián điệp, tay sai đế quốc, những kẻ đầu trâu mặt ngựa, những kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ,… ”

Về mặt kinh tế, Hồ Chí Minh cũng chủ trương tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, tức xóa bỏ các hình thức sở hữu không xã hội chủ nghĩa, làm cho nền kinh tề gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhứt, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Và Hồ Chí Minh còn nói thêm “Kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân, Nhà nước phải bảo đảm cho nó phát triển ưu tiên, tạo nền tảng vững chắc cho chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy cải tạo xã hội chủ nghĩa”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn là chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông mà ông học được. Ở Hồ Chí Minh không có bản sắc dân tộc. Trên báo Thanh Niên phát hành tại Quảng Châu, số 22/12/1926, Hồ Chí Minh nói rõ quan điểm của ông về Dân tộc, Tổ quốc “Cái danh từ Tổ quốc là do các chánh trị gia đặt ra để đè đầu nhơn dân, để buộc những người vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của giai cấp tư sản. Thực ra, chẳng có Tổ quốc, cũng chẳng có biên giới… ”.

Hồ Chí Minh từ lúc chọn theo Quốc Tế Đệ Tam cho tới ngày chết, trước sau, tự tu luyện để trở thành người cộng sản tinh ròng. Những biểu hiện độc lập dân tộc chỉ là thứ «vạn biến» để phục vụ cho cái bất biến là cộng sản. Trong di chúc, Hồ chúc cho vô sản thế giới thắng lợi để thế giới trở thành cộng sản. Và khi chết, Hồ sẽ hạnh phúc đi gặp cụ Mác, cụ Lê chớ không phải đi gặp Cụ Sắc, Bà Loan hay Anh Đạt, Chị Thanh.

Cău truyện dân gian «Hồn Trương Ba da hàng thịt» thể hiện rất chính xác vào Hồ, đội lốt người Nghệ An, tức người Việt nam, nhưng tim óc hoàn toàn là Mao, là Staline.

 

Nguyễn thị Cỏ May

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.