Hôm nay,  

Lá Phiếu Iran

03/11/200600:00:00(Xem: 9434)

Lá Phiếu Iran

Cách không đả ngưu - Giáo chủ dồn phiếu...

Nghị sĩ Dân chủ Joe Biden là người buồn bực nhất tuần qua.

Xuất thân từ tiểu bang Delaware, Biden là chuẩn ứng viên Dân chủ bị hụt trong vòng sơ bộ của cuộc bầu cử tổng thống năm 1988. Trước đấy, ông là một trong vai nghị sĩ trẻ nhất được bầu vào Thượng viện (29 tuổi) năm 1972. Từ đó đến nay, qua 34 năm, ông trở thành nhân vật sáng giá về đối ngoại trong Ủy ban Ngoại giao, thuộc xu hướng ôn hoà thực tế.

Joe Biden buồn bực mà không nói ra chỉ vì thành tích của một đồng viện đồng đảng. John Kerry!

Tối Thứ Ba, Nghị sĩ Joe Biden có trình bày trước Đại hoc Iowa kế hoạch của ông về Iraq nhưng ra khỏi khuôn viên đại học và ban tham mưu, không ai biết tới đề nghị này. Cả ngày hôm đó cho đến các ngày sau, mọi người đều nói đến lời phát biểu xấc láo và lời biện bạch vụng về của John Kerry tại Pasadena, miền Nam California.

Đảng Dân chủ tiến vào cuộc tranh cử giữa nhiệm kỳ với chủ đích là dùng hồ sơ Iraq làm đòn bẩy, lấy thất bại của chính quyền Bush làm cây gậy và vì vậy bị mang tiếng là không có chủ trương đề nghị gì thiết thực. Hiểu ra chuyện đó và có tinh thần trách nhiệm hơn, Nghị sĩ Joe Biden vạch ra kế hoạch năm điểm để giải quyết hồ sơ Iraq. Nếu đảng Dân chủ chiếm được đa số, nhiều phần là Joe Biden sẽ thay thế Nghị sĩ Richard Lugar làm Chủ tịch Ủy ban Ngoại giao. Hai vị đồng viện thuộc hai đảng đối nghịch đều có sự tương kính và thường hợp tác với nhau trong tinh thần xây dựng.

Vì vậy, việc đề nghị của Joe Biden bị dư luận lãng quên là một điều đáng tiếc.

Kế hoạch Biden, cùng soạn thảo với Chủ tịch hội đồng Council of Foreign Relations Leslie Gelb, là một "giải pháp thứ ba", không tháo chạy như cánh tả và đa số đảng Dân chủ đề nghị, nhưng cũng không lỳ lợm dậm chân tại chỗ như chính quyền Bush đang bị đả kích.

Kế hoạch gồm năm điểm là 1) không chia Iraq làm ba nước nhưng là một quốc gia có ba vùng, 2) các sắc tộc sẽ cùng chia nhau quyền lợi về dầu khí, 3) tổ chức hội nghị quốc tế để tìm sự cam kết đa phương giữa các nước liên hệ hầu đảm bảo hoà bình cho Iraq, 4) tái phối trí và triệt thoái dần quân lực Mỹ từ nay đến cuối năm 2007, chỉ để lại khoảng 20 ngàn quân để đảm bảo sự cam kết của các lân bang, và sau cùng 5) gia tăng viện trợ tái thiết và tạo thêm việc làm cho dân chúng.

Kế hoạch này có đặc tính là vừa bảo vệ quyền lợi đồng đều của cả ba sắc tộc Shia, Sunni và Kurd trong một nước Iraq thống nhất đồng thời dùng thế ngoại giao để ngăn ngừa xung đột giữa các hệ phái và sự can thiệp của các lân bang.

Nhược điểm của mọi kế hoạch ngoại giao là… bắp thịt. Là sức mạnh và ý chí.

Một kế hoạch tương tự đã thành công tại Bosnia trong vùng Balkan vì các nước liên hệ không muốn giao tranh lan rộng. Xứ hung hăng nhất là Serbia thì sau đó cũng bị chặn đứng tại Kosovo, rồi tự chuyển hoá ra chế độ dân chủ sau khi Slobodan Milosevic bị loại. Đấy là xung đột giữa các nước trong Liên bang Nam Tư nằm tại Âu châu và nếu các nước Âu châu không giải quyết được xung đột thì Hoa Kỳ phải nhập cuộc, nhưng có sự hợp tác hỗ trợ của Âu châu.

Trường hợp Iraq thì khác.

Và chúng ta trở lại cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ.

Chính quyền Bush sẽ còn tại chức đến tháng Giêng năm 2009, nhưng Quốc hội được bầu lại vào tuần tới sẽ chi phối các quyết định của Hành pháp.

Nếu đảng Dân chủ thắng lớn tại cả hai viện, Thượng viện có khả năng làm tê liệt mọi sáng kiến đối ngoại của ông Bush. Nếu Hạ viện cũng rơi vào tay đảng Dân chủ, ông Bush sẽ bị điều tra truy tố liên miên và bị cột tay về đối ngoại qua thủ tục ngân sách. Lý do là mọi người chú ý đến và tự chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử 2008.

Lần đầu tiên từ 56 năm nay, các ứng viên tổng thống và phó tổng thống vào năm 2008 sẽ là khuôn mặt mới, không ai là người đang tại chức mà ra tái tranh cử.

Trước một đấu trường mở rộng ấy, việc chuẩn bị từ vòng sơ bộ trong từng đảng đến cuộc đầu phiếu vào mùng bốn tháng 11 năm 2008 sẽ hứa hẹn nhiều pha sôi nổi, khởi sự ngay từ cuối năm 2007. Căn cứ trên số lượng bùn nhơ được quăng ra trong cuộc bầu cử năm nay, chúng ta phải đoán trước là kỳ tới sẽ còn hãi hùng hơn.

Khiến cho không ai nhìn thấy gì nữa.

Trừ các Giáo chủ Iran.

Các lãnh tụ Iran đều thấy và biết rằng Hoa Kỳ đang bị suy yếu, mọi lời hăm dọa ngăn ngừa hay trừng phạt kế hoạch võ khí hạch tâm của Tehran đều là vô hiệu. Đấy là chưa kể đến hai hội viên thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc là Trung Quốc và Liên bang Nga đều sẵn sàng đỡ đòn cho Iran, có khi là để mặc cả chuyện Bắc Hàn.

Đã vậy, Iran còn muốn Hoa Kỳ bị suy yếu hơn nữa nên ra sức quậy phá vào nội tình Iraq, qua lực lượng Shia được xứ này yểm trợ và trang bị, không khác gì lực lượng Hezbollah tại Lebanon.

Vì vậy, Iran và các hệ phái võ trang Shia đang cắt cánh ông Bush.

Hoạt động ấy đã tác động vào chính trường Mỹ khiến chính quyền Bush và đảng Cộng hoà bị thất thế nặng dù kinh tế đang phát đạt, năng suất gia tăng và thất nghiệp ở mức thấp nhất. Đấy là lá phiếu Iran, được truyền thông Mỹ hồn nhiên khuếch đại chỉ vì có ác cảm tiên thiên với chính quyền Bush. Các cuộc khảo sát gần đây đều cho thấy điều ấy, đa số đến 80% truyền thông cổ điển thuộc dòng chính lưu đều thiên về đảng Dân chủ và loan tin xấu nhiều hơn tin tốt.

Thông thường, đảng đa số - đang kiểm soát Hành pháp - thường bị yếu thế trong các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Lần này, tình hình có thể còn bất lợi hơn nữa cho đảng Cộng hoà vì hồ sơ Iraq, chưa nói đến quá nhiều tai tiếng đã xảy ra trong đảng và cách tường thuật của truyền thông. Nếu để ý, người ta thấy sự vụng về của Jon Kerry đã được các nhật báo lớn dồn xuống dưới và chỉ tường thuật phản ứng của Tổng thống Bush hay Phát ngôn viên John Snow!

Tuy nhiên, sự đời, hoặc tình hình tại Iraq, không nhất thiết biến chuyển theo một hướng tất yếu và giải pháp ôn hoà của Joe Biden chưa chắc đã là giải pháp khả thi.

Iraq là một xứ có đa số (60%) dân chúng theo hệ phái Shia, tương tự như Iran, nhưng cả hai lại nằm giữa một khối Á Rập đông đảo mà đa số theo hệ phái Sunni. Sức quậy phá của Iran và các lực lượng Shia khiến dân Sunni tại Iraq và các nước Hồi giáo Sunni khác e ngại, đứng đầu là Saudi Arabia.

Hoàng gia Saudi không muốn Mỹ đổ quân vào bảo vệ lãnh thổ của mình - một lý cớ khiến Osama bin Laden mở cuộc tấn công 9-11 - nhưng cần tới quân lực Mỹ để chặn đứng phe Shia. Giải pháp hay nhất là Mỹ vẫn có mặt tại Iraq để đỡ đạn cho mình. Cho nên, Iran muốn Mỹ tháo chạy, Saudi Arabia muốn Mỹ đừng triệt thoái. Phe Sunni tại Iraq cũng vậy. Chuyện này sẽ còn kéo dài đến 2008.

Vì sao lại đến nỗi ấy"

Khi Hoa Kỳ mở chiến dịch Iraq vào tháng Ba năm 2003, dân Shia và Kurd đã được giải phóng khỏi chế độ Saddam Hussein và đảng Baath của tộc Sunni. Ngược lại, từ trong cộng đồng Sunni, có ba lực lượng đã nổi dậy đánh Mỹ.

Đó là 1) tàn dư của chế độ Baath, mà lãnh đạo Mỹ thời đó đã dạt dột cho giải tán nhưng hết kiểm soát được; 2) các xu hướng quốc gia Sunni chống Mỹ vì không chấp nhận sự hiện diện của quân đội ngoại bang; và 3) các nhóm khủng bố xưng danh Thánh chiến và gom dần lực lượng dưới màu sắc al-Qaeda.

Trong suốt hai năm đầu, 2003 đến 2004, Hoa Kỳ đã được sự hợp tác của các nhóm Shia, với sự biểu đồng tình - nếu chưa nói là xúi dại - của Iran vì các đơn vị Mỹ tập trung giải quyết vấn đề Sunni. Mục tiêu là ngăn chặn khủng bố và phá hoại để thuyết phục phe Sunni hợp tác với một chính quyền liên hiệp ba phe tại Baghdad.

Đây là thời kỳ "vừa đánh vừa đàm" rất rắc rối khó hiểu.

Hoa Kỳ có đạt được kết quả ấy - mà truyền thông và đối lập không nói tới - khi các lãnh tụ Sunni đồng ý hợp tác và dân Sunni tham gia bầu cử, ngày một đông hơn trong ba cuộc bầu cử năm 2005.

Tình hình bắt đầu chuyển hướng khi chính phủ liên hiệp thành hình căn cứ trên bản Hiến pháp mới và do sự đề cử của Quốc hội mới.

Phe Sunni chấp nhận đấu tranh chính trị và còn hợp tác với Mỹ - hoặc chính quyền Baghad - khi phá vỡ các cơ sở khủng bố mai phục trong cộng đồng Sunni. Cao điểm là việc lãnh tụ al-Qaeda tại Iraq là Abu Musab al-Zarqawi bị hạ sát có thể là nhờ tin tức tình báo do phe Sunni cung cấp.

Nhưng cao điểm thì cũng là cực điểm khiến mọi sự đảo lộn.

Trước tiên, khi chính quyền liên hiệp ba phe bắt đầu thành hình  tại trung ương ở Baghdad là lúc các nhóm cực đoan ra tay. Ngôi đền vàng al-Askariyah của tộc Shia bị các nhóm đặc công "Thánh chiến" phá tan tại As Samarra vào đầu năm khiến phe Shia tung quân đi tiêu diệt các lãnh tụ Sunni để trả thù. Xung đột từ đấy manh nha bùng nổ.

Thứ nữa, chính quyền liên hiệp thành hình với một cam kết là mọi giáo phái đều giải giới các lực lượng võ trang của mình để thống hợp trong bộ máy an ninh và quân sự của trung ương. Việc ấy không thành vì phe này thủ thế sợ phe kia sát hại và ngay trong nội bộ cộng đồng Shia, các lãnh tụ Shia cũng giết nhau để giành thế mạnh.

Và nhân tiện giết cả lính Mỹ.

Đằng sau, các Giáo chủ tại Tehran xoa tay tính điểm.

Hôm Thứ Tư vừa qua, trong khi dư luận Mỹ còn theo dõi chuyện John Kerry, tại Iraq, các lãnh tụ Shia lên tiếng than phiền là Hoa Kỳ cộng tác khắng khít với phe Sunni và đòi giải giới các lực lượng võ trang Shia hầu các lực lượng này không thể nổi dậy trong một cuộc xung đột có thể xảy ra giữa Iran và Hoa Kỳ.

Lời than phiền ấy đáng chú ý hơn lời phát biểu tồi tệ của Nghị sĩ Kerry!

Tại Iraq, cả hai phe Shia và Kurd đều ngồi trên giếng dầu và gây sức ép với Mỹ để tiến tới một chế độ liên bang trong đó họ sẽ chiếm phần hơn nhờ tài nguyên dầu hỏa. Sau khi nổi dậy chống Mỹ, phe Sunni ngày nay đang cần tới sự yểm trợ của Hoa Kỳ để ngừa sức ép của hai tộc kia và Hoa Kỳ cũng cần yểm trợ các nhóm Sunni để chặn đà quậy phá của Iran qua các hệ phái võ trang Shia. Cũng vì vậy mà các lãnh tụ Shia mới lo ngại và sau hai năm hợo tác với Mỹ nay đang trở thành chống Mỹ!

Cầm đầu lực lượng chính trị mạnh nhất của tộc Shia, Thượng hội đồng Cách mạng Hồi giáo Iraq (SCIRI), Abdel Aziz al-Hakim đòi thành lập một khu tự trị Shia gồm chín tỉnh miền Nam trong khuôn khổ một chế độ liên bang. Tổng thống Bush lập tức bác bỏ đề nghị ấy và dưới áp lực tranh cử ở nhà, ông cũng yêu cầu Thủ tướng Nouri al-Malaki sớm giải giới các nhóm võ trang Shia để có thể thảo luận về một lịch trình rút quân. Bị áp lực ở đầu bên kia, Thủ tướng al-Malaki gián tiếp trả lời là chính phủ của ông sẽ chỉ bắt đầu giải giới vào cuối năm nay hay đầu năm tới, và còn than phiền lính Mỹ đã tấn công lực lượng võ trang Mehdi của giáo sĩ al-Sard!

Al-Malaki khẳng định rằng mình là Thủ tướng do dân Iraq bầu lên chứ không phải là bù nhìn của Mỹ. Ông ta có lý. Nhưng đối lập Dân chủ tại Mỹ cũng có vẻ hợp lý khi đả kích là chính quyền Bush là nuôi báo cô một chính phủ thiếu khả năng, thực quyền khiến lính Mỹ chết oan!

Giữa khi hai người đang gây sức ép với nhau để tranh thủ hậu thuẫn ở nhà thì Tổng thống Iraq, Jalal Talabani, một lãnh tụ Kurd, lên tiếng than phiền là truyền thông Hoa Kỳ chỉ loan tin xấu, chứ tình hình tại chỗ thực ra có cải thiện. Nhưng Hoa Kỳ sẽ còn phải diện diện tại đây ba năm nữa.

Tóm lại, khi dân Mỹ đi bầu và chính giới Mỹ đã nhắm vào cuộc bầu cử 2008, thì tại Iraq, chúng ta có phe Sunni và các nước Á Rập khác không muốn Mỹ rút ngay, có Iran và các nhóm Shia muốn bị suy yếu để có thể khống chế cả Iraq. Và phe Kurd thì nương theo ngọn triều với Mỹ để giành được tối đa quyền lợi cho mình mà khỏi đổ máu.

Dù kết quả bầu cử có ra sao đi nữa, tại Iraq, Hoa Kỳ sẽ gặp mâu thuẫn lớn và có thể là xung đột nặng với phe Shia mà chỉ có thể giải trừ được nội loạn ở đây khi chặn được bàn tay của Tehran.

Nhưng bàn tay ấy cũng đang thọc vào thùng phiếu tại Mỹ.

Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.