Hôm nay,  

Đủ Điểm Làm Người?

01/08/202500:00:00(Xem: 1451)
 
iStock-2159552400 học trò bé

Nghiên cứu cho thấy học sinh khuyết tật học tốt hơn khi được học chung với bạn bè cùng trang lứa. Và học sinh không khuyết tật cũng học được nhiều hơn khi sống giữa khác biệt. Ảnh: istockphoto.

 
Tôi có một đứa cháu gái. Mỗi sáng, cháu ngồi trên bậc thềm, chăm chỉ buộc dây giày. Mỗi bên phải đều nhau, mỗi nút thắt phải đúng thứ tự. Nếu lỡ tay thắt ngược, cháu sẽ gỡ ra và làm lại từ đầu – đôi khi ba, bốn lần. Cháu sẽ nhất định không chịu đi học cho đến khi nào giây thắt thật ngay ngắn. Cháu thuộc dạng trẻ em tự kỷ – một khác biệt mà người ngoài mới nhìn vào khó thấy.

Và để được hỗ trợ trong lớp học, con bé phải làm điều mà cả hệ thống ép nó làm: thi IQ. Nếu điểm thấp quá, cháu bị đưa ra khỏi lớp chính. Nếu điểm “không thấp đủ,” cháu lại không được hỗ trợ vì không đạt tiêu chuẩn “khuyết tật.” Cùng một con số, khi là tấm thẻ vào cửa, khi là án lệnh đuổi ra khỏi cửa. Và chẳng ai thấy việc này có gì sai. Tất cả đều hợp lệ. Tất cả đều dựa vào một niềm tin: con người có thể đo được bằng ba con số.

Nói đến con số, không ai mê số như tổng thống Trump. Với ông, IQ là thước đo tuyệt đối. Ai về phe ông thì “IQ cao.” Ai phản đối – giáo sư, nghệ sĩ, nhà báo, thẩm phán – ai nấy đều “thấp”, đều “very stupid”. Còn ai vừa tâng bốc vừa có tiếng như Kanye West – người từng bảo chế độ nô lệ là “một lựa chọn” – thì được ông ca ngợi là “rất, rất thông minh.”

Niềm tin đơn giản  – rằng một con số có thể định nghĩa con người – nghe thiếu tim óc, nhất là khi thốt ra từ miệng một chính trị gia. Nhưng nó đã từng là một chính sách quốc gia.

Vào đầu thế kỷ 20, Alfred Binet, một nhà tâm lý học người Pháp, sáng tạo ra bài kiểm tra giúp trẻ em có nhu cầu đặc biệt được hỗ trợ trong học đường [1]. Nhưng khi bài kiểm tra ấy vượt đại dương sang Mỹ, nó không còn là công cụ hỗ trợ, mà trở thành công cụ phân loại. Henry Goddard – người tiên phong áp dụng Binet test tại Mỹ – nhanh chóng chia trí tuệ con người thành ba bậc: “idiot” (ngu si), “imbecile” (đần độn), và một chữ mới do ông sáng chế: “moron” (tửng/ngố) [2].

Moron – hay tửng – theo ông – là hạng nguy hiểm nhất, vì những người này có thể hòa nhập xã hội mà không ai biết. Họ biết đi làm, biết yêu, biết đẻ – nhưng không giỏi - và như vậy cần phải ngăn chặn họ, bằng cách ly, hoặc bằng triệt sản.

Năm 1911, Henry Goddard áp dụng bài kiểm tra IQ cho 2.000 học sinh trường công, rồi tuyên bố: có tới 18% trong số đó thuộc diện “thiểu năng trí tuệ” [3]. Kết luận này – không có nhóm đối chứng, không qua thẩm định khoa học – vậy mà nhanh chóng được xem như chân lý. Chỉ bốn năm sau, học khu Los Angeles mở chiến dịch “điều tra trí tuệ” toàn diện, thu thập hồ sơ học tập, đánh giá sức khỏe, và áp dụng bài kiểm tra Binet để xếp lớp học sinh. Những em bị xem là “lệch khỏi tiêu chuẩn” – không cần vi phạm kỷ luật hay thất học – lập tức bị tách khỏi lớp bình thường.

Đến năm 1921, tại Columbus, Ohio, người ta áp dụng cách phân loại tương tự. Giữa niên học, 41 học sinh bị buộc phải học lại chương trình học kỳ trước vì điểm IQ không khớp với “tuổi trí tuệ.” Sáu em bị giáng nửa lớp. Một em bị hạ nguyên năm. Ngược lại, 22 học sinh có điểm cao bất thường được nhảy lớp – không phải vì thành tích, mà vì con số.

Và kể từ đó, biểu đồ hình chuông trở thành giáo trình quốc gia. [4]

Đến năm 1954, việc kiểm tra IQ đã trở thành một định chế lớn trong giáo dục Mỹ. Chỉ riêng trong năm ấy, hơn 75 triệu bài thi chuẩn hóa được tổ chức cho khoảng 25 triệu học sinh – tức bình quân ba bài mỗi học sinh, chỉ để phân loại. Những em đạt điểm cao – nằm phía tay phải của biểu đồ hình chuông – được xếp vào lớp nâng cao, hưởng chương trình tốt hơn, giáo viên giàu kinh nghiệm hơn. Ngược lại, những em nằm bên trái đường cong – bị xem là thấp IQ – bị chuyển sang các lớp gọi là “Life Skills”. Nghe thì tưởng nhân văn, nhưng thực chất chỉ là nơi dạy trẻ cách tồn tại bên lề: không có văn chương, không có lịch sử, không có tư duy trừu tượng. Chỉ có những bài học căn bản để “làm theo,” và sống trong khuôn mẫu do người khác vạch sẵn.

Năm 1959, James Bryant Conant – cựu hiệu trưởng Đại học Harvard – đề nghị hạ ngưỡng IQ dành cho học sinh “năng khiếu” từ 140 xuống còn 130. Chỉ một vạch nhỏ được kéo xuống trên biểu đồ, thế là nước Mỹ bỗng có thêm hàng trăm ngàn “thần đồng.” Nhưng ở phía bên kia đường cong, mọi chuyện lại khắc nghiệt hơn. Chỉ cần một học sinh có IQ 72 thay vì 70 là đã đủ để không bị liệt vào diện “thiểu năng trí tuệ,” và vì vậy có thể tránh khỏi các biện pháp cưỡng bức như triệt sản. Cho đến tận năm 1981, tiểu bang Oregon vẫn còn duy trì luật triệt sản đối với người bị dán nhãn “không đủ trí tuệ” [5].
Như thế, với chỉ một cú rê bút trên biểu đồ, vận mệnh con người bị đẩy sang bên phải hay bên trái vạch ngăn.

Vào đầu thập niên 1970s, một số học giả bắt đầu thấy rõ cái giá của việc gán nhãn. Trong một báo cáo công bố năm 1972, Nicholas Hobbs cảnh báo rằng trẻ em bị dán mác “thiểu năng” có thể bị tước quyền học hành, bị cô lập, thậm chí bị cưỡng bức triệt sản – tất cả chỉ dựa trên kết quả một bài kiểm tra, mà không hề có đánh giá độc lập nào khác. Thế nhưng thay vì đề nghị xóa bỏ nhãn, Hobbs lại kêu gọi tinh chỉnh nhãn cho “chính xác hơn,” “phân loại kỹ hơn.” Một hệ thống vốn đã sai, nhưng thay vì gỡ bỏ, người ta lại bọc thêm lớp – như thể sai lầm có thể sửa bằng cách… phân loại khéo hơn.

Đến năm 2001, Đạo luật ‘No Child Left Behind’ được ban hành [6]. Nghe thì đầy thiện chí – “không học sinh nào bị bỏ lại” – nhưng trên thực tế, nó biến nhà trường thành xưởng sản xuất điểm số. Học sinh buộc phải làm bài kiểm tra liên tục để được “lọc” vào chương trình học phù hợp. Theo một báo cáo năm 2014, học sinh lớp 11 tại nhiều bang dành đến 15% thời gian trong năm học chỉ để thi. Những gì không kiểm tra được – không được dạy. Những gì không hiện thành con số – không được tính.

Và thế là ta bước vào thời đại mà giá trị một học sinh không còn được đánh giá bằng hành vi, mà bằng biểu đồ.

Vài tháng trước, ngày 29 tháng Giêng năm 2025, một chiếc trực thăng quân đội và máy bay dân sự American Airlines va chạm trên không phận Washington D.C., khiến 67 người mất mạng. Khi nguyên nhân tai nạn chưa kịp điều tra, Tổng thống Trump trong cuộc họp báo không phải để chia buồn hay để điều tra, đã tuyên bố: chính sách tuyển dụng người khuyết tật của Cục Hàng Không Liên Bang (FAA) chính là thủ phạm [7]. Ông nói: “Họ đã tích cực chiêu mộ những người mắc chứng rối loạn tâm thần nặng, trí tuệ khiếm khuyết, và nhiều loại tật nguyền khác,” ông khẳng định, tai nạn xảy ra “chỉ vì thuê mướn theo chính sách đa dạng.”

Không dẫn chứng. Không bằng chứng. Chỉ cần ông thấy đó là “lẽ thường.” Và theo “lẽ thường” ấy, người khuyết tật thì không thể làm việc tốt. Ai không thấy vậy hẳn sẽ bị ông cho là thuộc loại trí khôn “thấp.”

Ngày 7 tháng 3, khi được hỏi về kế hoạch và hậu quả của việc giải thể Bộ Giáo Dục, bà Linda McMahon – người đứng đầu cơ quan này – không đưa ra định hướng hay lo ngại. Bà chỉ đáp: “Chúng ta sẽ thấy điểm số tăng.” Một câu trả lời ngắn gọn, vô cảm – như thể việc tháo gỡ toàn bộ hệ thống giáo dục sẽ khiến mọi thứ tự động tốt đẹp hơn.

Còn Bộ trưởng Y Tế, Robert F. Kennedy Jr., thì dõng dạc tuyên bố: “Người tự kỷ sẽ không bao giờ làm việc. Không chơi bóng. Không làm thơ.” [8]. Có lẽ ông chưa từng đọc Emily Dickinson.

Ngược hẳn với những tuyên bố dễ dãi ấy, hàng chục năm nghiên cứu cho thấy: học sinh khuyết tật học tốt hơn khi được học chung với bạn bè cùng trang lứa. Và học sinh không khuyết tật cũng học được nhiều hơn khi sống giữa khác biệt – họ biết cảm thông, biết cộng tác, biết lắng nghe, trở thành những nhân tố tốt đẹp trong xã hội. Những điều ấy không nằm trong bài kiểm tra, không hiện thành con số – và vì không đo được, nên không được đếm.

Trong năm học 2022–2023, có đến 7.5 triệu học sinh Mỹ – tức khoảng 15% – theo học dưới bảo trợ của Đạo luật IDEA [9]. Thế nhưng, trong số những em bị dán nhãn “khuyết tật trí tuệ,” chưa tới 18% được học chung với bạn bè cùng lớp quá 80% thời gian. Con số ấy không nhúc nhích suốt 25 năm qua.
Và ai cũng làm như không thấy cần sửa gì, bởi chấp nhận thứ “lẽ thường” kiểu Trump – thứ ‘Common Sense’ thời hậu sự thật – không cần đúng, chỉ cần được cho là đúng là đủ. Và khi nó được lặp lại đủ lâu, nó trở thành chính sách.

Bé gái cháu tôi vẫn đến trường mỗi ngày. Nhìn cháu kiên nhẫn buộc dây giày, tôi hiểu: trí tuệ không phải là tốc độ, càng không phải là kết quả điểm thi. Trí tuệ là sự nhẫn nại, là khả năng nhìn cuộc đời bằng đôi mắt của người khác. Là khi một đứa trẻ không nói được câu hoàn chỉnh nhưng vẫn chìa tay ra nắm lấy tay bạn mình.

Điều đó – không có cột điểm nào đo được. Cũng không nằm trong “lẽ thường”.

Và nếu chúng ta cứ tiếp tục định nghĩa giá trị con người bằng biểu đồ, thì không chỉ trẻ khuyết tật bị loại trừ. Mà chính ta – những người đã quên rằng con người không phải một con số – mới là kẻ thiếu trí tuệ.

Nguyên Hòa
Chú thích:
  1. Alfred Binet phát minh ra bài kiểm tra trí thông minh đầu tiên vào đầu thế kỷ 20, với mục
  2. Henry H. Goddard là người đầu tiên phổ biến bài kiểm tra IQ tại Mỹ và là người đề ra thuật ngữ “moron.” Xem: Zenderland, Leila. Measuring Minds: Henry Herbert Goddard and the Origins of American Intelligence Testing. Cambridge University Press, 1998.
  3. Tuyên bố của Goddard về việc 18% học sinh bị xem là “thiểu năng trí tuệ” không dựa trên dữ liệu kiểm chứng khoa học. Tham khảo: Rose, Nikolas. The Politics of Life Itself. Princeton University Press, 2007.
  4. Việc dùng điểm IQ để phân lớp học sinh đã trở thành tiêu chuẩn tại nhiều học khu, trong đó có Los Angeles (1915) và Columbus, Ohio (1921). Xem: Tyack, David & Cuban, Larry. Tinkering Toward Utopia: A Century of Public School Reform. Harvard University Press, 1995.
  5. Luật triệt sản người bị gán nhãn “thiểu năng trí tuệ” được duy trì tại nhiều bang Mỹ đến cuối thế kỷ 20. Oregon chính thức hủy bỏ luật triệt sản bắt buộc năm 1983. Xem: Lombardo, Paul A. Three Generations, No Imbeciles: Eugenics, the Supreme Court, and Buck v. Bell. Johns Hopkins University Press, 2008.
  6. Đạo luật No Child Left Behind (2001) và hậu quả của việc biến giáo dục thành cơ chế sản xuất điểm số. Xem: Ravitch, Diane. The Death and Life of the Great American School System. Basic Books, 2010.
  7. Về vụ va chạm trực thăng và phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày 30/01/2025, xem: Washington Post, “Trump Blames FAA Diversity Policy for D.C. Crash,” 31 January 2025.
  8. Tuyên bố của Robert F. Kennedy Jr. về người tự kỷ được ghi lại trong buổi họp báo Bộ Y Tế, ngày 12 tháng 3 năm 2025. Xem: CNN, “RFK Jr. Says Autistic Children ‘Can’t Play Ball or Write Poetry’,” 13 March 2025.
  9. Nghiên cứu về hiệu quả của giáo dục hòa nhập cho học sinh khuyết tật: Hehir, Thomas et al. “A Summary of the Evidence on Inclusive Education.” Abt Associates, 2016. Đạo luật IDEA bảo đảm mọi trẻ em có khuyết tật tại Hoa Kỳ được học miễn phí trong môi trường phù hợp với nhu cầu riêng. Luật quy định phải có kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP), ưu tiên học chung với học sinh không khuyết tật, và có sự tham gia của phụ huynh. IDEA cũng bảo vệ quyền pháp lý của gia đình trong các quyết định giáo dục. 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Franklin D. Roosevelt (1882-1945), Tổng Thống Hoa Kỳ thứ 32 và là vị tổng thống Mỹ duy nhất phục vụ hơn 2 nhiệm kỳ, đã từng nói rằng, “Tự do của nền dân chủ không an toàn nếu người dân dung túng sự gia tăng của quyền lực cá nhân tới mức trở thành mạnh hơn chính nhà nước dân chủ đó. Điều đó trong bản chất là chủ nghĩa phát xít: quyền sở hữu của chính phủ thuộc về một cá nhân, một nhóm người, hay bất cứ thế lực cá nhân nào đang kiểm soát.” Lời cảnh giác đó của TT Roosevelt quả thật đã trở thành lời tiên tri đang ứng nghiệm trong thời đại hiện nay của nước Mỹ. Tổng Thống Donald Trump trong nhiệm kỳ đầu và gần 8 tháng của nhiệm kỳ hai đã thể hiện rõ ý chí và hành động của một nhà lãnh đạo muốn thâu tóm mọi quyền lực trong tay mình bất chấp những việc làm này có phá vỡ nền tảng tự do và dân chủ mà nước Mỹ đã nỗ lực không ngừng để tạo dựng và giữ gìn trong suốt hai trăm năm mươi năm qua hay không!
Từ lâu trong chính trị Mỹ vẫn tồn tại một quy tắc bất thành văn, khi thì nói lên to rõ “chúng ta tốt đẹp hơn như thế này,” hoặc có khi chỉ thì thầm, nhẹ nhàng, rằng đảng Dân Chủ không nên sa vào bùn lầy. Nhiều thập niên qua, “quy tắc” này đã định hình cả vận động tranh cử lẫn cách cầm quyền lãnh đạo. Tổng thống Barack Obama, bằng sự điềm tĩnh, được xem là bậc thầy về nghệ thuật này, ngay cả khi Donald Trump mở màn thuyết âm mưu “giấy khai sinh giả.” Tổng thống Joe Biden cũng vậy. Ông lèo lái đất nước sau đại dịch bằng chiến lược đặt niềm tin vào sự văn minh, đoàn kết, tin rằng lời kêu gọi phẩm giá có thể giữ thăng bằng cho con thuyền trong cơn chao đảo vì sóng dữ.
Trong nhiều tháng qua, các tài khoản chính thức của Bạch Ốc và Bộ Nội An trên mạng X liên tục tung ra hình ảnh và video (meme) dị hợm: từ ảnh ghép kèm âm thanh chế giễu, những đoạn đăng kiểu TikTok, cho đến tranh vẽ bằng trí tuệ nhân tạo. Đây không phải trò vui của vài nhân viên rảnh rỗi, mà là một chiến dịch có chủ ý, lặp đi lặp lại, như muốn răn: ai mới thực sự được coi là người Mỹ. Trang NPR ngày 18 tháng 8 nhận định: “Các tài khoản chính thức của chính quyền Trump đang khai thác đủ kiểu meme, hình ảnh AI với giọng điệu đầy thách thức trong các bài đăng trên mạng xã hội.”
Trước khi quay lại cùng cuộc họp song phương giữa Trump và Putin tại Alaska, hãy quay lại những cuộc họp giữa Donald Trump và lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong Un trong nhiệm kỳ đầu của Donald Trump. Lần đầu tiên, một đương kim tổng thống Hoa Kỳ đã hạ mình sang Châu Á đến ba lần, lần đầu tại Singapore, rồi Việt Nam và cuối cùng ngay tại khu phi quân sự giữa Nam-Bắc Hàn, để gặp và nâng cao vị thế một tay "Chí Phèo" cộng sản mặt sữa nhưng khét tiếng độc ác lên vị thế chính thức ngang hàng với Hoa Kỳ trên chính trường quốc tế.
Trong căn phòng trắng, lổm chổm những mảng phù điêu mạ vàng trên trần nhà và tường, một người đàn ông mảnh khảnh, nhanh nhẹn bước ra giới thiệu trước ống kính báo chí món quà đặc biệt ông cố ý mang theo tặng Tổng thống Donald Trump. Đó là lần hiếm hoi CEO của hãng Apple, Tim Cook, xuất hiện trong trang phục sơ mi cà vạt vest đen. Ngay cả trong những lần ra mắt sản phẩm iPhone mới hàng năm, vốn được xem là sự kiện quan trọng bật nhất của Apple, người ta cũng không thấy Cook phải bó mình trong bộ lễ phục trịnh trọng như vậy. Tim Cook đã mang đến cho các tín đồ của trái táo một sự bất ngờ, giống như 15 năm trước, ông xuất hiện trên tạp chí Out ở vị trí đầu bảng xếp hạng Power 50, một danh sách xếp hạng những cá nhân đồng tính nam và đồng tính nữ có ảnh hưởng nhất vào thời điểm đó.
Trong những tháng qua, thảm họa đói của người Palestine ở dải Gaza đã làm thế giới rúng động. Tin tức về trẻ em Palestine bị bắn chết trong khi cố len lỏi tới rào sắt để nhận thức ăn viện trợ được truyền đi; nhiều người đặt câu hỏi về lương tri của những kẻ tổ chức “công tác nhân đạo” này (công ty Gaza Humanitarian Foundation do chính phủ Trump hậu thuẫn). UN ước tính có khoảng 1,400 người Palestine đã chết khi tìm cách nhận thực phẩm cứu trợ. Vào tháng 12 năm 2023, Nam Phi đã đệ đơn kiện Israel lên Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) cáo buộc quốc gia này phạm tội diệt chủng ở Gaza. Một số quốc gia khác tham gia hoặc bày tỏ sự ủng hộ đối với vụ kiện, bao gồm: Nicaragua, Bỉ, Colombia, Thổ Nhĩ Kỳ, Libya, Ai Cập, Maldives, Mexico, Ireland, Chile Palestine…
Trí nhớ của một cộng đồng không chỉ mất đi khi thời gian làm phai mờ, mà có khi có bàn tay cố tình tháo gỡ. Không cần nhiều bút mực, chỉ cần bỏ vài dòng, thay một chữ, hoặc xóa một đoạn – câu chuyện lập tức đổi nghĩa. Lịch sử hiện đại đã nhiều lần chứng kiến điều đó. Năm 1933, chính quyền Quốc xã Đức đốt sách giữa quảng trường, thay lại giáo trình, đặt viện bảo tàng và văn khố dưới quyền Bộ Tuyên Giám. Joseph Goebbels nói: “Chúng ta không muốn người dân sử dụng cái đầu. Chúng ta muốn họ hành xử theo cảm tính.” Tám thập niên sau, ở một góc khác của địa cầu, những bản thảo của Trương Vĩnh Ký – người khai sáng nền quốc ngữ Việt – bị loại khỏi thư viện vì bị gán là “tay sai thực dân”. Sau 1975, chính quyền cộng sản xét duyệt văn hóa trên toàn quốc: các tác phẩm học thuật bị cấm; bị đốt, tên tuổi các học giả và nhà văn miền Nam biến mất khỏi mọi tiến trình văn hóa. Tại Hoa Kỳ ngày nay, sự thật không bị đấu tố – nhưng bị biên tập lại.
Ông X. Nguyễn bị trục xuất vào sáng sớm của một ngày trong tháng Tư. Cuối ngày hôm đó, vào lúc 5 giờ chiều, cô K. Nguyễn bay về Sài Gòn. Cô đến phi trường Tân Sơn Nhứt sau chuyến bay trục xuất anh cô khoảng một ngày.“Khi đến Tân Sơn Nhứt, họ đưa anh tôi và mấy người bị trục xuất một lối đi đặc biệt để vào nơi làm thủ tục hải quan. Họ phỏng vấn, lăn tay, làm giấy tờ. Rồi họ đọc tên từng người, nếu có thân nhân, họ sẽ dắt ra cổng, bàn giao lại cho người nhà. Với ai không có thân nhân, nhưng có tên trong danh sách của Ba Lô Project (BLP) thì tình nguyện viên của nhóm sẽ nhận. BLP cho mỗi người một ba lô, trong đó có những vật dụng cá nhân cần thiết, một điện thoại có sim sẵn và $50”, cô K. kể.
Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình. Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai: Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn. Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, lấy ngón tay chỉ lên bức thư pháp trên tường:“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).
Kể từ khi Donald Trump tái đắc cử Tổng thống, giới sáng lập và đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao tại Thung lũng Silicon – gồm các tỷ phú như Elon Musk, Jeff Bezos và Mark Zuckerberg – đã được xem là những nhân vật có ảnh hưởng quan trọng đối với chính quyền mới. Họ xuất hiện trong lễ nhậm chức của Trump và nhanh chóng đóng vai trò chính trong việc định hình các chính sách "Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại". Với niềm tin mãnh liệt vào tiềm năng của công nghệ hiện đại, những nhà lãnh đạo này tin rằng họ có thể vận hành nó trong khuôn khổ một nền kinh tế thị trường tự do. Họ cổ súy cho sự phát triển không giới hạn của một hình thái tư bản tự do tuyệt đối và công nghệ có thể giải quyết hầu hết các vấn đề xã hội và quốc gia. Trong tầm nhìn của các cá nhân tiên phong công nghệ, họ muốn có vai trò lãnh đạo trong việc xóa bỏ các thủ tục hành chính phức tạp của nhà nước phúc lợi. Đó là hai điều kiện tiên quyết để tăng tốc cho các tiến bộ xã hội,


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.