Hôm nay,  

Ngày Lễ Cha

09/06/202116:03:00(Xem: 13233)

 

Tieu Luc Than Phong
Cha và con. (hình Tiểu Lục Thần Phong)

 


Thời gian vẫn không ngừng trôi, hết xuân lại hạ, ngày tháng dần qua như nước chảy mây bay, sóng sau đè sóng trước, từng thế hệ lần lượt nối tiếp nhau. Ba chẳng mấy chốc giờ đã lên nội, ngoại. Tóc ba đã bạc trắng mái đầu, mỏi gối chồn chân… Thương ba nhưng đành chịu thôi, quy luật sinh – lão – bệnh – tử có chừa ai đâu! 

 Xứ mình không có ngày lễ cha, lễ cha xuất phát từ phương tây. Người phương đông vốn nặng tình nhưng thường  hay che giấu cảm xúc, ít biểu lộ. Tình cảm thường ẩn dưới những lời nói, lời hỏi thăm hay những việc làm nào đó, rất hiếm khi nói:” Con thương ba, ba thương con” như kiểu người phương tây. Người phương đông, nhất là những dân tộc chịu ảnh hưởng sâu đậm nền văn hóa Khổng giáo thì vai trò người cha rất lớn, nghiêm khắc và gia trưởng. Người Việt cũng thế, người cha trong gia đình có uy quyền lớn lắm, dân gian ta thường bảo:” Mẹ đánh trăm không bằng cha hăm một” là vậy! Ngôi vị người cha đứng hàng thứ ba trong ba ngôi:” Quân, sư, phụ”, “ Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”. Ngày nay đã nhạt nhòa, tuy nhiên tính gia trưởng vẫn còn rơi rớt.
 

 Ngày lễ cha lặng lẽ, ít hoa và quà, không xôn xao nhiều sắc thái bằng ngày lễ mẹ, âu cũng là lẽ thường tình. Người đàn ông thì không có nhiều màu mè hoa lá như phụ nữ. Một lẽ khác nữa là vị trí người mẹ trong tâm tư tình cảm người thế gian sâu đậm hơn, gắn bó hơn, gần gũi hơn. Người mẹ manng nặng đẻ đau, bú mớn, chăm sóc… Khi đứa con có việc gì cần thì cũng thường thủ thỉ với mẹ dễ hơn là nói với cha. Người cha có thể ví như cây tùng, cây bách, trượng phu, trụ cột trong gia đình nên càng vững vàng càng ít rườm rà hoa lá, từ đó ngày lễ cha cũng lặng lẽ hơn, ít sắc thái biểu cảm hơn. 

 Nước Việt là nước văn minh nông nghiệp lúa nước. Người Việt sống nặng về tình cảm, cảm tính, tình cảm ràng buộc mọi người với nhau, liên đới lẫn nhau . Trong những mối ràng buộc đó thì tình cha là một tình cảm thiêng liêng cao quý không khác chi tình mẹ con:

 Công cha như núi Thái sơn 

 Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

 Một lòng thờ mẹ kính cha

 Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

 Bài ca dao này có thể nói là “kinh điển”, “ mực thước” nhất nói về tình nghĩa cha mẹ cũng như bổn phận con cái. Có thể nói hầu hết người Việt ai cũng biết bài ca dao này. Tác giả bái hát:” Công đức sinh thành” cũng đưa nội dung bài ca dao này vào bài hát của mình và bài hát này thường lồng vào các clip đám cưới như để nhắc nhở con cái nhớ về công ơn cha mẹ. Ngày lễ cha, nghe lại bài hát này lòng rưng rưng nhớ cha, nhớ mẹ khôn cùng. Thật sự cha mẹ luôn ở trong tâm khảm của những người con hiếu, bài hát này hay ngày lễ cha, lễ mẹ chỉ là cái duyên để khơi tưởng nhớ thêm. 

 Đời sống muôn mặt, tình cảm muôn màu, cách biểu hiện cũng nhiều sắc thái… tất cả cũng bởi nhân tâm bất đồng, nhân duyên khác biệt. Đại đa số những người cha, người mẹ đều tuyệt vời, đều yêu thương con cái, nhưng đời cũng có những người cha hay mẹ thật tệ, sống vô trách nhiệm, bỏ mặt con cái. Ca dao Việt phản ánh:

 Gió đưa bụi chuối sau hè

 Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ

 Đời sống thường ngày hay trong văn chương có không ít những người cha hy sinh vì con cái, chịu cảnh gà trống nuôi con, tất cả chỉ vì yêu thương lo lắng cho con mình được sống an vui:

 Mồ côi cha ăn cơm với cá

 Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường

 Kho tàng văn học dân gian Việt Nam có vô số những câu ca viết về cha, nhửng câu ca dao hay tục ngữ phản ảnh tình cảm của người dân, là lời ăn tiếng nói, là tâm hồn của người lao động. Ngày xưa, khi nước Việt mở mang về phương nam, dòng  người từ bắc vào nam khai hoang lập ấp, điều kiện xa xôi cách trở, không phải ai ra đi cũng mang theo cả gia đình được, có những người con đi xa ngóng về quê nhà nhớ cha, nhớ mẹ:

 Đến đây phải lụy câu hò

 Thương cha nhớ mẹ con đò cách xa 

 Có những người con thương cha nhớ mẹ, nằm ngó nóc nhà mái tranh mà buộc miệng ngâm:

 Ngó lên lạt buộc mái nhà

 Thương cha nhớ mẹ lòng đà quặn đau 

 Cũng với hoàn cảnh ấy, tâm sự ấy nhưng dân gian có thêm những phiên bản khác, cũng diễn tả nỗi lòng thương cha nhớ mẹ nhưng còn khái quát nỗi nhớ thương ấy nhiều hơn, sâu đậm hơn  và buộc chặt lắm, tợ như những mối lạc buộc tranh:

 Ngó lên lạc buộc mái nhà

 Lạc bao nhiêu mối thương mẹ ( cha) già bấy nhiêu

Người cha phương tây, người cha Việt ở hải ngoại có thể nói là không quá cựcc nhọc lam lũ để nuôi con, cũng không có cái lối:” Hy sinh đời bố củng cố đời con” như những người cha Việt nơi cố quận. Phải công nhận rằng những người cha ở quê hương mình, nhất là những người nông dân nghèo khổ, quanh năm lam lũ cực nhọc kiếm được những đồng tiền ít ỏi để nuôi con ăn học, gom góp chắt chiu từng đồng gởi lên thành đóng học phí cho con, phải nói là những đồng tiền ấy thấm đẫm mồ hôi nước mắt của cha, của mẹ. Những người cha nghèo ở thành thị cũng không khác gì, bán thịt mua xương, vất vả trăm bề làm ra đồng tiền để nuôi con, khó có bút mực nào tả nổi nỗi nhọc nhằn của những người cha như thế. Những người sinh ra trong nhung lụa, lớn lên trong sự sung túc khó mà hiểu được công lao  cũng như sự hy sinh của mẹ, cha.



 Nếu ví:” Tình mẹ bao la như biển thái bình dạt dào” thì:” Tình cha ấm áp như vầng thái dương” ( lời của bài hát). Khi con còn bé thơ, cha cõng con vào đời, lớn lên, cha lại dắt con vào đời. Cha là chỗ dựa cho đời con. Nhà Phật ví:” Dầu có cõng cha mẹ trên hai vai, đi khắp thế gian này cũng không báo đáp được công lao của cha mẹ”, công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ lớn lắm, là một trong tứ trọng ân, không chỉ những người con Phật ghi nhớ, mà tất cả mọi người cũng đều ghi nhớ! 

 Truyền thống phương đông cũng như hoàn cảnh và tập quán xã hội, tình cảm cha mẹ và con cái sâu đậm, sống gắn bó với nhau, ở chung một nhà. Khi con còn nhỏ thì cậy cha mẹ, khi cha mẹ già thì lại cậy con:” Trẻ cậy cha già cậy con”. Truyền thống phương tây lại khác, coi trọng chủ nghĩa cá nhân, hầu như không có chuyện cha mẹ và con cái sống chung một nhà. Con cái đủ trưởng thành thì phải ra riêng. Cha mẹ dẫu có già cũng thích sống độc lập hoặc vào viện dưỡng lão chứ ít khi chịu chung đụng với con cái. Hoàn cảnh xã hội và tập quán văn hóa nó thế. Ở phương tây phương tiện vật chất đầy đủ, chính phủ có chính sách chăm sóc người già, có hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe tốt… Nhưng cũng phải công nhận là tình cảm cha mẹ và con cái của người phương tây ít sâu đậm và ràng buộc như người Việt. Cha mẹ Việt rất thương con cái, không chỉ nuôi nấng từ tấm bé, chu cấp cho ăn học, dựng vợ gả chồng… mà còn lo nhiều thứ nữa, ràng buộc quấn quýt  nhau, thậm chí khi con hư vần không nỡ lòng bỏ, con đã trưởng thành rồi vẫn quan hoài lo lắng… nói chung là lo lắng quan tâm cả một đời. Vì thế mà những người con hiếu cũng thương cha mẹ rất mực, sự gắn bó với nhau không chỉ một kiếp này mà có thể còn nhiều đời nhiều kiếp:

 Đêm đêm con thắp đèn trời

 Cầu cho cha mẹ sống đời với con 

 Hoặc là 

 Lên non bứt sợi mây rừng

 Thấy cha khỏe mạnh con mừng hơn ăn

 Mây rừng vốn gai góc, mọc thành bụi, bứt được mây rừng không phải dễ. Ăn là việc quan trọng hàng đầu của con người cũng như của sinh vật, có ăn mới sống được. Ấy vậy mà với người con hiếu thảo thì thấy cha khỏe mạnh còn vui hơn được ăn. Người con hiếu thảo, thương cha ( mẹ) được mô tả một cách mộc mạc, chân thành qua cái nhìn của người dân lao động. Người dân quê thố lộ tình cảm, gởi gắm tâm sự qua những bài dân ca, ca dao rất thiết tha, đơn giản như công việc và cuộc sống của chính họ

 Còn cha còn mẹ thì hơn

 Mất cha mất mẹ như đờn đứt dây

 Đờn đức dây thì còn thay được, cha mẹ mất rồi thì con bơ vơ đau buồn lắm, chẳng có gì thay được!

 Vị trí người cha trong con mắt dân gian cũng rất gần gũi, thân mật và rất cụ thể, khác với cái nhìn người cha qua văn chương của khổng giáo hay của những vị học rộng tài cao, chữ nghĩa nhiều. Người dân quê nói về cha rất thật, rất đời thường:

 Con có cha như nhà có nóc

 Hoặc 

 Con có cha như nhà có nóc

 Con không cha như nòng nọc đứt đuôi

 Người cha quan trọng lắm, con không cha khó mà nên người, không có cha lấy ai rèn dũa, dạy bảo? tất nhiên cũng có những người con mồ côi cha vẫn nên người, vẫn thành đạt trên đường đời 

 Ngày lễ cha vốn đã không sôi nổi như ngày lễ mẹ, hơn thế năm nay vẫn còn dịch nên ngày lễ cha năm nay càng thêm trầm lắng nhưng với những người con hiếu thì lòng thương cha nhớ mẹ vẫn không hề suy suyển, ngày nào hình bóng cha mẹ vẫn ở trong tâm.

 Phương tây có những ngày lễ rất thiết thực, rất nhân bản như: Ngày lễ cha, ngày lễ mẹ, ngày lễ tình yêu… rất thực tế, rất đời thường, nhắc nhở mọi người thương yêu và trân trọng những người thân của mình, đó cũng đồng với ý nghĩa “ Ngay bây giờ và ở đây”. Hãy yêu thương và biết ơn những người thương của mình, hãy trân trọng những người yêu thương của mình, hãy yêu thương và chăm sóc cha mẹ cho tử tế, đừng hờ hững để rồi hối hận. Cha mẹ sống không lo lắng yêu thương, đến khi chết thì cúng tế rùm beng, mồ to mả lớn chẳng có nghĩa lý gì. Dân gian đã minh định rõ ràng

 Khi sống thì chẳng cho ăn

 Đến khi chết xuống làm văn tế ruồi

 Thời đại hôm nay, cuộc sống chạy theo chủ nghĩa vật chất và thực dụng, con  gười ( nhất là giới trẻ) lệ thuộc nặng nề vào phương tiện vật chất, sống không thể thiếu: Internet, điện thoại thông minh, Ipad… và bao nhiêu thứ khác. Con người dần xa rời truyền thống của ông bà cha mẹ, âu cũng là lẽ đương nhiên. Cái đáng nói là con người ta dần phai nhạt bớt tình nghĩa cha mẹ, coi nhẹ truyền thống “ Ơn nghĩa sinh thành”, thậm chí còn coi đó là lạc hậu, cũ kỹ, không hợp thời… Đây là điều đáng tiếc! Cái tình nghĩa cha mẹ muôn đời vẫn thế không thể có chuyện cũ mới, con người sống phải có tình, có hiếu thì mới nên người. Con người không phải là người máy! Chừng nào mà con người còn được sinh ra và nuôi dưỡng bởi cha mẹ thì cái tình cha mẹ không thể nào cũ và lạc hậu được! Tình nghĩa cha mẹ ngàn đời trước đã thế, bây giờ tiếp nối và có lẽ mai sau vẫn vậy. 

 Ngày lễ cha, con xin gởi về cha lòng yêu thương, kính trọng. Con cầu Phật gia hộ cho cha mẹ sống trong tình thương, tỉnh thức, thân khỏe mạnh, tâm thường lạc.

 

TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 06/2021

 

Khi còn trẻ, đôi lúc, tôi cũng (thoáng) có ý định sẽ trở thành một người cầm bút. Ở một xứ sở mà phần lớn người ta đều cầm cuốc, cầm búa, cầm kìm hay cầm súng… mà định cầm viết thì quả là một chuyện khá viển vông – nếu không muốn nói là hơi xa xỉ. Lúc không còn trẻ (nữa) tôi mới ngộ ra rằng: bút viết nó chọn người, chứ không phải là ngược lại – trừ khi mình cứ cầm đại thì không kể. Tôi không được (hay bị) lựa và cũng không có máu liều – như phần lớn quí vị trong Hội Nhà Văn Việt Nam Đương Đại – nên chuyện viết lách kể như … trớt quớt!
Nuôi dưỡng nền dân chủ giống như kẻ trồng cây: khi còn là hạt giống phải chống đỡ quạ tha gà mổ; cây còn non trẻ cần ngăn ngừa sâu bọ; đến lúc trưởng thành già nua phải chặt bớt những cành lớn không thì một cơn bão lớn sẽ làm đổ ngã thân cây. Việt Nam chưa có dân chủ nên tranh đấu đòi dân chủ. Nền dân chủ non trẻ tại Phi Luật Tân bị đe dọa trở lại độc tài. Dân chủ ở Mỹ trưởng thành lâu đời nay lại nảy sinh ra dấu hiệu già nua thoái hóa thành một hình dạng gì chưa nhận biết được.
Xét về cao độ thì Sơn Núi (Nguyễn Đức Sơn) ở thấp hơn nhiều bạn đồng nghiệp của mình – như Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự… – xa lắc. Những nhân vật này đều có thời là biên tập viên của tạp chí Lang Biang, tờ báo (đã bị đóng cửa) này lấy tên theo vùng cao nguyên lâm Viên mà họ đang sinh sống. Đỉnh Lâm Viên, ở Đà Lạt, cao hơn hai ngàn mét lận. Từ đây, muốn leo lên trời (để đái, hay làm gì tùy thích) còn tiện hơn nhiều. Ngoài lợi thế nhỏ nhặt này ra, những cư dân ở miền sơn cước gặp phải toàn là những điều (vô cùng) bất tiện. Họ xa cách (mịt mù) với thế giới văn minh, ở những đô thị miền xuôi. Tôm cá hì hục chở lên đến được đến cao nguyên (thường) đã bị ươn, và thông tin khi nhận được thì (ôi thôi) hoàn toàn đã cũ.
Giữa mùa đại dịch COVID-19, tại những buổi tường trình mỗi ngày, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Phó Tổng thống Mike Pence không ngớt tiên đoán sự lớn mạnh vượt bực của kinh tế quốc gia Hoa Kỳ sau khi tình hình dịch tễ lắng đọng. Hai ông nhấn mạnh rằng kinh tế Mỹ hậu-COVID-19 sẽ tìm lại thế quân bằng sau những chao đảo khiếp hãi khiến cả 40 triệu nhân công thất nghiệp trong vòng vỏn vẹn ba tháng trời. Đầu tháng Sáu, hy vọng bắt đầu le lói khi guồng máy kinh tế rục rịch mở cửa lại, ai nấy trông đợi ánh sáng tỏa lớn cuối đường hầm.Tuy nhiên, mặc dù người ta có quyền hy vọng vào sự thịnh vượng chung, nhưng sự thật là đối với các thành phần ít may mắn hơn trong xã hội (vâng, phần đông trong đó là những sắc dân da màu thiểu số), khó khăn kinh tế gần như là một điều chắc chắn. Ai cũng tưởng sau khi COVID-19 giáng một đòn chí tử lên kinh tế Hoa Kỳ, thì khoảng cách chênh lệch giữa hai thành phần giàu-nghèo sẽ phần nào thu hẹp, nhưng oái oăm thay, mọi bằng chứng cho thấy sự khác biệt ấy
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.