Hôm nay,  

Luật Pháp Phổ Thông

09/08/200400:00:00(Xem: 6412)
Hỏi (Bà Trần T.H.A.): Tôi cùng chồng tôi vượt biên cách đây gần 20 năm. Khi đến quốc gia tạm dung chúng tôi có khai là vợ chồng, nhưng sau một thời gian chờ đợi hơn 2 năm chúng tôi đã bất đồng về việc chọn quốc gia để định cư nên chúng tôi đã quyết định tách form vì đã ly dị. Thực ra anh ta muốn đi Mỹ, còn gia đình tôi hồi đó có người ở Úc nên tôi nhất định phải đi Úc.
Sau khi đến Úc chừng một năm thì anh ta cũng đến Úc và chúng tôi sống chung lại với nhau như vợ chồng. Hiện chúng tôi vẫn chưa có con với nhau.
Sau năm 1975, chúng tôi kết hôn và có làm hôn thú nhưng khi vượt biên thì chúng tôi chẳng để ý đến những loại giấy tờ đó nên chẳng mang theo.
Cách đây hơn hai năm, chồng tôi đã trở lại Việt Nam lần đầu tiên để thăm gia đình và năm ngoái anh ta đã về Việt Nam thêm 2 lần nữa. Tôi có hỏi lý do thì anh ta không trả lời và cho rằng đó là chuyện riêng của anh ta.
Gần đây tôi được biết là anh ta đã kết hôn tại Việt Nam và hiện đang bảo lãnh để cho người vợ mới cưới này qua Úc.
Xin LS cho biết là tôi có thể ngăn chận việc bảo lãnh này dựa vào lý do là chúng tôi chưa hề ly dị hay không"

*

Trả lời: Trong thư bà đã cho biết là khi đến quốc gia tạm dung bà đã khai là vợ chồng nhưng sau đó bà đã tách form vì đã ly dị.
Lý do "vì đã ly dị" mà bà đã nêu lên trong thư khá mơ hồ, vì chúng tôi hoàn toàn không biết là bà muốn nói là bà đã ly dị tại quốc gia tạm dung, hay là bà đã ly dị tại Việt Nam trước khi bà vượt biên.
Nếu bà ly dị tại quốc gia tạm dung thì hiệu lực pháp lý của sự ly dị đó tùy thuộc vào luật pháp của quốc gia mà bà đã xin ly dị. Điều này khá phức tạp vì luật ly dị của các quốc gia được thiết định dựa trên phong tục tập quán, tình trạng xã hội, chế độ chính trị và một vài quốc gia khác trên thế giới dựa trên nghi thức được thừa nhận bởi tôn giáo.
Trong vụ Schwebel v. Ungar (1964) 42 DLR (2d) 622. Trong vụ đó, hai vợ chồng đã kết hôn một cách hợp lệ tại Hungary nơi họ cư ngụ. Hai vợ chồng đã vượt thoát khỏi Hungary với ý định đến định cư vĩnh viễn tại Israel. Trên đường vượt thoát, khi dừng chân tại Ý, họ đã ly dị tại Ý theo thủ tục của Do Thái Giáo gọi là "get, gett, hoặc ghet."
Thủ tục ly dị theo phương cách này được chấp nhận bởi Do Thái Giáo và được xem như là một thủ tục ly dị hợp pháp tại Do Thái, tuy nhiên thủ tục ly dị này không được thừa nhận bởi luật pháp của Hungary hoặc luật pháp của Ý. [Ghi chú: get, gett, ghet (thủ tục ly dị theo Do Thái Giáo): Theo luật lệ của Do Thái [Hebrew], thuật từ được dùng để chỉ sự ly dị theo Do Thái Giáo, chỉ có thể được thực hiện bởi người chồng trao chứng thư ly dị cho người vợ với sự hiện diện của hai nhân chứng, dù hai bên đương sự có đồng ý với sự ly dị hay không. (Under Hebraic law, the term used to denote a Jewish religious divorce, executable only by the husband handing a bill of divorce to the wife in the presence of two witnesses, whether both parties agree to the divorce or not).]
Sau khi ly dị, hai vợ chồng đã tự ý đến định cư một cách riêng rẻ tại Do Thái. Sau khi định cư tại Do Thái, người vợ, Ungar, đã đến thăm viếng Ontario, Gia Nã Đại, và đã kết hôn với Schwebel. Tuy nhiên, Schwebel sau đó đã nộp đơn thỉnh cầu tòa tuyên bố sự kết hôn là bất hợp pháp với lý do là Ungar đã kết hôn và chồng của bà ta hiện đang cư ngụ tại Do Thái. Mặc dầu bà ta đã ly dị nhưng sự ly dị đó không được chấp nhận bởi luật lệ tại Ontario. Tuy thế, tòa đã đưa ra phán quyết rằng sự kết hôn tại Ontario là hợp pháp và tòa đã bác đơn xin của Schwebel.


Theo luật pháp quốc tế, thì khả năng kết hôn của một người bị chi phối bởi luật lệ của quốc gia nơi đương sự cư trú cùng luật lệ của quốc gia nơi mà sự kết hôn xảy ra, chứ không tùy thuộc vào sự hợp lệ hoặc bất hợp lệ của thủ tục ly dị trước đây.
Khi Ungar kết hôn bà ta là thường trú nhân của Do Thái, Do Thái là trú sở của bà ta. Luật lệ của Do Thái đã chấp nhận việc ly dị trước đây của bà ta là hợp pháp và bà được xem là độc thân, vì thế việc kết hôn của bà tại Ontorio là hợp pháp, mặc dầu thủ tục ly dị theo Do Thái Giáo mà bà đã tiến hành trước đây đã không được chấp nhận bởi luật pháp của Hungary cũng như của Ý Đại Lợi.
Theo luật pháp quốc tế thì có hai vấn đề cần phải được đặt ra ở đây:
Vấn đề thứ nhất là liệu Ungar có quyền kết hôn với Schwebel tại Ontario hay không" Đây là vấn đề cốt lõi đối với sự hiệu lực pháp lý của việc kết hôn này, và điều này đã được quyết định theo luật pháp của trú sở khi việc kết hôn xảy ra. Đó là luật pháp của Do Thái, vì bà Ungar là thường trú nhân của Do Thái khi bà kết hôn tại Ontario. Luật pháp của Do Thái đã công nhận là bà Ungar có quyền kết hôn vì hiện bà đang độc thân và việc ly dị trước đây của bà tại Ý là hoàn toàn hợp pháp.
Mặt khác tòa nên giải quyết vấn đề "ly dị theo Do Thái Giáo" [get, gett, ghet] và vấn đề kết hôn lần thứ hai tại Ontario một cách độc lập đối với nhau.
Theo án lệ, vấn đề ly dị được quyết định theo luật pháp của lãnh thổ hoặc của quốc gia nơi mà các bên đương sự trú ngụ vào lúc tiến hành thủ tục ly dị. Điều này có nghĩa là luật pháp của Hungary hoặc của Ý Đại Lợi. Tuy nhiên, luật pháp của 2 quốc gia này không chấp nhận thủ tục ly dị theo Do Thái Giáo. Vì thế, bà Ungar được xem như là chưa ly dị và vì thế bà ta không thể kết hôn lần thứ hai tại Ontario được. Nếu bà đã kết hôn thì sự kết hôn của bà tại Ontario là bất hợp pháp.
Tuy nhiên, nếu tòa thừa nhận rằng việc kết hôn của bà Ungar tại Ontario tùy thuộc vào luật pháp của Do Thái nơi mà bà Ungar hiện là một thường trú nhân. [Phương thức này đã được áp dụng bởi tòa án Ontario vì tòa đã công nhận rằng bà Ungar độc thân khi bà kết hôn tại Ontario.] Vì thế, việc kết hôn của bà Ungar tại Ontario là hoàn toàn hợp pháp.
Đọc đến đây một số độc giả có thể cho rằng có sự mâu thuẫn trong việc áp dụng luật pháp quốc tế, vì độc giả có thể tranh luận rằng sự ly dị của bà Ungar hoàn toàn không có hiệu lực pháp lý vì Hungary và Ý hoàn toàn không thừa nhận thủ tục ly dị theo Do Thái Giáo. Vì thế, sự kết hôn của bà Ungar tại Ontario là hoàn toàn bất hợp pháp.
Tuy nhiên, ngày nay luật pháp và án lệ quốc tế đã thừa nhận để giải quyết vấn đề này bằng cách xét xem là vào lúc kết hôn tình trạng của các bên đương sự có hợp lệ để kết hôn theo sự quy định pháp lý của quốc gia mà đương sự đang cư ngụ hay không"
Dựa vào luật pháp cũng như phán quyết vừa trưng dẫn bà có thể thấy được rằng việc chồng bà trở lại Việt Nam kết hôn và hiện đang nộp đơn bảo lãnh cho người vợ mới cưới của ông ta sang Úc là một việc làm không trái với sự quy định của luật pháp.
Tuy nhiên, mọi vấn đề pháp lý hoặc bất cứ đơn từ nào do bà đệ nộp cho chính quyền nhằm khiếu nại về hành động đó của chồng bà đều làm trì hoãn và ảnh hưởng đến việc bảo lãnh của chồng bà.
Trước khi khiếu nại bà nên suy nghĩ là bà có cần phải làm điều đó hay không" Nếu còn thắc mắc xin gọi điện thoại cho chúng tôi để được giải đáp. Chúc bà may mắn.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Truyện thơ Nôm Bạch Viên Tôn Các bắt đầu bằng chuyện thầy Huyền Trang tìm được ngôi chùa ưng ý trong rừng để ẩn tu. Một con vượn bạch đến giúp thầy chuyện quét tước nhang đèn trong chùa. Ngày kia vượn bạch cởi lớp thành một cô gái đẹp
trích từ tuyển tập Mê Cung của nhà văn Đào Văn Bình. Mê Cung là một tuyển tập truyện ngắn hoàn toàn hư cấu nhưng mang tính tư tưởng và triết lý. Nói “hư cấu” nhưng đều dựa vào những sự kiện có thật trong cuộc sống
Những dấu chỉ chế độ cộng sản Hà Nội đến hồi cáo chung, qua hình ảnh không một lãnh tụ cộng sản nào trước đại hội XII, không bêu xấu nhau và nay đến đại hội XIII, họ đào huyệt chôn sống đồng chí mình cho bất đắc kỳ tử về các tội danh tham nhũng, dâm ô... quả thật, trong khi đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản những người cộng sản tự chôn chính mình. Cộng sản Trung Quốc đang nuốt chửng Cộng sản Việt Nam!
Phật Giáo như một con khổng tượng đang ngủ và khi nó thức giấc, sẽ đem lại hòa bình vĩnh cửu cho nhân loại và chúng sinh Tam Giới. Nêu trên là thiển ý của một Phật tử tuy đã quy y Tam Bảo nhưng không hiểu biết nhiều về Phật Pháp. Dĩ nhiên có điều đúng và có điều sai. Hoặc có điều chưa thi hành được trong thời điểm này, nhưng trong tương lai có thể. Nếu có điều mạo phạm mong Chư Tôn Đức niệm tình tha thứ.
Chủ đề của ĐHTC lần thứ 7 năm 2019 là “Tinh Thần CVA Qua Các Thời Đại” nhằm nói lên lòng yêu nước thiết tha, tinh thần bất khuất trước bạo lực, ý chí sắt đá chống ngoại xâm phương Bắc, cùng sự hy sinh vô bờ bến của bao thế hệ Bưởi-CVA từ ngoài Bắc vào trong Nam để bảo vệ quê hương Việt chống lại giặc cộng
Tháng 9 năm 2019, là tháng Mỹ thách thức tối đa Trung Cộng ở Biển Đông bằng tàu chiến súng ống, hoả tiễn, hải quân sẵn sàng tác chiến. Còn TC thì tỏ ra tức giận, phản đối chiếu lệ, đánh võ mồm, chớ không dám có hành động quân sự ngăn chận, xung đột nào.
không có một thái độ nào thuộc về tinh thần dân tộc có thể thay đổi sự thật là sự sụp đổ của Đảng hiện ra gần hơn bất cứ lúc nào kể từ khi thời đại Mao kết thúc
Người Việt tiếp tục bỏ nước ra đi, đảng viên cộng sản muốn diễn biến hòa bình, dân thì nghèo, xã hội khủng hoảng, đất nước đối mặt với chiến tranh, nếu có một cuộc trưng cầu dân ý chắc có tới 99,99% người Việt muốn thay đổi thể chế. Nhưng tại sao đến 99,99% muốn có tự do mà tình trạng chính trị tại Việt Nam vẫn như cũ.
Chỉ cẫn giữ lại “700 KG ma túy bắt được tại Nghệ An” cũng dư sức cho người dân địa phương “xoá đói giảm nghèo” rồi. Thiệt là ơn Bác. Nếu không nhờ Người tìm đường qua nước bạn để nhận chỉ thị từ Mao Chủ Tịch, hồi giữa thế kỷ trước, nay làm sao có lối khiến cả tấn ma túy lọt vô được quê choa
Trận Chiến của Đặng Tiểu Bình, hay Cuộc Chiến Tranh Tàu Việt 1979-1991 - Bộ chỉ huy tiền phương Quân khu Quảng Châu ban hành một chỉ thị rất chi tiết yêu cầu các binh sĩ phải thật chú ý đến 5 vấn đề khi họ chuẩn bị cho cuộc xâm lăng Việt Nam


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.