Hôm nay,  

Dân Đảo ‘khát’ Nước

09/06/200900:00:00(Xem: 5859)

DÂN ĐẢO ‘KHÁT’ NƯỚC

Bạn,
Theo báo Sài Gòn, tại vùng biển tỉnh Kiên Giang, miền Tây Nam phần, cư dân  quần đảo Nam Du (huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang), đang "khát" nước ngọt. Các giếng đào, giếng khơi gần như cạn kiệt. Người dân phải vét từng lon một. Những năm mùa khô kéo dài, người dân chia lịch để vét nước. Nước chảy ra bao nhiêu, vét hết bấy nhiêu. Nước ít nên phải vét luôn cặn, cát rồi lắng lại để uống.  Các gia đình cử người đi "canh" nước, ngủ xếp hàng chờ đến lượt mình. Những mạch nước ngầm hiếm hoi vắt kiệt sức vẫn không thể cung cấp đủ nước ngọt cho người dân sử dụng. Báo Cần Thơ ghi nhận thực trạng này như sau.
Tại quần đảo Nam Du, ông Trần Văn Tuấn, 17 năm sinh sống trên Hòn Mấu, cho biết: "Nước ngọt trở thành nỗi ám ảnh. Có những đêm đang ngủ, tôi bỗng la thất thanh vì chiêm bao thấy có người lấy cắp thùng nước ngọt của mình vừa "mót" được! Nhờ trời, năm nay mưa sớm, giếng vẫn còn chút nước. Hạn chừng nửa tháng thì giếng cạn queo. Lại phải ngủ tại giếng chờ... vét nước!".


Liên tục nhiều cơn mưa đầu mùa năm nay không làm dịu được cơn khát. Cư dân trên quần đảo 21 hòn này chủ yếu trông chờ vào nguồn nước duy nhất tại Bãi Ngự ở Hòn Lớn (xã An Sơn, huyện Kiên Hải). Vị trí "đối sơn tích thủy" của khu vực này đã tạo ra nguồn nước ngọt quanh năm. Nhưng gần đây, nguồn nước này cũng không còn dồi dào nữa. Người dân ngay tại Hòn Lớn vẫn phải đổi nước với giá 15 ngàn đồng/thùng phuy 200 lít, 3 ngàn đồng/2can loại 20 lít. Qua tới Hòn Ngang, Hòn Mấu (xã Nam Du), giá nước tăng thêm 3 ngàn-5 ngàn đồng/phuy, 1 ngàn đồng/đôi tùy vị trí. Lúc khan hiếm, giá đổi nước lên đến 35 ngàn đồng, cao điểm là 65 ngàn đồng/  phuy nước. Người nghèo không mua được nước thì cầm can chờ ở cầu tàu trông chờ vào sự "hào phóng" của nhà tàu mang nước từ đất liền ra đảo để giải nhiệt cơn khát.
Nước ngọt trở thành "báu vật" của người dân đảo xa nên phải chắt chiu từng giọt. Bà Lưu Thị Phương, ở xã Nam Du, tâm sự: "Nước vo gạo được sử dụng rửa rau. Xả quần áo bằng nước biển rồi mới sử dụng nước ngọt xả lại để... rửa mặn. Tắm cứ như thoa nước lên người chứ chẳng dám xối nhiều. Tiết kiệm lắm thì mỗi người cũng phải sử dụng khoảng 150 ngàn-200 ngàn đồng tiền nước ngọt mỗi tháng. Lúc khan hiếm, giá cao, nước ngọt chỉ để uống và nấu ăn. Tắm biển rồi "rửa mặn" bằng một ít nước ngọt...".
Bạn,
Cũng theo báo Cần Thơ, hằng năm, người dân trên quần đảo Nam Du phải chịu "khát" nước ngọt ít nhất 3 tháng. Nhiều giếng khơi, giếng tự nhiên và một số giếng đào bị nhiễm mặn, nước lợ nhưng cũng được người dân tận dụng mang về dùng.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có những di sản văn hóa mang theo những mảng hồn dân tộc, mà chúng ta khi nhớ tới vẫn luôn luôn cảm động, vì đó là một phần lịch sử mở nước, dựng nước của ông bà mình.
Trong thời toàn cầu hóa, không chỉ kinh tế bị tác động lớn, cả lợi và hại, mà văn hóa cũng thế. Do vậy, bản sắc dân tộc cũng sẽ chuyển biến qua từng thế hệ, có nơi nhạt hơn một chút, và có nơi đậm hơn một chút -- và đôi khi, như ở các thành phố lớn, như tại Sài Gòn, văn hóa trở thành một tổng hợp chuyển biến, tác động lẫn nhau.
Gốm Việt Nam trước giờ nổi tiếng nhất là gốm Bát Tràng. Có lẽ một yếu tố làm cho gốm Bát Tràng được biết nhiều là nhờ vị trí điạ lý thuận lợi, nằm ngay ở Gia Lâm, Hà Nội – nghĩa là bên bờ thủ đô, và do vậy được các phóng viên báo chí viết nhiều. Nhưng như thế không có nghĩa là gốm Việt Nam mình chỉ duy có gốm Bát Tràng.
Làm thế nào có thể giữ gìn những điệu hát dân ca của Việt Nam? Có lẽ, đó làmột trong những khó khăn nhất đối với những người yêu mến nghệ thuật dân tộc.
Câu chuyện bằng giả là bình thường, vì chỉ cần một máy in đặt bên cạnh máy điện toán, nối dây xong, dùng Photoshop phù phép là xong.
Tình yêu đôi khi cần lời khuyên, bất kể rằng trái tim vẫn có những lý lẽ riêng của nó.
Đó là một chữ mới thấy trong hơn một thập niên nay, có thể là gần 2 thập niên: chém gió. Chữ này không rõ dịch chính xác ra ngôn ngữ bạn đang sử dụng thế nào... thôi thì mượn những chữ khá xưa mà bạn đã biết để đối chiếu: “chém gió” có nghĩa là “nổ,” là “xạo,” là “bẹt cà na”...
Nên “có tiếng“ hơn là nên “có miếng”? Những lựa chọn như thế có thể ảnh hưởng nhiều tới, không riêng cho bản thân người lựa chọn, nhưng sẽ tác động ra cả xã hội, nếu đây là một chính sách.
Chúng ta có bao giờ hài lòng với công việc của mình? Hoặc là chỉ hài lòng vào những ngaỳ cuối tuần khi được nghỉ ngơi, và bất mãn vào những ngày lao động nặng nhọc trong tuần?
Thế lào nà lói ngọng? Trời ạ, lại nói ngọng rồi. Không phải giỡn, nhưng nói ngọng là điều không nên, tuy là lỗi rất bình thường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.