Hôm nay,  

Mưa Núi

25/01/200500:00:00(Xem: 8684)
Người bạn đạo rủ tôi lên chùa trên núi nghe pháp vì có người cho quá giang. Thật là duyên lành vì đấy là ngôi chùa tôi mong một lần được viếng mà chưa có phương tiện.
Buổi chiều trước ngày đi, tin khí tượng báo, đêm sẽ mưa và hôm sau còn mưa nữa! Bạn tôi gọi, và lo lắng:
- Mưa, làm sao mà lên núi "
- Thế người cho quá giang có đi không "
- Chưa nghe họ nói gì cả.
- Vậy mình cứ coi như trời không mưa, sáng mai mình cứ đến điểm hẹn.
Điểm hẹn chính là tư gia của người sẽ cho chúng tôi quá giang. Tin khí tượng lâu lâu đoán sai nhưng lần này họ lại đoán đúng quá ! Đêm qua tôi nằm thao thức nghe mưa rạt rào bên khung cửa, nghĩ đến bầy chim sẻ đông đảo làm tổ trên cây thông rậm rạp tàn lá, lối cửa vào nhà bếp. Bản năng sinh tồn thật là kỳ diệu, sau những cơn giông bão tả tơi của đất trời, tưởng như những sinh vật nhỏ bé không còn cơ sống sót, vậy mà, chỉ một tia nắng ban mai yếu ớt thôi là chúng lại reo vui cùng vạn hữu. Tôi biết chúng sẽ qua được đêm mưa này để ngày mai lại chịu cơn mưa khác. Sự khổ đau của con người cũng như vậy chăng " Có những nỗi đau ta tưởng không chịu nổi nhưng rồi nỗi đau đó vẫn qua, ta vẫn còn đó để sẵn sàng chịu bao nỗi đau khác tới !
Sáng sớm hôm sau, hai đứa tôi lội mưa tới điểm hẹn. Chủ nhà đã sẵn sàng, và chúng tôi cùng lên đường trên chiếc xe Van của họ do con trai họ lái. Ở thời buổi này, hai người thanh niên trẻ trung, năng động, dành ngày cuối tuần đưa bố mẹ đi chùa là điều khá hiếm. Hiếm hơn nữa, câu chuyện trên xe họ nói với nhau chỉ là những sinh hoạt trên chùa, thỉnh thoảng nhắc đến tên những vị tăng ni mà họ quý mến mà không hề có tiếng thị phi qua lại.
Mưa nhẹ hơn khi xe rẽ vào đường núi. Phút chốc, cảnh ồn ào phố thị đã khuất sau lưng. Núi rừng hùng vĩ bao la ngạo nghễ trong màn mưa trắng đục. Xe chạy qua rừng thông, qua rừng sồi, qua những vách đá cheo leo mà vững chãi, niềm vui trong lòng tôi, theo với mưa mà chan hòa trời đất……
Mưa lại nhẹ hạt hơn, chỉ còn như những làn bụi mỏng khi xe ngừng trước thiền đường khang trang trên một ngọn đồi. Đó đây, những bóng áo nâu, áo lam thấp thoáng như những nét chấm phá tuyệt vời trên bức tranh thủy mạc linh động. Không có tiếng cười nói ồn ào, không có những bước chân khua động vội vã, không có những gương mặt nhăn nhó, ưu tư…..chỉ thấy những nụ cười nhẹ nhàng, những cái chắp tay chào nhau thầm lặng mà đầy thân ái, những bước chân khoan thai mà đầy an lạc, thảnh thơi. Không ai bảo ai, họ thư thái, nhu hòa, thể hiện chân-như bát ngát.
Hai chúng tôi hòa nhập vào đạo tràng đó và dù cố gắng thế nào vẫn lộ rõ sự lúng túng, lăng xăng. Rồi giờ thực hành nghi lễ bắt đầu. Tuy không thấy vị Thầy chủ lễ nhưng trên những hàng tọa cụ đối diện nhau, chúng tôi thấy quý Sư chú, Sư cô đông đến hơn ba mươi người. Các vị ngồi xuống, rất nhẹ nhàng, và gương mặt đều toát ra tràn đầy vẻ từ ái. Chính tư thái đoan nghiêm của các vị tu sĩ đã truyền năng lượng trực tiếp đến tất cả Phật tử hiện diện và mọi người đều đồng nhất ngồi xuống như thế, thanh thản như thế và nhu hòa như thế. Không khí này tôi chưa từng được thấy ở bất cứ ngôi chùa nào, tu viện nào mà tôi đã viếng thăm. Và lòng tôi rung động khi nghĩ tới hai câu thơ: “Người trang nghiêm cõi Phật. Là trang nghiêm tâm người”. Lẽ đạo đơn giản quá ! Cứ tập trang nghiêm tâm mình đi, thì cõi Phật trang nghiêm là chính đó. Tâm náo động mà đi tìm cõi Phật trang nghiêm thì có khác gì nàng Diễn Nhã Đạt Đa trong Kinh Lăng Nghiêm, cứ lắc đầu mà khóc rằng “Đầu tôi đâu " Tôi đã mất đầu!”
Khi đại chúng đều an tọa, vị duy-na điểm nhẹ ba tiếng chuông rồi cất giọng, xướng bài kệ Dâng Hương. Mọi người lặng yên quán tưởng. Bên ngoài, trời lại bắt đầu mưa. Xung quanh thiền đường toàn là cửa kính nên có thể thấy rất rõ từng cái oằn mình của nhánh thông non, từng chiếc lá sồi lượn lờ trong màn mưa trong vắt, nghe được từng tiếng gió rít qua hàng tiêu lả ngọn, và, ở một phút nào, có phải là mưa đang cùng tụng Bát Nhã " Ôi, kỳ diệu thay ! mưa đang hòa âm thanh trầm bổng với tăng chúng

“…Sắc chẳng khác gì không
Không chẳng khác gì sắc
Sắc chính thực là không
Không chính thực là sắc
Còn lại bốn uẩn kia
Cũng đều như vậy cả….
...
Gate
Gate
Paragate
Parasamgate
Bodhi
Svaha.”
Chỉ khi đọc tới câu chú này tôi mới định thần rằng mình vừa mộng tưởng. Nhưng cái gì là mộng, cái gì là thực khi “Sắc chẳng khác gì không. Không chẳng khác gì sắc”" Âm thanh tôi đang nghe được qua nhĩ căn có thực là âm thanh Bát Nhã, hay chính cơn mưa hùng tráng tinh khôi ngoài đồi núi bạt ngàn kia mới là bài ca Bát Nhã bất tận " Mưa xuống như rong chơi, núi lặng yên tắm mát, rừng đùa vui cùng gió rạt rào, những tảng đá thì thào to nhỏ….vạn hữu thể hiện tràn đầy tự tại an nhiên, trong sáng và đơn giản, đứng ngoài mọi biệt phân, hý luận chính là tinh thần Bồ Tát Tự Tại “…Nên khi vị Bồ Tát
Nương diệu pháp Trí Độ
Bát Nhã Ba La Mật
Thì tâm không chướng ngại
Vì tâm không chướng ngại
Nên không có sợ hãi…”
Năng lượng của tăng chúng, của gió núi mưa rừng, của tiếng chuông rất nhẹ mà như ngân vô tận, của tiếng mõ rất nhỏ mà như thoảng khôn dừng, tất cả, trong một sát na, bỗng lắng yên. Một cánh cửa hé mở. Một chút mưa, một chút gió đùa nghịch lén theo gót chân Thầy. Nhẹ tay khép cửa, Thầy bước vào, cởi chiếc nón lá, rũ nhẹ những giọt mưa còn lưu luyến rồi từ tốn đặt nón ở góc phòng. Thầy bước từng bước chậm nhưng vững chãi, an nhiên. Thầy tiến lên bục giảng. Thầy chắp tay. Và Thầy nói:
- Xin chào đại chúng.
Tất cả đại chúng chắp tay và cúi đầu.
Trời ơi, tôi chưa thấy nơi nào mà cung cách đón vị giảng sư vào đạo tràng lại đơn giản mà tôn nghiêm đến thế! Có cần chi chuông khánh rộn ràng mà tâm thiếu tôn kính trang nghiêm" Nơi đây, Thầy tự bước vào, cất tiếng chào đại chúng trước. Và Phật tử lặng yên chắp tay đáp lễ, chính là đang nhiếp tâm chánh niệm, cúng dường Thầy nội tâm thanh tịnh của mình. Một kẻ còn ngơ ngác như tôi mà cũng nhận được ra như thế ! Tôi liếc nhìn người bạn đạo ngồi bên, cũng là lúc chị ngửng đầu lên, môi điểm nụ-cười-Ca-Diếp trong Hội Liên Hoa.
Rồi Thầy cất tiếng giảng. Giọng Thầy cũng nhẹ như khi Thầy bước vào cùng mưa, nhưng rõ ràng, khúc chiết như những giòng chữ Thầy đang ghi trên bảng đen. Bài giảng xen lẫn những áng thơ óng chuốt mà Thầy phiên dịch từ chữ Hán sang chữ nôm. Với viên phấn trắng, Thầy viết nguyên bản chữ Hán đến đâu thì cất giọng phiên dịch đến đấy. Không phải là giấy điều, bút lông mà nét chữ Thầy đã rất đẹp, rất bay bướm. Hôm đó, Thầy mở đầu bằng bài thơ của vua Trần Nhân Tông tức là Thiền sư Hương Vân, để giảng về Hạnh Bồ Tát. Thỉnh thoảng Thầy nâng tách nước, uống một ngụm nhỏ, như để đại chúng có chút không gian, thời gian thấm được những lời Thầy nói. Bằng ái ngữ dịu dàng, cử chỉ khoan thai, Thầy giảng bài pháp thâm diệu hết sức xúc tích mà lại vô cùng dễ hiểu. Hạnh phúc biết bao khi được thọ nhận pháp thí này!
Khi Thầy vào như thế nào thì ra như thế ấy. Sau kệ hồi hướng, Thầy chắp tay xá đại chúng, bước xuống bục giảng, đi về hướng cửa. Tới góc phòng, Thầy cúi xuống, cầm chiếc nón lá, nhìn ra khung trời mưa bay rồi chậm rãi đội nón, mở nhẹ cánh cửa. Không nói thêm một lời mà như để lại ngàn lời.
Đại chúng đều ngồi chắp tay lặng yên, nhiếp tâm chánh niệm theo bóng áo nâu nhòa dần sau làn mưa núi….
Tôi khóc tầm tã như mưa! Hạnh phúc như mưa! Lắng trong và ngọt lịm như mưa! Pháp là thế mà thôi, là Từ Bi Trí Tuệ thể hiện viên dung, như Đức Phật đã dạy: “49 năm ta chưa từng nói.” Nhưng hãy nhìn những bước Đức Phật đi, hãy thấy những việc Đức Phật làm mới biết đâu là cửa đạo.
Trên đường xuống núi, người bạn cùng đi, nhặt một chiếc lá phong rất đẹp vương trên bụi cỏ, im lặng đưa cho tôi. Tôi nhận chiếc lá. Và im lặng mỉm cười. Bỗng nhiên tôi hiểu bạn như bạn đang hiểu tôi.
Chúng ta vừa thực chứng giai thoại “Niêm hoa vi tiếu” thuở nào…….
Diệu Trân

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vợ chồng Nguyễn Trung Tôn chào đời không đúng chỗ, và cũng không đúng lúc (wrong time and wrong place) nên gặp phải lắm nỗi gian truân. Ông bà Lữ Phương sinh sống tại miền Nam (vào một thời điểm khác) nên cuộc sống của họ cũng hoàn toàn khác, êm thắm và khoẻ khoắn hơn nhiều.
Vào ngày 30-4-1975, từ tờ mờ sáng tại các nơi chung quanh Sài Gòn và Biên Hòa, một số đơn vị VNCH: Sư đoàn 5 Bộ binh, Sư đoàn 18 Bộ binh, Lữ đoàn 3 Thiết kỵ, các đơn vị Dù, Thủy quân Lục chiến, Biệt động quân...
Trần tấn Đạt – bạn bè thường gọi Đạt ròm, ốm quá - và tôi là đôi bạn chí thân từ năm lớp 7 đến lớp 9. Chúng tôi cùng học ở trường Trung học Phong Châu gần cầu Cá lóc, châu thành Bến Tre. Đi đâu cũng có cặp, trong lớp thường gọi là cặp bài trùng
Khuya dậy nghe tiếng dế gáy đâu đó ở vườn sau. Trăng hạ huyền mảnh khảnh phương tây. Bầu trời không mây, trong vắt, như tấm gương ảnh hiện một góc sáng, loang dần lên từ phương đông.
Văn hào Nga Leo Tolstoy - Lev Nikolayevich Tolstoy (1828 –1910) là một trong những tiểu thuyết gia nổi tiếng nhất thế giới từ thế kỷ XIX cho đến nay.
Kính thưa quý vị, sau khi phổ biến bài viết “Sao Không ‘Bế’ Người Bạn Đồng Minh” (https://vietbao.com/a293229/sao-khong-be-nguoi-ban-dong-minh-) đồng thời kèm theo tấm hình của một người Thương Phế Binh VNCH
Cuộc chiến Việt Nam đã xem như chấm dứt được bốn mươi năm nhưng vẫn còn để lại những “Hội Chứng Việt Nam” trong lòng tất cả con dân nước Việt.
Đất đi liền với con người nên ca dao, tục ngữ, thi văn cũng nhan nhãn nhiều câu có chữ đất: đất thiêng, thần đất, thổ thần, thổ nghi, phong thổ, địa linh nhân kiệt v.v... Trong Phật học thì đất là một phần trong Tứ Đại: đất, nước, gió, lửa. Trong kinh Phật cũng có một kinh gọi là kinh Địa Tạng
Thành phần: Tổng cộng 60 người gồm các giáo sư của 20 trường đại học và các thành viên quan tâm tham dự hội thảo về 22 đề tài qua chủ đề Việt Nam Hóa chiến tranh.
Ông Châu Bá Lư viết nhiều bài văn dạy con cháu rất chí lý và dễ hiểu, đại khái về cách ăn ở đời và những điều trung hiếu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.