Hôm nay,  

Đủ Điểm Làm Người?

01/08/202500:00:00(Xem: 1470)
 
iStock-2159552400 học trò bé

Nghiên cứu cho thấy học sinh khuyết tật học tốt hơn khi được học chung với bạn bè cùng trang lứa. Và học sinh không khuyết tật cũng học được nhiều hơn khi sống giữa khác biệt. Ảnh: istockphoto.

 
Tôi có một đứa cháu gái. Mỗi sáng, cháu ngồi trên bậc thềm, chăm chỉ buộc dây giày. Mỗi bên phải đều nhau, mỗi nút thắt phải đúng thứ tự. Nếu lỡ tay thắt ngược, cháu sẽ gỡ ra và làm lại từ đầu – đôi khi ba, bốn lần. Cháu sẽ nhất định không chịu đi học cho đến khi nào giây thắt thật ngay ngắn. Cháu thuộc dạng trẻ em tự kỷ – một khác biệt mà người ngoài mới nhìn vào khó thấy.

Và để được hỗ trợ trong lớp học, con bé phải làm điều mà cả hệ thống ép nó làm: thi IQ. Nếu điểm thấp quá, cháu bị đưa ra khỏi lớp chính. Nếu điểm “không thấp đủ,” cháu lại không được hỗ trợ vì không đạt tiêu chuẩn “khuyết tật.” Cùng một con số, khi là tấm thẻ vào cửa, khi là án lệnh đuổi ra khỏi cửa. Và chẳng ai thấy việc này có gì sai. Tất cả đều hợp lệ. Tất cả đều dựa vào một niềm tin: con người có thể đo được bằng ba con số.

Nói đến con số, không ai mê số như tổng thống Trump. Với ông, IQ là thước đo tuyệt đối. Ai về phe ông thì “IQ cao.” Ai phản đối – giáo sư, nghệ sĩ, nhà báo, thẩm phán – ai nấy đều “thấp”, đều “very stupid”. Còn ai vừa tâng bốc vừa có tiếng như Kanye West – người từng bảo chế độ nô lệ là “một lựa chọn” – thì được ông ca ngợi là “rất, rất thông minh.”

Niềm tin đơn giản  – rằng một con số có thể định nghĩa con người – nghe thiếu tim óc, nhất là khi thốt ra từ miệng một chính trị gia. Nhưng nó đã từng là một chính sách quốc gia.

Vào đầu thế kỷ 20, Alfred Binet, một nhà tâm lý học người Pháp, sáng tạo ra bài kiểm tra giúp trẻ em có nhu cầu đặc biệt được hỗ trợ trong học đường [1]. Nhưng khi bài kiểm tra ấy vượt đại dương sang Mỹ, nó không còn là công cụ hỗ trợ, mà trở thành công cụ phân loại. Henry Goddard – người tiên phong áp dụng Binet test tại Mỹ – nhanh chóng chia trí tuệ con người thành ba bậc: “idiot” (ngu si), “imbecile” (đần độn), và một chữ mới do ông sáng chế: “moron” (tửng/ngố) [2].

Moron – hay tửng – theo ông – là hạng nguy hiểm nhất, vì những người này có thể hòa nhập xã hội mà không ai biết. Họ biết đi làm, biết yêu, biết đẻ – nhưng không giỏi - và như vậy cần phải ngăn chặn họ, bằng cách ly, hoặc bằng triệt sản.

Năm 1911, Henry Goddard áp dụng bài kiểm tra IQ cho 2.000 học sinh trường công, rồi tuyên bố: có tới 18% trong số đó thuộc diện “thiểu năng trí tuệ” [3]. Kết luận này – không có nhóm đối chứng, không qua thẩm định khoa học – vậy mà nhanh chóng được xem như chân lý. Chỉ bốn năm sau, học khu Los Angeles mở chiến dịch “điều tra trí tuệ” toàn diện, thu thập hồ sơ học tập, đánh giá sức khỏe, và áp dụng bài kiểm tra Binet để xếp lớp học sinh. Những em bị xem là “lệch khỏi tiêu chuẩn” – không cần vi phạm kỷ luật hay thất học – lập tức bị tách khỏi lớp bình thường.

Đến năm 1921, tại Columbus, Ohio, người ta áp dụng cách phân loại tương tự. Giữa niên học, 41 học sinh bị buộc phải học lại chương trình học kỳ trước vì điểm IQ không khớp với “tuổi trí tuệ.” Sáu em bị giáng nửa lớp. Một em bị hạ nguyên năm. Ngược lại, 22 học sinh có điểm cao bất thường được nhảy lớp – không phải vì thành tích, mà vì con số.

Và kể từ đó, biểu đồ hình chuông trở thành giáo trình quốc gia. [4]

Đến năm 1954, việc kiểm tra IQ đã trở thành một định chế lớn trong giáo dục Mỹ. Chỉ riêng trong năm ấy, hơn 75 triệu bài thi chuẩn hóa được tổ chức cho khoảng 25 triệu học sinh – tức bình quân ba bài mỗi học sinh, chỉ để phân loại. Những em đạt điểm cao – nằm phía tay phải của biểu đồ hình chuông – được xếp vào lớp nâng cao, hưởng chương trình tốt hơn, giáo viên giàu kinh nghiệm hơn. Ngược lại, những em nằm bên trái đường cong – bị xem là thấp IQ – bị chuyển sang các lớp gọi là “Life Skills”. Nghe thì tưởng nhân văn, nhưng thực chất chỉ là nơi dạy trẻ cách tồn tại bên lề: không có văn chương, không có lịch sử, không có tư duy trừu tượng. Chỉ có những bài học căn bản để “làm theo,” và sống trong khuôn mẫu do người khác vạch sẵn.

Năm 1959, James Bryant Conant – cựu hiệu trưởng Đại học Harvard – đề nghị hạ ngưỡng IQ dành cho học sinh “năng khiếu” từ 140 xuống còn 130. Chỉ một vạch nhỏ được kéo xuống trên biểu đồ, thế là nước Mỹ bỗng có thêm hàng trăm ngàn “thần đồng.” Nhưng ở phía bên kia đường cong, mọi chuyện lại khắc nghiệt hơn. Chỉ cần một học sinh có IQ 72 thay vì 70 là đã đủ để không bị liệt vào diện “thiểu năng trí tuệ,” và vì vậy có thể tránh khỏi các biện pháp cưỡng bức như triệt sản. Cho đến tận năm 1981, tiểu bang Oregon vẫn còn duy trì luật triệt sản đối với người bị dán nhãn “không đủ trí tuệ” [5].
Như thế, với chỉ một cú rê bút trên biểu đồ, vận mệnh con người bị đẩy sang bên phải hay bên trái vạch ngăn.

Vào đầu thập niên 1970s, một số học giả bắt đầu thấy rõ cái giá của việc gán nhãn. Trong một báo cáo công bố năm 1972, Nicholas Hobbs cảnh báo rằng trẻ em bị dán mác “thiểu năng” có thể bị tước quyền học hành, bị cô lập, thậm chí bị cưỡng bức triệt sản – tất cả chỉ dựa trên kết quả một bài kiểm tra, mà không hề có đánh giá độc lập nào khác. Thế nhưng thay vì đề nghị xóa bỏ nhãn, Hobbs lại kêu gọi tinh chỉnh nhãn cho “chính xác hơn,” “phân loại kỹ hơn.” Một hệ thống vốn đã sai, nhưng thay vì gỡ bỏ, người ta lại bọc thêm lớp – như thể sai lầm có thể sửa bằng cách… phân loại khéo hơn.

Đến năm 2001, Đạo luật ‘No Child Left Behind’ được ban hành [6]. Nghe thì đầy thiện chí – “không học sinh nào bị bỏ lại” – nhưng trên thực tế, nó biến nhà trường thành xưởng sản xuất điểm số. Học sinh buộc phải làm bài kiểm tra liên tục để được “lọc” vào chương trình học phù hợp. Theo một báo cáo năm 2014, học sinh lớp 11 tại nhiều bang dành đến 15% thời gian trong năm học chỉ để thi. Những gì không kiểm tra được – không được dạy. Những gì không hiện thành con số – không được tính.

Và thế là ta bước vào thời đại mà giá trị một học sinh không còn được đánh giá bằng hành vi, mà bằng biểu đồ.

Vài tháng trước, ngày 29 tháng Giêng năm 2025, một chiếc trực thăng quân đội và máy bay dân sự American Airlines va chạm trên không phận Washington D.C., khiến 67 người mất mạng. Khi nguyên nhân tai nạn chưa kịp điều tra, Tổng thống Trump trong cuộc họp báo không phải để chia buồn hay để điều tra, đã tuyên bố: chính sách tuyển dụng người khuyết tật của Cục Hàng Không Liên Bang (FAA) chính là thủ phạm [7]. Ông nói: “Họ đã tích cực chiêu mộ những người mắc chứng rối loạn tâm thần nặng, trí tuệ khiếm khuyết, và nhiều loại tật nguyền khác,” ông khẳng định, tai nạn xảy ra “chỉ vì thuê mướn theo chính sách đa dạng.”

Không dẫn chứng. Không bằng chứng. Chỉ cần ông thấy đó là “lẽ thường.” Và theo “lẽ thường” ấy, người khuyết tật thì không thể làm việc tốt. Ai không thấy vậy hẳn sẽ bị ông cho là thuộc loại trí khôn “thấp.”

Ngày 7 tháng 3, khi được hỏi về kế hoạch và hậu quả của việc giải thể Bộ Giáo Dục, bà Linda McMahon – người đứng đầu cơ quan này – không đưa ra định hướng hay lo ngại. Bà chỉ đáp: “Chúng ta sẽ thấy điểm số tăng.” Một câu trả lời ngắn gọn, vô cảm – như thể việc tháo gỡ toàn bộ hệ thống giáo dục sẽ khiến mọi thứ tự động tốt đẹp hơn.

Còn Bộ trưởng Y Tế, Robert F. Kennedy Jr., thì dõng dạc tuyên bố: “Người tự kỷ sẽ không bao giờ làm việc. Không chơi bóng. Không làm thơ.” [8]. Có lẽ ông chưa từng đọc Emily Dickinson.

Ngược hẳn với những tuyên bố dễ dãi ấy, hàng chục năm nghiên cứu cho thấy: học sinh khuyết tật học tốt hơn khi được học chung với bạn bè cùng trang lứa. Và học sinh không khuyết tật cũng học được nhiều hơn khi sống giữa khác biệt – họ biết cảm thông, biết cộng tác, biết lắng nghe, trở thành những nhân tố tốt đẹp trong xã hội. Những điều ấy không nằm trong bài kiểm tra, không hiện thành con số – và vì không đo được, nên không được đếm.

Trong năm học 2022–2023, có đến 7.5 triệu học sinh Mỹ – tức khoảng 15% – theo học dưới bảo trợ của Đạo luật IDEA [9]. Thế nhưng, trong số những em bị dán nhãn “khuyết tật trí tuệ,” chưa tới 18% được học chung với bạn bè cùng lớp quá 80% thời gian. Con số ấy không nhúc nhích suốt 25 năm qua.
Và ai cũng làm như không thấy cần sửa gì, bởi chấp nhận thứ “lẽ thường” kiểu Trump – thứ ‘Common Sense’ thời hậu sự thật – không cần đúng, chỉ cần được cho là đúng là đủ. Và khi nó được lặp lại đủ lâu, nó trở thành chính sách.

Bé gái cháu tôi vẫn đến trường mỗi ngày. Nhìn cháu kiên nhẫn buộc dây giày, tôi hiểu: trí tuệ không phải là tốc độ, càng không phải là kết quả điểm thi. Trí tuệ là sự nhẫn nại, là khả năng nhìn cuộc đời bằng đôi mắt của người khác. Là khi một đứa trẻ không nói được câu hoàn chỉnh nhưng vẫn chìa tay ra nắm lấy tay bạn mình.

Điều đó – không có cột điểm nào đo được. Cũng không nằm trong “lẽ thường”.

Và nếu chúng ta cứ tiếp tục định nghĩa giá trị con người bằng biểu đồ, thì không chỉ trẻ khuyết tật bị loại trừ. Mà chính ta – những người đã quên rằng con người không phải một con số – mới là kẻ thiếu trí tuệ.

Nguyên Hòa
Chú thích:
  1. Alfred Binet phát minh ra bài kiểm tra trí thông minh đầu tiên vào đầu thế kỷ 20, với mục
  2. Henry H. Goddard là người đầu tiên phổ biến bài kiểm tra IQ tại Mỹ và là người đề ra thuật ngữ “moron.” Xem: Zenderland, Leila. Measuring Minds: Henry Herbert Goddard and the Origins of American Intelligence Testing. Cambridge University Press, 1998.
  3. Tuyên bố của Goddard về việc 18% học sinh bị xem là “thiểu năng trí tuệ” không dựa trên dữ liệu kiểm chứng khoa học. Tham khảo: Rose, Nikolas. The Politics of Life Itself. Princeton University Press, 2007.
  4. Việc dùng điểm IQ để phân lớp học sinh đã trở thành tiêu chuẩn tại nhiều học khu, trong đó có Los Angeles (1915) và Columbus, Ohio (1921). Xem: Tyack, David & Cuban, Larry. Tinkering Toward Utopia: A Century of Public School Reform. Harvard University Press, 1995.
  5. Luật triệt sản người bị gán nhãn “thiểu năng trí tuệ” được duy trì tại nhiều bang Mỹ đến cuối thế kỷ 20. Oregon chính thức hủy bỏ luật triệt sản bắt buộc năm 1983. Xem: Lombardo, Paul A. Three Generations, No Imbeciles: Eugenics, the Supreme Court, and Buck v. Bell. Johns Hopkins University Press, 2008.
  6. Đạo luật No Child Left Behind (2001) và hậu quả của việc biến giáo dục thành cơ chế sản xuất điểm số. Xem: Ravitch, Diane. The Death and Life of the Great American School System. Basic Books, 2010.
  7. Về vụ va chạm trực thăng và phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày 30/01/2025, xem: Washington Post, “Trump Blames FAA Diversity Policy for D.C. Crash,” 31 January 2025.
  8. Tuyên bố của Robert F. Kennedy Jr. về người tự kỷ được ghi lại trong buổi họp báo Bộ Y Tế, ngày 12 tháng 3 năm 2025. Xem: CNN, “RFK Jr. Says Autistic Children ‘Can’t Play Ball or Write Poetry’,” 13 March 2025.
  9. Nghiên cứu về hiệu quả của giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật: Hehir, Thomas et al. “A Summary of the Evidence on Inclusive Education.” Abt Associates, 2016. Đạo luật IDEA bảo đảm mọi trẻ em có khuyết tật tại Hoa Kỳ được học miễn phí trong môi trường phù hợp với nhu cầu riêng. Luật quy định phải có kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP), ưu tiên học chung với học sinh không khuyết tật, và có sự tham gia của phụ huynh. IDEA cũng bảo vệ quyền pháp lý của gia đình trong các quyết định giáo dục. 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Việc cắt giảm chăm sóc sức khỏe để trả tiền cho các khoản giảm thuế sẽ là sai về mặt đạo đức và tự sát về mặt chính trị.” TNS Josh Hawley (Cộng Hòa, Missouri)
Từ năm 1949, tháng Năm được chọn là Tháng Nhận Thức Về Sức Khỏe Tâm Thần (Mental Health Awareness Month – MHAM) ở Mỹ. Đây là tháng mang ý nghĩa kêu gọi cùng nâng cao nhận thức, giảm bỏ kỳ thị và thúc đẩy bảo vệ sức khỏe tâm thần. Theo phúc trình năm 2024 của tổ chức Mental Health America ở Alexandria, Hoa Kỳ thật sự đang trong cuộc khủng hoảng sức khỏe tâm thần. Cứ năm người trưởng thành ở Mỹ thì có trên một người đang sống chung với bệnh tâm thần, và hơn một nửa không được điều trị. Gần 60 triệu người lớn (23.8%) mắc bệnh tâm thần trong năm 2024. Gần 13 triệu người lớn (5.04%) có ý định tự tử.
Chiến dịch cắt giảm chi tiêu của chính quyền Trump, vốn đã ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực từ nghệ thuật đến nghiên cứu ung thư, nay còn bao gồm cả nỗ lực thực hiện mục tiêu lâu dài của Đảng Cộng Hòa: chấm dứt hoàn toàn nguồn tài trợ liên bang cho hai hệ thống truyền thông phục vụ công chúng lớn nhất nước Mỹ: NPR và PBS. Hiện có khoảng 1,500 đài phát thanh và truyền hình độc lập liên kết với NPR và PBS trên khắp Hoa Kỳ, phát sóng các chương trình nổi tiếng như Morning Edition, LAist, Marketplace, PBS NewsHour, Frontline và Nova... Theo dữ liệu từ các hệ thống này, có khoảng 43 triệu người nghe đài công cộng hàng tuần, và mỗi năm có hơn 130 triệu lượt xem đài PBS.
Ngày 30.04.1975 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử cận đại của Việt Nam. Nhưng năm mươi năm sau nhìn lại, dân tộc Việt oai hùng, như vẫn thường tự nhận, đã không có đủ khôn ngoan để ngày chiến tranh chấm dứt thành một cơ hội đích thực để anh em cùng dòng máu Việt tìm hiểu nhau, cùng chung sức xây dựng đất nước.Tiếc thay, và đau thay, cái giá tử vong cao ngất của hơn 2 triệu thường dân đôi bên, của hơn 1triệu lính miền Bắc và xấp xỉ 300.000 lính miền Nam đã chỉ mang lại một sự thống nhất địa lý và hành chính, trong khi thái độ thù hận với chính sách cướp bóc của bên thắng trận đã đào sâu thêm những đổ vỡ tình cảm dân tộc, củng cố một chế độ độc tài và đẩy hơn một triệu người rời quê hương đi tỵ nạn cộng sản, với một ước tính khoảng 10% đã chết trên biển cả.
Bằng cách làm suy yếu các đồng minh của Mỹ, chính quyền Trump đã làm suy yếu việc răn đe mở rộng của Mỹ, khiến nhiều quốc gia cân nhắc liệu họ có nên có vũ khí hạt nhân cho riêng mình không. Nhưng ý tưởng về việc phổ biến vũ khí hạt nhân nhiều hơn có thể ổn định dựa trên nền tảng của các giả định sai lầm.
Tạp chí TIMES kết thúc cuộc phỏng vấn với Tổng thống Trump nhân dịp đánh dấu 100 ngày ông ta quay lại Tòa Bạch Ốc (20/1/2025) bằng câu hỏi, “John Adams, một công thần lập quốc, vị tổng thống thứ hai của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (1797 – 1801) đã nói chúng ta là một quốc gia pháp trị, chứ không phải bất kỳ người nào, Tổng thống đồng ý không?” Donald Trump trả lời: “Chúng ta là một chính phủ do luật pháp cai trị, không phải do con người sao? Ồ, tôi nghĩ vậy, nhưng anh biết đấy, phải óc ai đó quản lý luật pháp. Bởi nên, con người, nam hoặc nữ, chắc chắn đóng một vai trò trong đó. Tôi không đồng ý với điều đó 100%. Chúng ta là một chính phủ mà con người tham gia vào quá trình thực thi luật pháp, và lý tưởng nhất là anh sẽ có những người công chính như tôi.”
Chuyện “Ngưng bắn…” kể cho độc giả Bloomington ngày ấy, đã là chuyện quá khứ. 30 tháng Tư năm sau, cuộc chiến trên đất Việt tàn. Chủ nghĩa Cộng sản, nguyên nhân của nạn binh đao, dìm quê hương tôi trong biển máu hàng thập kỷ, cuối cùng đã hưởng hết 70 năm tuổi thọ. Tưởng chuyện đau thương trong một ngày ngưng bắn của gia đình, vì sự an toàn, phúc lợi của loài người, phải trở thành cổ tích. Vậy mà hôm nay, trong thời đại này, chuyện buồn chiến tranh của tôi đang tái diễn...
Mười năm, 20 năm, và nhiều hơn nữa, khi lịch sử kể lại buổi chuyển giao quyền lực hứa hẹn một triều đại hỗn loạn của nước Mỹ, thì người ta sẽ nhớ ngay đến một người đã không xuất hiện, đó là cựu Đệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama.
Chiến tranh là chết chóc, tàn phá và mất mát! Có những cuộc chiến tranh vệ quốc mang ý nghĩa sống còn của một dân tộc. Có những cuộc chiến tranh xâm lược để thỏa mãn mộng bá quyền của một chế độ hay một bạo chúa. Có những cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa hai chủ nghĩa, hai ý thức hệ chỉ biến cả dân tộc thành một lò lửa hận thù “nồi da xáo thịt.” Trường hợp sau cùng là bi kịch thống thiết mà dân tộc Việt Nam đã gánh chịu! Hệ lụy của bi kịch đó mãi đến nay, sau 50 năm vẫn chưa giải kết được. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một nữ chiến binh cộng sản miền Bắc có tên là Dương Thu Hương khi vào được Sài Gòn và chứng kiến cảnh nguy nga tráng lệ của Hòn Ngọc Viễn Đông thời bấy giờ đã ngồi bệch xuống đường phố Sài Gòn và khóc nức nở, “khóc như cha chết.” Bà khóc “…vì cảm thấy cuộc chiến tranh là trò đùa của lịch sử, toàn bộ năng lượng của một dân tộc dồn vào sự phi lý, và đội quân thắng trận thuộc về một thể chế man rợ. Tôi cảm thấy tuổi trẻ của tôi mất đi một cách oan uổng ...
Ngày 30 tháng 4 năm 2025 là một ngày có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử Việt Nam đương đại, cũng là dịp để chúng ta cùng nhau hồi tưởng về ngày 30 tháng 4 năm 1975 và những gì mà dân tộc đã sống trong 50 năm qua. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã kết thúc chiến tranh và đáng lẽ phải mở ra một vận hội mới huy hoàng cho đất nước: hoà bình, thống nhất và tái thiết hậu chiến với tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc. Nhưng thực tế đã đánh tan bao ước vọng chân thành của những người dân muốn có một chỗ đứng trong lòng dân tộc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.