Hôm nay,  

Người Mã Lai

12/04/201400:00:00(Xem: 6199)
Chúng tôi rời bến vào lúc 10 giờ đêm ngày 31 tháng 5 năm 1979. Ba chiếc tàu cùng rời một lúc. Chiếc của chúng tôi nhỏ nhất, bề ngang 3.5m, dài 17.5m, chở tổng cộng 328 người. Ba chiếc tàu theo sông Cửa Tiểu là một trong chín cửa của sông Cửu Long chạy ra biển Thái Bình. Đêm hôm khuya khoắt, hai bên bờ sông tối đen như mực. Tiếng máy tàu chạy đều đều. Mọi người quá mệt mỏi, ngủ say.

3 giờ sáng, chúng tôi đã ra tới cửa biển. Nghe sóng vổ lách tách bên mạn tàu, tôi giật mình thức giấc và đoán rằng mình đã bắt đầu ra đại dương, bỏ lại sau lưng chế độ cộng sản, công an, những rình rập, soi mói, những hồi hộp lo âu.

Đến 8 giờ sáng chúng tôi hoàn toàn mất hút bến bờ Việt Nam. Ba chiếc tàu chạy hầu như song song, cùng rẽ sóng về phía nam. Ngày thứ hai trên Thái Bình Dương, chúng tôi thấy thấp thoáng đảo Côn Sơn. Đêm thứ hai, khoảng 9 hay 10 giờ đêm, chúng tôi gặp một chiến hạm Mỹ. Tàu họ cũng tối đen vì họ không bật đèn và cũng xin ghi chú nơi đây là chúng tôi chưa cách bờ Việt Nam xa lắm, nói một cách khác, chúng tôi chưa ở vào hải phận quốc tế. Họ không cho chúng tôi lại gần. Họ phái một chiếc ca-nô đệm hơi với khoảng 4, 5 người lính đến cặp tàu chúng tôi và nói chuyện với ngưới đại diện của tàu là anh Chí. Rõ ràng là lính Mỹ vì họ trang bị bằng M16. Sau đó, họ cho anh Chí lên ca-nô và đưa về chiến hạm để gặp cấp chỉ huy của họ.

Câu chuyện vượt biên nào cũng thật dài. Tôi xin mạn phép tạm ngừng kể phần nầy và xin kể đến phần chúng tôi vào đến bờ Mã Lai sau 8 ngày lênh đênh trên Thái Bình Dương và bốn lần gặp hải tặc Thái.

Chiều ngày 7 thâng 6 năm 1979, chúng tôi đã đến gần bờ biển Mã Lai. Ban tổ chức tầu chúng tôi quyết định cho đục tàu vì như thế lính Mã Lai không thể xua chúng tôi ra biển cả. Chiếc tàu bắt đầu vô nước và chúng tôi chuyển những người già, đàn bà, trẻ em vào bờ dần dần. Khi cách bờ chừng 10 thước, tôi đã thấy nhiều lính Mã Lai đứng dàn hàng ngang trên bờ như đợi chúng tôi lên. Họ để chúng tôi leo lên bờ. Kế đến họ hỏi ai là chủ tàu, ai là tài công. Khi hai người nầy đến trình diện họ, các tên lính Mã Lai dùng báng súng đánh hai người nầy rất dã man. Mọi người rất lo lắng đến run sợ vì sau 8 ngày trên biển, chúng tôi hết sức mệt mỏi, muốn được nằm ngay trên bãi biển nầy ngủ cho một giấc. Chúng tôi không biết số phận của mình sẽ ra sao.


Đến gần chiều tối, có nhiều xe chở quân, kiểu xe GMC của mình, đến đưa chúng tôi về một trại tạm cư mà sau nầy tôi biết đó là quận Kota Baru, thuộc tỉnh Kelantang, cách biên giới Thái Lan 10 cây số về hướng Bắc.

Ngày 20 tháng 6, 1979, Ban Giám Đốc trại, tạm gọi như vậy, cho lập danh sách tất cả người vượt biển trong trại lúc ấy có khoảng trên dưới 1.000 người. Tiếp theo, chúng tôi được chích ngừa mà tôi không nhớ họ chích ngừa bịnh gì. Mọi người vui cười hớn hở vì có tin chúng tôi sẽ được đưa đi Bidong là đảo tị nạn quốc tế. Chúng tôi đều biết rằng đến Bidong chúng tôi mới có hy vọng nộp đơn xin định cư ở Mỹ, Úc, Canada…

Ngày 23 tháng 6, 1979, tất cả boat people Việt Nam, già trẻ, lớn bé… đều được đưa lên những chiếc tàu vượt biển của người tị nạn, lần lượt các chiếc tàu chiến Mã Lai dùng dây thừng kéo tàu chúng tôi ra biển. Số phận tang thương đang chờ sẵn mà chúng tôi không biết. Sau ba ngày hai đêm được kéo, chiều ngày 25 tháng 6,1979, giữa đại dương mênh mông không thấy bến bờ, chỉ có trời và nước, ông thuyền trưởng đứng trên bơong tàu, nói với chúng tôi, tay chỉ về hướng xa xa, các anh có thấy bờ kia không, hãy cho tàu chạy về hướng đó. Nói xong, một tên thủy thủ chặt dây thừng và chiến hạm Mã Lai bỏ chúng tôi chạy đi. Tôi nhìn sợi dây thừng từ từ rớt xuống mặt biển kêu đánh “bạch” một tiếng mà như đứt ruột. Tàu chiến Mã Lai đã kéo tất cả người Việt tị nạn ra biển để cho họ lênh đênh và chết dần. Có tin họ kéo trung bình mỗi tuần 10,000 người bỏ ra biển, lý do: thứ nhất, để làm chùn chân những người Việt tị nạn cứ ùn ùn đổ vào Mã Lai khiến họ gánh một gánh nặng; thứ hai, để làm áp lực với các quốc gia đã chấp nhận lấy người tị nạn nhưng còn chậm chạp thủ tục.

Và đó là người Mã Lai.

(Bài nầy có tính cách thuật lại một sự việc. Phần phê phán là quyền của độc giả.)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm nay cô giáo không ra đề tài đề viết luận văn, bạn nào muốn viết gì cũn (cũng) được, mà viết bằng tiến (tiếng) Việt là được, nên em viết về mẹ của em.
Mỗi năm, lớp dạy tiếng việt của tôi càng có thêm nhiều học trò mới. Có em còn nhỏ, có em đã lớn rồi mà nói tiếng Việt chưa sành sõi, có em còn chưa nói được tiếng Việt nào.
Tóm tắùt: Ngày xưa có một hoàng tử bị mụ phù thủy giam vào chiếc hộp sắt đem bỏ giữa rừng. Ngày nọ có một công chúa đi lạc, nhìn thấy và nghe tiếng nói từ trong hộp phát ra. Nàng hứa sẽ lấy và cứu người trong hộp và được hướng dẫn trở về hoàng cung.
Tác giả tên thật Nguyễn Hoàng Việt sinh tại Sài Gòn. Định cư tại Mỹ năm 1990 qua chương trình ODP (bảo lãnh). Tốt nghiệp Kỹ Sư Cơ Khí tại tiểu bang Virginia năm 1995. Hiện cư ngụ tại miền Đông Nam tiểu bang Virginia. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ cuối năm 2016. Với “Viên Đá Kỳ Diệu,” một trong bốn bài viết về nước Mỹ của ông, Thảo Lan đã nhận giải đặc biệt Viết Về Nước Mỹ năm thứ 19.
Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ sẽ tổ chức Đại Nhạc Hội Kỷ Niệm 9 Năm Thành Lập và đồng thời ra mắt DVD "Hè Kỷ Niệm" vào thứ Bảy, 30 tháng 3, lúc 5:30 pm tại nhà hàng Majesty
Những vụ “Cúng sao giải hạn” hằng năm làm tắc đường Hà Nội của chùa Phúc Khánh, rồi “trả nghiệp theo giá ra của Vong” ở chùa Ba Vàng quá trắng trợn phản Phật pháp gần đây, cùng với hội chứng start-up đua nhau xây chùa to để buôn thần bán thánh, chỉ là bước “cái u” biến thành “ung thư” của tình hình Phật giáo nước nhà
làm thế nào để hòa được với kẻ khác? – Đơn giản là hãy tự làm mờ nhạt mình đi, đừng tô đậm cái tôi của mình trước kẻ khác. Vì lòng thương, vì mong mỏi hạnh phúc an vui đến với người khác mà quên mình đi; đừng cho mình là quan trọng, cao quý, còn kẻ khác là phụ thuộc, thấp hèn.
Thị Trưởng Tạ Đức Trí, Phó Thị Trưởng Kimberly Hồ sẽ đệ trình Dự Án Xây Đài Tưởng Niệm 74 Tử Sĩ Hoàng Sa trong khuôn viên Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, bên cạnh tượng đài của 5 vị Tướng.
Hóa ra, chùa chiền ở Việt Nam không phải nơi đâu cũng đều “tĩnh lặng và trang nghiêm” như trong ký ức tuổi thơ an lành và êm ả của tôi. Không ít chỗ không gian tâm linh truyền thống của cả dân tộc đã bị quấy động
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.