Hôm nay,  

Sự lãng quên

10/11/202300:00:00(Xem: 3857)
su lang quen
 
Tuy lịch sử không nói đến, nhưng nếu chịu khó lục lọi đây đó, người ta sẽ tìm ra một giai thoại khá thú vị về việc bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam được Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc trong buổi lễ trước công chúng tại vườn hoa Ba Đình (nay là Quảng trường Ba Đình) ngày 2 tháng 9 năm 1945. Theo tường thuật của nhà báo Hồng Hà trên báo Cứu Quốc của Việt Minh, ông Nguyễn Hữu Đang là người đọc chương trình buổi lễ và giới thiệu Chính phủ Lâm thời cùng chủ tịch Chính phủ đọc Tuyên ngôn Độc lập. Ông Nguyễn Hữu Đang là Trưởng ban Tổ chức Lễ đài, ông chính là người đứng trước micro giới thiệu: “Thưa đồng bào... Đây là Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh.” Nói xong, ông lùi lại, nhường micro cho Hồ Chí Minh.
    Bức ảnh chụp ông Hồ đọc bản tuyên ngôn có Nguyễn Hữu Đang đứng ngay sau lưng. Có lẽ đó là bức ảnh được truyền bá sâu rộng nhất trong nước vào thời điểm đó, trên báo chí cho quần chúng đọc, trên sách vở cho học sinh, sinh viên học hành, trên tài liệu cho cán bộ, quân nhân học tập, v.v… Nhưng, hơn mười năm sau đó, sau khi ông Nguyễn Hữu Đang và nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm bị đảng trù giập không thương tiếc, bản thân ông bị tống cổ vào tù, thì hình ảnh ông đứng sau lưng Hồ Chí Minh bị tẩy xóa (rất tinh vi). Từ lúc đó trở về sau, bức ảnh Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập không có Nguyễn Hữu Đang.
    Cũng vào quãng thời gian này, một chuyện tương tự xảy ra bên trời Tây, sau Đệ nhị Thế chiến, chính xác là tại Tiệp Khắc, một quốc gia phiên thuộc của đế quốc Xô Viết. Chuyện này được nhà văn Milan Kundera [1929-2023] thuật lại trong cuốn tiểu thuyết Tập sách cái cười và sự lãng quên của ông, một tác phẩm quan trọng đã đưa tên tuổi ông lên hàng nhà văn tầm vóc quốc tế vào cuối thế kỷ XX. Ông viết như nhau:
    “Tháng Hai năm 1948, lãnh tụ Cộng sản Klement Gottwald bước ra bao lơn tòa dinh thự xây từ thời Baroque thủ đô Praha để hiệu triệu hàng trăm nghìn công dân đứng chật ních dưới quảng trường Phố Cổ. Đó là khúc quành trọng đại của lịch sử Bohemia – một thời khắc định mệnh.
    Đứng cạnh Gottwald là các đồng chí của ông, Clementis gần nhất, ngay bên cạnh. Tuyết rơi tầm tã, trời se sắt lạnh, và Gottwald để đầu trần. Thấy vậy Clementis ân cần lấy mũ của mình đội lên đầu Gottwald.
    Cơ quan tuyên truyền của đảng in ra hàng trăm nghìn bức ảnh Gottwald đứng trên bao lơn, mũ lông thú trên đầu, các đồng chí đứng bên cạnh, nói chuyện với quốc dân. Lịch sử xứ Bohemia Cộng sản khởi đi từ cái bao lơn đó. Qua bích chương, sách vở, bảo tàng viện, đứa trẻ nào cũng biết rõ bức ảnh.
    Bốn năm sau họ khép Clementis vào tội phản quốc và đem ông ra treo cổ. Ngay tức khắc cơ quan tuyên truyền của đảng bôi xóa ông khỏi lịch sử và, dĩ nhiên, ra khỏi tất cả những hình ảnh họ công bố trước đây. Từ lúc đó trở đi, Gottwald đứng một mình trên bao lơn.
    Nơi Clementis đứng giờ đây chỉ còn lại bức tường trơ trọi của tòa dinh thự. Clementis hoàn toàn tan biến, chẳng còn lại gì, ngoại trừ cái mũ lông thú trên đầu Gottwald.”
   Đảng Cộng sản Việt Nam xóa ảnh Nguyễn Hữu Đang đứng sau lưng Hồ Chí Minh, họ còn xóa những hình ảnh kinh hoàng của biến cố Tết Mậu Thân 1968 thảm khốc ra khỏi lịch sử. Trong chiến tranh, quân lính hai bên chém giết nhau là chuyện có thể chấp nhận, con người từ lâu vốn tự đặt ra quy luật bất thành văn như thế, nhưng giết người già, em bé vô tội – không phải một vài người mà hàng ngàn người – không chút vũ khí tự vệ trong tay là tội ác chiến tranh, là sát nhân. Biết như thế, người Cộng sản Việt Nam bằng mọi giá, mọi cách, phải xóa bức ảnh thảm đát, ghê rợn đó ra khỏi lịch sử.
 
***
 
Nguyễn Hữu Đang của Việt Nam và Clementis của Tiệp Khắc, nạn nhân Mậu Thân 1968, bây giờ chỉ còn là những bóng ma, bóng ma quá khứ. Chỉ bóng ma mới có thể hiện ra và tan biến không để lại hình tích gì trên một bức ảnh, và bởi vì là bóng ma nên nó chỉ làm được một việc duy nhất là hù dọa trẻ nít và những kẻ yếu bóng vía. Nó chẳng làm được gì cho lịch sử. Lịch sử gạt nó ra ngoài lề, nếu ta hiểu lịch sử đồng nghĩa với quyền lực.
   Những bóng ma ấy, và vô vàn những bóng ma khác, sẽ dần dà trôi vào miền quên lãng. Sự hiện hữu của chúng là một nghi vấn, và trí óc con người luôn luôn sẵn sàng biến nghi vấn thành sự lãng quên.
    Sự lãng quên có ý nghĩa về mặt nhận thức, vì nó liên quan đến những gì chúng ta có thể biết và cách thế chúng ta biện minh cho niềm tin của mình. Nó cũng có thể liên quan đến chủ nghĩa hoài nghi trong triết học, đặc biệt trong ngữ cảnh của chủ nghĩa hoài nghi thế giới ngoại tại. Nếu chúng ta quên đi những trải nghiệm hoặc tri thức nhận thức trước đây, điều đó có thể đặt ra câu hỏi về độ tin cậy của các giác quan và khả năng nhận thức thế giới bên ngoài. Triết gia Friedrich Nietzsche có một quan điểm thú vị về sự lãng quên. Ông lập luận rằng quên không chỉ là sự suy giảm trí nhớ mà là một khía cạnh cần thiết của ý chí quyền lực và sự tự khẳng định. Ông tin rằng các cá nhân cần quên đi những trải nghiệm và giá trị trong quá khứ để tạo ra những cái mới và khẳng định bản sắc riêng của mình. Khái niệm về sự lãng quên cũng có thể liên quan đến bản sắc cá nhân trong bối cảnh triết lý của tâm trí. Câu hỏi liệu cùng một người có thể tồn tại xuyên thời gian dù đã quên nhiều trải nghiệm trong quá khứ hay không, vẫn là chủ đề tranh luận. Các triết gia theo Chủ nghĩa Hiện sinh như Jean-Paul Sartre thì đưa ra khám phá về ý tưởng quên trong bối cảnh tự do và trách nhiệm. Trong bối cảnh này, sự lãng quên có thể được xem là cách thế để vượt thoát khỏi gánh nặng của quá khứ và tạo ra sự tồn tại (hiện hữu, hiện tồn, hiện sinh, hữu thể) của chính mình. Còn ông triết gia José Ortéga Y Gassett thì không ngần ngại nói thẳng thừng một cách rất ư là bình dân dễ hiểu, “Quá khứ và tương lai không thể là cuộc chiến đấu tay đôi. Tương lai phải nuốt chửng quá khứ, nuốt hết, không để sót lại gì thì mới khỏi thua trận.”
    Xem ra sự lãng quên là một thuộc tính tất yếu của con người mà không phải ai cũng có thể khắc phục hoặc chế ngự. Con người vốn chóng quên. Trong một thế giới bão hòa với thông tin và dữ kiện như cuộc sống ngày nay, sự chóng quên lại là một yếu tố cần thiết để thích ứng với các điều kiện nội tại cũng như ngoại tại, như triết gia John Locke từng lập luận rằng khả năng quên là điều cần thiết để duy trì bản sắc cá nhân của một con người theo thời gian, bởi nếu không quên, tâm trí chúng ta sẽ tràn ngập những thông tin không liên quan và lỗi thời.
    Những vụ thảm sát do chiến tranh gây nên đánh động tâm tư chúng ta, nhưng thử hỏi ngày nay ai còn nhớ đến Mậu Thân 1968, ai còn nhớ đến Kosovo, đến Iraq. Tôi dám cược bất cứ cái gì là chỉ trong vòng vài năm nữa, khi ngọn lửa chiến tranh tàn lụi, sẽ chẳng còn ai nhớ đến Ukraine, đến Palestine nữa. Hình ảnh thảm khốc những đứa bé chết cháy thành than sẽ lùi vào quên lãng.
    Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng hậu đình hoa.
    Thi hào Đỗ Mục từ thời Vãn Đường, thế kỷ IX, đã ngậm ngùi than thở như thế. Vâng, chẳng phải bây giờ người ta mới chóng quên.
    Đối với các thế lực cực quyền, đây chính là điểm yếu của con người mà họ khai thác tới hạn để che đậy những tội ác do chính họ gây ra. Họ sử dụng nó như một công cụ bài bản để sửa đổi lịch sử sao cho phù hợp với quan điểm giáo điều và chính thống của họ. Tất cả những gì không đi theo đường lối, chủ trương của họ hoặc bất lợi cho họ về mặt tuyên truyền, họ không ngần ngại cho vào bóng tối, phủ nhận, lấp liếm, đổ thừa, cho dù những hành vi đó phi lý, vô lý đến đâu chăng nữa. Bạn đừng phí công phí sức chất vấn hay tranh luận về sự không hợp tình hợp lý, không tôn trọng sự thật của họ. Chỉ vô ích thôi bởi bạn đang nói chuyện với một cục đất ù lì. Trong bóng tối, sự vật trở nên mù mờ, xập xoạng như những bóng ma – những bóng ma Nguyễn Hữu Đang, Clementis và hàng trăm hàng ngàn bóng ma khác – không một chút trọng lượng, chẳng mảy may tác động lên bất cứ sự việc nào, và chỉ thoi thóp lóe lên trong giây phút phù du của lòng hoài niệm.
    Có lẽ bởi thế Kundera đã phải chua xót nói rằng: “Cuộc đấu tranh của con người chống lại quyền lực là cuộc đấu tranh của trí nhớ chống lại sự lãng quên.”
    Sự lãng quên sẽ ở với con người mãi mãi. Vĩnh viễn chúng ta bị đóng đinh vào sự lãng quên. Nó giúp cái Ác lên ngôi, và sự cứu chuộc vẫn nằm im không nhúc nhích bên trong lớp vỏ hy vọng mong manh của những kẻ khao khát Sự thật nhưng chẳng bao giờ tìm thấy.
 
– Trịnh Y Thư

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc khủng hoảng do virút corona đang tạo ra một môi trường toàn cầu nhiều cạnh tranh hơn, với sự "đối đầu" phát triển nhanh hơn là "hợp tác". Liên Minh Âu Châu chúng ta phải đối mặt với những vùng biển khắc nghiệt hơn và có nguy cơ bị cuốn vào những dòng chảy chéo chiều của các cường quốc đang đòi chúng ta chọn phe rõ rệt. Những thứ được coi là kỹ thuật và không phải là "chính trị cao", chẳng hạn như đầu tư và thương mại, công nghệ và tiền tệ, nay là thành phần của một cuộc cạnh tranh công khai, hoặc thậm chí là đối đầu. Những thứ mà người ta có thể dựa vào một cách vững chắc, như dữ kiện và khoa học, hiện đang bị thách thức và cuốn vào trận chiến của những bài tường thuật, khuếch đại thêm qua những phương tiện truyền thông xã hội.
Câu hỏi đang đặt ra ở Biển Đông là Trung Quốc có âm mưu gì khi bất ngờ gia tăng đe dọa và phủ nhận quyền chủ quyền của các nước có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai và Brunei, vào lúc cả thế giới lo phòng, chống dịch nạn Vũ Hán, xuất phát từ Trung Quốc từ đầu năm 2020 (Coronavirus disease 2019 (COVID-19). Để trả lời cho thắc mắc này, cũng như liệu tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông có đưa đên nguy cơ chiến tranh hay không, xin mời bạn đọc theo dõi nội dung Cuộc phỏng vấn của tôi với Giáo sư ngoại hạng (Professor Emeritus), Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng, người từng giảng dậy nhiều năm về Quan hệ Quốc tế tại Đại học George Mason, gần Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Giáo sư Hùng là Học giả cao cấp bất thường trú của Trung tâm nghiên cứu Chiến lươc và quan hệ Quốc tế ở Washington, D.C. (Center for Strategic and International Studies, CSIS). Ngoài ra ông còn là Học giả vãng lai hai niên khóa 2015-2016 tại viện nghiên cứu nổi tiếng ISEAS-Yusof Is
Sau khi ông George Floyd bị chết dưới bạo lực cảnh sát, một phong trào biểu tình chống kỳ thị người da đen đã bùng nổ và lan rộng khắp nước Mỹ và trên thế giới. Phong trào có sự tham gia của mọi tầng lớp, của nhiều sắc tộc khác nhau, trong đó có người Việt Nam. Sự kiện này đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong tập thể người Việt, do cách nhìn trái chiều về vấn đề kỳ thị chủng tộc đối với người da đen và phong trào Black Lives Matter. Đặc biệt là giữa thế hệ trẻ và thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng. Là một tổ chức đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền Việt Nam, với chủ trương Đấu tranh bất bạo động, đảng Việt Tân đã từng lên tiếng ủng hộ các phong trào biểu tình của người dân như ở Hong Kong. Chúng tôi có cuộc phỏng vấn với ông Hoàng Tứ Duy, Phát ngôn nhân Đảng Việt Tân, về nhận xét của ông đối với phong trào Black Lives Matter và sự tham gia của giới trẻ Việt Nam trong các cuộc xuống đường đòi công lý cho người Mỹ da đen.
Trong khi tham vọng kiểm soát của chế độ toàn trị vẫn như cũ, có một số khác biệt giữa những nỗ lực của Mao và Tập Cận Bình. “Tư tưởng của Tập Cận Bình là một thay thế nhạt màu cho Sách Đỏ của Mao. Tập Cận Bình đã không thể đưa ra một ý thức hệ mạch lạc để truyền cảm hứng cho sự cuồng tín trong những người theo ông, khác một chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc chung chung. Mặt khác, Tập có các công cụ công nghệ khả dụng mà đơn giản là không áp dụng cho những nhà độc tài trong thế kỷ 20. Hệ thống tín dụng xã hội kết hợp tất cả các phương pháp của thông minh nhân tạo, dữ liệu quy mô, cảm biến lan tỏa và đặt các phương tiện này vào trong tay nhà nước Trung Quốc. Cả Stalin và Mao đều không thể kiểm soát trực tiếp các phong trào hàng ngày, lời nói và giao dịch của từng đối tượng theo cách mà đảng Trung Quốc về mặt lý thuyết có thể làm ngày nay.
Một dự luật đã được đưa ra Quốc Hội Nhân Dân của Đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại Bắc Kinh, và đúng một tuần lễ sau, dự luật này đã được nhanh chóng thông qua vả trở thành Đạo Luật An Ninh Quốc Gia (ĐLANQG) về Hồng Kông vào ngày 29 tháng 5. Khi đưa ra Quốc Hội Nhân Dân để bàn thảo và thông qua, dự luật này gồm 7 điểm chính, trong đó ba điểm quan trọng nhất để đối phó và triệt hạ quyền tự chủ cùa Hồng Kông là điều số 2, số 4, và số 6. Theo đó, Bắc Kinh sẽ ngăn chặn tất cả các nguồn yểm trợ từ bên ngoài vào Hồng Kông; sẽ sử dụng được các lực lượng đàn áp từ Bắc Kinh để dập tắt các cuộc biểu tình, những người tham dự biểu tình có thể quy tội phản quốc, ly khai; và từ đó Bắc Kinh sẽ khai triển ra những đạo luật khác để thực hiện các mưu đồ trên.
Đảng Cộng Sản Việt Nam có truyền thống bán nước từ Hồ Chí Minh cho đến ngày nay. Người bán nước số một là Nguyễn Phú Trọng, bán nước một cách tinh vi, từ những bí mật nầy đến những bí mật khác để lừa bịp nhân dân. Đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, xem như thời kỳ Bắc thuộc lần thứ năm. Tuổi tác đã cao, sức khỏe yếu kém mà muốn ôm cái ghế quyền lực suốt đời. Thủ hạ Nguyễn Hồng Diên thăm dò dư luận bằng những lời lẽ nâng bi quá đáng, làm phản tác dụng, gây phẩn nộ trong quần chúng. Tóm lại, Nguyễn Phú Trọng và đảng của ông đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, đó là tội đồ của dân tộc.
Khi còn trẻ, đôi lúc, tôi cũng (thoáng) có ý định sẽ trở thành một người cầm bút. Ở một xứ sở mà phần lớn người ta đều cầm cuốc, cầm búa, cầm kìm hay cầm súng… mà định cầm viết thì quả là một chuyện khá viển vông – nếu không muốn nói là hơi xa xỉ. Lúc không còn trẻ (nữa) tôi mới ngộ ra rằng: bút viết nó chọn người, chứ không phải là ngược lại – trừ khi mình cứ cầm đại thì không kể. Tôi không được (hay bị) lựa và cũng không có máu liều – như phần lớn quí vị trong Hội Nhà Văn Việt Nam Đương Đại – nên chuyện viết lách kể như … trớt quớt!
Nuôi dưỡng nền dân chủ giống như kẻ trồng cây: khi còn là hạt giống phải chống đỡ quạ tha gà mổ; cây còn non trẻ cần ngăn ngừa sâu bọ; đến lúc trưởng thành già nua phải chặt bớt những cành lớn không thì một cơn bão lớn sẽ làm đổ ngã thân cây. Việt Nam chưa có dân chủ nên tranh đấu đòi dân chủ. Nền dân chủ non trẻ tại Phi Luật Tân bị đe dọa trở lại độc tài. Dân chủ ở Mỹ trưởng thành lâu đời nay lại nảy sinh ra dấu hiệu già nua thoái hóa thành một hình dạng gì chưa nhận biết được.
Xét về cao độ thì Sơn Núi (Nguyễn Đức Sơn) ở thấp hơn nhiều bạn đồng nghiệp của mình – như Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự… – xa lắc. Những nhân vật này đều có thời là biên tập viên của tạp chí Lang Biang, tờ báo (đã bị đóng cửa) này lấy tên theo vùng cao nguyên lâm Viên mà họ đang sinh sống. Đỉnh Lâm Viên, ở Đà Lạt, cao hơn hai ngàn mét lận. Từ đây, muốn leo lên trời (để đái, hay làm gì tùy thích) còn tiện hơn nhiều. Ngoài lợi thế nhỏ nhặt này ra, những cư dân ở miền sơn cước gặp phải toàn là những điều (vô cùng) bất tiện. Họ xa cách (mịt mù) với thế giới văn minh, ở những đô thị miền xuôi. Tôm cá hì hục chở lên đến được đến cao nguyên (thường) đã bị ươn, và thông tin khi nhận được thì (ôi thôi) hoàn toàn đã cũ.
Giữa mùa đại dịch COVID-19, tại những buổi tường trình mỗi ngày, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Phó Tổng thống Mike Pence không ngớt tiên đoán sự lớn mạnh vượt bực của kinh tế quốc gia Hoa Kỳ sau khi tình hình dịch tễ lắng đọng. Hai ông nhấn mạnh rằng kinh tế Mỹ hậu-COVID-19 sẽ tìm lại thế quân bằng sau những chao đảo khiếp hãi khiến cả 40 triệu nhân công thất nghiệp trong vòng vỏn vẹn ba tháng trời. Đầu tháng Sáu, hy vọng bắt đầu le lói khi guồng máy kinh tế rục rịch mở cửa lại, ai nấy trông đợi ánh sáng tỏa lớn cuối đường hầm.Tuy nhiên, mặc dù người ta có quyền hy vọng vào sự thịnh vượng chung, nhưng sự thật là đối với các thành phần ít may mắn hơn trong xã hội (vâng, phần đông trong đó là những sắc dân da màu thiểu số), khó khăn kinh tế gần như là một điều chắc chắn. Ai cũng tưởng sau khi COVID-19 giáng một đòn chí tử lên kinh tế Hoa Kỳ, thì khoảng cách chênh lệch giữa hai thành phần giàu-nghèo sẽ phần nào thu hẹp, nhưng oái oăm thay, mọi bằng chứng cho thấy sự khác biệt ấy
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.