Hôm nay,  

Ngày Lễ Cha

09/06/202116:03:00(Xem: 5277)

 

Tieu Luc Than Phong
Cha và con. (hình Tiểu Lục Thần Phong)

 


Thời gian vẫn không ngừng trôi, hết xuân lại hạ, ngày tháng dần qua như nước chảy mây bay, sóng sau đè sóng trước, từng thế hệ lần lượt nối tiếp nhau. Ba chẳng mấy chốc giờ đã lên nội, ngoại. Tóc ba đã bạc trắng mái đầu, mỏi gối chồn chân… Thương ba nhưng đành chịu thôi, quy luật sinh – lão – bệnh – tử có chừa ai đâu! 

 Xứ mình không có ngày lễ cha, lễ cha xuất phát từ phương tây. Người phương đông vốn nặng tình nhưng thường  hay che giấu cảm xúc, ít biểu lộ. Tình cảm thường ẩn dưới những lời nói, lời hỏi thăm hay những việc làm nào đó, rất hiếm khi nói:” Con thương ba, ba thương con” như kiểu người phương tây. Người phương đông, nhất là những dân tộc chịu ảnh hưởng sâu đậm nền văn hóa Khổng giáo thì vai trò người cha rất lớn, nghiêm khắc và gia trưởng. Người Việt cũng thế, người cha trong gia đình có uy quyền lớn lắm, dân gian ta thường bảo:” Mẹ đánh trăm không bằng cha hăm một” là vậy! Ngôi vị người cha đứng hàng thứ ba trong ba ngôi:” Quân, sư, phụ”, “ Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”. Ngày nay đã nhạt nhòa, tuy nhiên tính gia trưởng vẫn còn rơi rớt.
 

 Ngày lễ cha lặng lẽ, ít hoa và quà, không xôn xao nhiều sắc thái bằng ngày lễ mẹ, âu cũng là lẽ thường tình. Người đàn ông thì không có nhiều màu mè hoa lá như phụ nữ. Một lẽ khác nữa là vị trí người mẹ trong tâm tư tình cảm người thế gian sâu đậm hơn, gắn bó hơn, gần gũi hơn. Người mẹ manng nặng đẻ đau, bú mớn, chăm sóc… Khi đứa con có việc gì cần thì cũng thường thủ thỉ với mẹ dễ hơn là nói với cha. Người cha có thể ví như cây tùng, cây bách, trượng phu, trụ cột trong gia đình nên càng vững vàng càng ít rườm rà hoa lá, từ đó ngày lễ cha cũng lặng lẽ hơn, ít sắc thái biểu cảm hơn. 

 Nước Việt là nước văn minh nông nghiệp lúa nước. Người Việt sống nặng về tình cảm, cảm tính, tình cảm ràng buộc mọi người với nhau, liên đới lẫn nhau . Trong những mối ràng buộc đó thì tình cha là một tình cảm thiêng liêng cao quý không khác chi tình mẹ con:

 Công cha như núi Thái sơn 

 Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

 Một lòng thờ mẹ kính cha

 Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

 Bài ca dao này có thể nói là “kinh điển”, “ mực thước” nhất nói về tình nghĩa cha mẹ cũng như bổn phận con cái. Có thể nói hầu hết người Việt ai cũng biết bài ca dao này. Tác giả bái hát:” Công đức sinh thành” cũng đưa nội dung bài ca dao này vào bài hát của mình và bài hát này thường lồng vào các clip đám cưới như để nhắc nhở con cái nhớ về công ơn cha mẹ. Ngày lễ cha, nghe lại bài hát này lòng rưng rưng nhớ cha, nhớ mẹ khôn cùng. Thật sự cha mẹ luôn ở trong tâm khảm của những người con hiếu, bài hát này hay ngày lễ cha, lễ mẹ chỉ là cái duyên để khơi tưởng nhớ thêm. 

 Đời sống muôn mặt, tình cảm muôn màu, cách biểu hiện cũng nhiều sắc thái… tất cả cũng bởi nhân tâm bất đồng, nhân duyên khác biệt. Đại đa số những người cha, người mẹ đều tuyệt vời, đều yêu thương con cái, nhưng đời cũng có những người cha hay mẹ thật tệ, sống vô trách nhiệm, bỏ mặt con cái. Ca dao Việt phản ánh:

 Gió đưa bụi chuối sau hè

 Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ

 Đời sống thường ngày hay trong văn chương có không ít những người cha hy sinh vì con cái, chịu cảnh gà trống nuôi con, tất cả chỉ vì yêu thương lo lắng cho con mình được sống an vui:

 Mồ côi cha ăn cơm với cá

 Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường

 Kho tàng văn học dân gian Việt Nam có vô số những câu ca viết về cha, nhửng câu ca dao hay tục ngữ phản ảnh tình cảm của người dân, là lời ăn tiếng nói, là tâm hồn của người lao động. Ngày xưa, khi nước Việt mở mang về phương nam, dòng  người từ bắc vào nam khai hoang lập ấp, điều kiện xa xôi cách trở, không phải ai ra đi cũng mang theo cả gia đình được, có những người con đi xa ngóng về quê nhà nhớ cha, nhớ mẹ:

 Đến đây phải lụy câu hò

 Thương cha nhớ mẹ con đò cách xa 

 Có những người con thương cha nhớ mẹ, nằm ngó nóc nhà mái tranh mà buộc miệng ngâm:

 Ngó lên lạt buộc mái nhà

 Thương cha nhớ mẹ lòng đà quặn đau 

 Cũng với hoàn cảnh ấy, tâm sự ấy nhưng dân gian có thêm những phiên bản khác, cũng diễn tả nỗi lòng thương cha nhớ mẹ nhưng còn khái quát nỗi nhớ thương ấy nhiều hơn, sâu đậm hơn  và buộc chặt lắm, tợ như những mối lạc buộc tranh:

 Ngó lên lạc buộc mái nhà

 Lạc bao nhiêu mối thương mẹ ( cha) già bấy nhiêu

Người cha phương tây, người cha Việt ở hải ngoại có thể nói là không quá cựcc nhọc lam lũ để nuôi con, cũng không có cái lối:” Hy sinh đời bố củng cố đời con” như những người cha Việt nơi cố quận. Phải công nhận rằng những người cha ở quê hương mình, nhất là những người nông dân nghèo khổ, quanh năm lam lũ cực nhọc kiếm được những đồng tiền ít ỏi để nuôi con ăn học, gom góp chắt chiu từng đồng gởi lên thành đóng học phí cho con, phải nói là những đồng tiền ấy thấm đẫm mồ hôi nước mắt của cha, của mẹ. Những người cha nghèo ở thành thị cũng không khác gì, bán thịt mua xương, vất vả trăm bề làm ra đồng tiền để nuôi con, khó có bút mực nào tả nổi nỗi nhọc nhằn của những người cha như thế. Những người sinh ra trong nhung lụa, lớn lên trong sự sung túc khó mà hiểu được công lao  cũng như sự hy sinh của mẹ, cha.



 Nếu ví:” Tình mẹ bao la như biển thái bình dạt dào” thì:” Tình cha ấm áp như vầng thái dương” ( lời của bài hát). Khi con còn bé thơ, cha cõng con vào đời, lớn lên, cha lại dắt con vào đời. Cha là chỗ dựa cho đời con. Nhà Phật ví:” Dầu có cõng cha mẹ trên hai vai, đi khắp thế gian này cũng không báo đáp được công lao của cha mẹ”, công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ lớn lắm, là một trong tứ trọng ân, không chỉ những người con Phật ghi nhớ, mà tất cả mọi người cũng đều ghi nhớ! 

 Truyền thống phương đông cũng như hoàn cảnh và tập quán xã hội, tình cảm cha mẹ và con cái sâu đậm, sống gắn bó với nhau, ở chung một nhà. Khi con còn nhỏ thì cậy cha mẹ, khi cha mẹ già thì lại cậy con:” Trẻ cậy cha già cậy con”. Truyền thống phương tây lại khác, coi trọng chủ nghĩa cá nhân, hầu như không có chuyện cha mẹ và con cái sống chung một nhà. Con cái đủ trưởng thành thì phải ra riêng. Cha mẹ dẫu có già cũng thích sống độc lập hoặc vào viện dưỡng lão chứ ít khi chịu chung đụng với con cái. Hoàn cảnh xã hội và tập quán văn hóa nó thế. Ở phương tây phương tiện vật chất đầy đủ, chính phủ có chính sách chăm sóc người già, có hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe tốt… Nhưng cũng phải công nhận là tình cảm cha mẹ và con cái của người phương tây ít sâu đậm và ràng buộc như người Việt. Cha mẹ Việt rất thương con cái, không chỉ nuôi nấng từ tấm bé, chu cấp cho ăn học, dựng vợ gả chồng… mà còn lo nhiều thứ nữa, ràng buộc quấn quýt  nhau, thậm chí khi con hư vần không nỡ lòng bỏ, con đã trưởng thành rồi vẫn quan hoài lo lắng… nói chung là lo lắng quan tâm cả một đời. Vì thế mà những người con hiếu cũng thương cha mẹ rất mực, sự gắn bó với nhau không chỉ một kiếp này mà có thể còn nhiều đời nhiều kiếp:

 Đêm đêm con thắp đèn trời

 Cầu cho cha mẹ sống đời với con 

 Hoặc là 

 Lên non bứt sợi mây rừng

 Thấy cha khỏe mạnh con mừng hơn ăn

 Mây rừng vốn gai góc, mọc thành bụi, bứt được mây rừng không phải dễ. Ăn là việc quan trọng hàng đầu của con người cũng như của sinh vật, có ăn mới sống được. Ấy vậy mà với người con hiếu thảo thì thấy cha khỏe mạnh còn vui hơn được ăn. Người con hiếu thảo, thương cha ( mẹ) được mô tả một cách mộc mạc, chân thành qua cái nhìn của người dân lao động. Người dân quê thố lộ tình cảm, gởi gắm tâm sự qua những bài dân ca, ca dao rất thiết tha, đơn giản như công việc và cuộc sống của chính họ

 Còn cha còn mẹ thì hơn

 Mất cha mất mẹ như đờn đứt dây

 Đờn đức dây thì còn thay được, cha mẹ mất rồi thì con bơ vơ đau buồn lắm, chẳng có gì thay được!

 Vị trí người cha trong con mắt dân gian cũng rất gần gũi, thân mật và rất cụ thể, khác với cái nhìn người cha qua văn chương của khổng giáo hay của những vị học rộng tài cao, chữ nghĩa nhiều. Người dân quê nói về cha rất thật, rất đời thường:

 Con có cha như nhà có nóc

 Hoặc 

 Con có cha như nhà có nóc

 Con không cha như nòng nọc đứt đuôi

 Người cha quan trọng lắm, con không cha khó mà nên người, không có cha lấy ai rèn dũa, dạy bảo? tất nhiên cũng có những người con mồ côi cha vẫn nên người, vẫn thành đạt trên đường đời 

 Ngày lễ cha vốn đã không sôi nổi như ngày lễ mẹ, hơn thế năm nay vẫn còn dịch nên ngày lễ cha năm nay càng thêm trầm lắng nhưng với những người con hiếu thì lòng thương cha nhớ mẹ vẫn không hề suy suyển, ngày nào hình bóng cha mẹ vẫn ở trong tâm.

 Phương tây có những ngày lễ rất thiết thực, rất nhân bản như: Ngày lễ cha, ngày lễ mẹ, ngày lễ tình yêu… rất thực tế, rất đời thường, nhắc nhở mọi người thương yêu và trân trọng những người thân của mình, đó cũng đồng với ý nghĩa “ Ngay bây giờ và ở đây”. Hãy yêu thương và biết ơn những người thương của mình, hãy trân trọng những người yêu thương của mình, hãy yêu thương và chăm sóc cha mẹ cho tử tế, đừng hờ hững để rồi hối hận. Cha mẹ sống không lo lắng yêu thương, đến khi chết thì cúng tế rùm beng, mồ to mả lớn chẳng có nghĩa lý gì. Dân gian đã minh định rõ ràng

 Khi sống thì chẳng cho ăn

 Đến khi chết xuống làm văn tế ruồi

 Thời đại hôm nay, cuộc sống chạy theo chủ nghĩa vật chất và thực dụng, con  gười ( nhất là giới trẻ) lệ thuộc nặng nề vào phương tiện vật chất, sống không thể thiếu: Internet, điện thoại thông minh, Ipad… và bao nhiêu thứ khác. Con người dần xa rời truyền thống của ông bà cha mẹ, âu cũng là lẽ đương nhiên. Cái đáng nói là con người ta dần phai nhạt bớt tình nghĩa cha mẹ, coi nhẹ truyền thống “ Ơn nghĩa sinh thành”, thậm chí còn coi đó là lạc hậu, cũ kỹ, không hợp thời… Đây là điều đáng tiếc! Cái tình nghĩa cha mẹ muôn đời vẫn thế không thể có chuyện cũ mới, con người sống phải có tình, có hiếu thì mới nên người. Con người không phải là người máy! Chừng nào mà con người còn được sinh ra và nuôi dưỡng bởi cha mẹ thì cái tình cha mẹ không thể nào cũ và lạc hậu được! Tình nghĩa cha mẹ ngàn đời trước đã thế, bây giờ tiếp nối và có lẽ mai sau vẫn vậy. 

 Ngày lễ cha, con xin gởi về cha lòng yêu thương, kính trọng. Con cầu Phật gia hộ cho cha mẹ sống trong tình thương, tỉnh thức, thân khỏe mạnh, tâm thường lạc.

 

TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 06/2021

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.