Hôm nay,  

Luật Pháp Phổ Thông

09/08/200400:00:00(Xem: 11979)
Hỏi (Bà Trần T.H.A.): Tôi cùng chồng tôi vượt biên cách đây gần 20 năm. Khi đến quốc gia tạm dung chúng tôi có khai là vợ chồng, nhưng sau một thời gian chờ đợi hơn 2 năm chúng tôi đã bất đồng về việc chọn quốc gia để định cư nên chúng tôi đã quyết định tách form vì đã ly dị. Thực ra anh ta muốn đi Mỹ, còn gia đình tôi hồi đó có người ở Úc nên tôi nhất định phải đi Úc.
Sau khi đến Úc chừng một năm thì anh ta cũng đến Úc và chúng tôi sống chung lại với nhau như vợ chồng. Hiện chúng tôi vẫn chưa có con với nhau.
Sau năm 1975, chúng tôi kết hôn và có làm hôn thú nhưng khi vượt biên thì chúng tôi chẳng để ý đến những loại giấy tờ đó nên chẳng mang theo.
Cách đây hơn hai năm, chồng tôi đã trở lại Việt Nam lần đầu tiên để thăm gia đình và năm ngoái anh ta đã về Việt Nam thêm 2 lần nữa. Tôi có hỏi lý do thì anh ta không trả lời và cho rằng đó là chuyện riêng của anh ta.
Gần đây tôi được biết là anh ta đã kết hôn tại Việt Nam và hiện đang bảo lãnh để cho người vợ mới cưới này qua Úc.
Xin LS cho biết là tôi có thể ngăn chận việc bảo lãnh này dựa vào lý do là chúng tôi chưa hề ly dị hay không"

*

Trả lời: Trong thư bà đã cho biết là khi đến quốc gia tạm dung bà đã khai là vợ chồng nhưng sau đó bà đã tách form vì đã ly dị.
Lý do "vì đã ly dị" mà bà đã nêu lên trong thư khá mơ hồ, vì chúng tôi hoàn toàn không biết là bà muốn nói là bà đã ly dị tại quốc gia tạm dung, hay là bà đã ly dị tại Việt Nam trước khi bà vượt biên.
Nếu bà ly dị tại quốc gia tạm dung thì hiệu lực pháp lý của sự ly dị đó tùy thuộc vào luật pháp của quốc gia mà bà đã xin ly dị. Điều này khá phức tạp vì luật ly dị của các quốc gia được thiết định dựa trên phong tục tập quán, tình trạng xã hội, chế độ chính trị và một vài quốc gia khác trên thế giới dựa trên nghi thức được thừa nhận bởi tôn giáo.
Trong vụ Schwebel v. Ungar (1964) 42 DLR (2d) 622. Trong vụ đó, hai vợ chồng đã kết hôn một cách hợp lệ tại Hungary nơi họ cư ngụ. Hai vợ chồng đã vượt thoát khỏi Hungary với ý định đến định cư vĩnh viễn tại Israel. Trên đường vượt thoát, khi dừng chân tại Ý, họ đã ly dị tại Ý theo thủ tục của Do Thái Giáo gọi là "get, gett, hoặc ghet."
Thủ tục ly dị theo phương cách này được chấp nhận bởi Do Thái Giáo và được xem như là một thủ tục ly dị hợp pháp tại Do Thái, tuy nhiên thủ tục ly dị này không được thừa nhận bởi luật pháp của Hungary hoặc luật pháp của Ý. [Ghi chú: get, gett, ghet (thủ tục ly dị theo Do Thái Giáo): Theo luật lệ của Do Thái [Hebrew], thuật từ được dùng để chỉ sự ly dị theo Do Thái Giáo, chỉ có thể được thực hiện bởi người chồng trao chứng thư ly dị cho người vợ với sự hiện diện của hai nhân chứng, dù hai bên đương sự có đồng ý với sự ly dị hay không. (Under Hebraic law, the term used to denote a Jewish religious divorce, executable only by the husband handing a bill of divorce to the wife in the presence of two witnesses, whether both parties agree to the divorce or not).]
Sau khi ly dị, hai vợ chồng đã tự ý đến định cư một cách riêng rẻ tại Do Thái. Sau khi định cư tại Do Thái, người vợ, Ungar, đã đến thăm viếng Ontario, Gia Nã Đại, và đã kết hôn với Schwebel. Tuy nhiên, Schwebel sau đó đã nộp đơn thỉnh cầu tòa tuyên bố sự kết hôn là bất hợp pháp với lý do là Ungar đã kết hôn và chồng của bà ta hiện đang cư ngụ tại Do Thái. Mặc dầu bà ta đã ly dị nhưng sự ly dị đó không được chấp nhận bởi luật lệ tại Ontario. Tuy thế, tòa đã đưa ra phán quyết rằng sự kết hôn tại Ontario là hợp pháp và tòa đã bác đơn xin của Schwebel.


Theo luật pháp quốc tế, thì khả năng kết hôn của một người bị chi phối bởi luật lệ của quốc gia nơi đương sự cư trú cùng luật lệ của quốc gia nơi mà sự kết hôn xảy ra, chứ không tùy thuộc vào sự hợp lệ hoặc bất hợp lệ của thủ tục ly dị trước đây.
Khi Ungar kết hôn bà ta là thường trú nhân của Do Thái, Do Thái là trú sở của bà ta. Luật lệ của Do Thái đã chấp nhận việc ly dị trước đây của bà ta là hợp pháp và bà được xem là độc thân, vì thế việc kết hôn của bà tại Ontorio là hợp pháp, mặc dầu thủ tục ly dị theo Do Thái Giáo mà bà đã tiến hành trước đây đã không được chấp nhận bởi luật pháp của Hungary cũng như của Ý Đại Lợi.
Theo luật pháp quốc tế thì có hai vấn đề cần phải được đặt ra ở đây:
Vấn đề thứ nhất là liệu Ungar có quyền kết hôn với Schwebel tại Ontario hay không" Đây là vấn đề cốt lõi đối với sự hiệu lực pháp lý của việc kết hôn này, và điều này đã được quyết định theo luật pháp của trú sở khi việc kết hôn xảy ra. Đó là luật pháp của Do Thái, vì bà Ungar là thường trú nhân của Do Thái khi bà kết hôn tại Ontario. Luật pháp của Do Thái đã công nhận là bà Ungar có quyền kết hôn vì hiện bà đang độc thân và việc ly dị trước đây của bà tại Ý là hoàn toàn hợp pháp.
Mặt khác tòa nên giải quyết vấn đề "ly dị theo Do Thái Giáo" [get, gett, ghet] và vấn đề kết hôn lần thứ hai tại Ontario một cách độc lập đối với nhau.
Theo án lệ, vấn đề ly dị được quyết định theo luật pháp của lãnh thổ hoặc của quốc gia nơi mà các bên đương sự trú ngụ vào lúc tiến hành thủ tục ly dị. Điều này có nghĩa là luật pháp của Hungary hoặc của Ý Đại Lợi. Tuy nhiên, luật pháp của 2 quốc gia này không chấp nhận thủ tục ly dị theo Do Thái Giáo. Vì thế, bà Ungar được xem như là chưa ly dị và vì thế bà ta không thể kết hôn lần thứ hai tại Ontario được. Nếu bà đã kết hôn thì sự kết hôn của bà tại Ontario là bất hợp pháp.
Tuy nhiên, nếu tòa thừa nhận rằng việc kết hôn của bà Ungar tại Ontario tùy thuộc vào luật pháp của Do Thái nơi mà bà Ungar hiện là một thường trú nhân. [Phương thức này đã được áp dụng bởi tòa án Ontario vì tòa đã công nhận rằng bà Ungar độc thân khi bà kết hôn tại Ontario.] Vì thế, việc kết hôn của bà Ungar tại Ontario là hoàn toàn hợp pháp.
Đọc đến đây một số độc giả có thể cho rằng có sự mâu thuẫn trong việc áp dụng luật pháp quốc tế, vì độc giả có thể tranh luận rằng sự ly dị của bà Ungar hoàn toàn không có hiệu lực pháp lý vì Hungary và Ý hoàn toàn không thừa nhận thủ tục ly dị theo Do Thái Giáo. Vì thế, sự kết hôn của bà Ungar tại Ontario là hoàn toàn bất hợp pháp.
Tuy nhiên, ngày nay luật pháp và án lệ quốc tế đã thừa nhận để giải quyết vấn đề này bằng cách xét xem là vào lúc kết hôn tình trạng của các bên đương sự có hợp lệ để kết hôn theo sự quy định pháp lý của quốc gia mà đương sự đang cư ngụ hay không"
Dựa vào luật pháp cũng như phán quyết vừa trưng dẫn bà có thể thấy được rằng việc chồng bà trở lại Việt Nam kết hôn và hiện đang nộp đơn bảo lãnh cho người vợ mới cưới của ông ta sang Úc là một việc làm không trái với sự quy định của luật pháp.
Tuy nhiên, mọi vấn đề pháp lý hoặc bất cứ đơn từ nào do bà đệ nộp cho chính quyền nhằm khiếu nại về hành động đó của chồng bà đều làm trì hoãn và ảnh hưởng đến việc bảo lãnh của chồng bà.
Trước khi khiếu nại bà nên suy nghĩ là bà có cần phải làm điều đó hay không" Nếu còn thắc mắc xin gọi điện thoại cho chúng tôi để được giải đáp. Chúc bà may mắn.

Năm nay là kỷ niệm 10 năm Bộ Phục Vụ Con Người & Sức Khỏe Hoa Kỳ chọn tháng 9 là Tháng Yoga Quốc Gia.
Truyện thơ Nôm Bạch Viên Tôn Các bắt đầu bằng chuyện thầy Huyền Trang tìm được ngôi chùa ưng ý trong rừng để ẩn tu. Một con vượn bạch đến giúp thầy chuyện quét tước nhang đèn trong chùa. Ngày kia vượn bạch cởi lớp thành một cô gái đẹp
trích từ tuyển tập Mê Cung của nhà văn Đào Văn Bình. Mê Cung là một tuyển tập truyện ngắn hoàn toàn hư cấu nhưng mang tính tư tưởng và triết lý. Nói “hư cấu” nhưng đều dựa vào những sự kiện có thật trong cuộc sống
Những dấu chỉ chế độ cộng sản Hà Nội đến hồi cáo chung, qua hình ảnh không một lãnh tụ cộng sản nào trước đại hội XII, không bêu xấu nhau và nay đến đại hội XIII, họ đào huyệt chôn sống đồng chí mình cho bất đắc kỳ tử về các tội danh tham nhũng, dâm ô... quả thật, trong khi đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản những người cộng sản tự chôn chính mình. Cộng sản Trung Quốc đang nuốt chửng Cộng sản Việt Nam!
Phật Giáo như một con khổng tượng đang ngủ và khi nó thức giấc, sẽ đem lại hòa bình vĩnh cửu cho nhân loại và chúng sinh Tam Giới. Nêu trên là thiển ý của một Phật tử tuy đã quy y Tam Bảo nhưng không hiểu biết nhiều về Phật Pháp. Dĩ nhiên có điều đúng và có điều sai. Hoặc có điều chưa thi hành được trong thời điểm này, nhưng trong tương lai có thể. Nếu có điều mạo phạm mong Chư Tôn Đức niệm tình tha thứ.
Chủ đề của ĐHTC lần thứ 7 năm 2019 là “Tinh Thần CVA Qua Các Thời Đại” nhằm nói lên lòng yêu nước thiết tha, tinh thần bất khuất trước bạo lực, ý chí sắt đá chống ngoại xâm phương Bắc, cùng sự hy sinh vô bờ bến của bao thế hệ Bưởi-CVA từ ngoài Bắc vào trong Nam để bảo vệ quê hương Việt chống lại giặc cộng
Tháng 9 năm 2019, là tháng Mỹ thách thức tối đa Trung Cộng ở Biển Đông bằng tàu chiến súng ống, hoả tiễn, hải quân sẵn sàng tác chiến. Còn TC thì tỏ ra tức giận, phản đối chiếu lệ, đánh võ mồm, chớ không dám có hành động quân sự ngăn chận, xung đột nào.
không có một thái độ nào thuộc về tinh thần dân tộc có thể thay đổi sự thật là sự sụp đổ của Đảng hiện ra gần hơn bất cứ lúc nào kể từ khi thời đại Mao kết thúc
Người Việt tiếp tục bỏ nước ra đi, đảng viên cộng sản muốn diễn biến hòa bình, dân thì nghèo, xã hội khủng hoảng, đất nước đối mặt với chiến tranh, nếu có một cuộc trưng cầu dân ý chắc có tới 99,99% người Việt muốn thay đổi thể chế. Nhưng tại sao đến 99,99% muốn có tự do mà tình trạng chính trị tại Việt Nam vẫn như cũ.
Chỉ cẫn giữ lại “700 KG ma túy bắt được tại Nghệ An” cũng dư sức cho người dân địa phương “xoá đói giảm nghèo” rồi. Thiệt là ơn Bác. Nếu không nhờ Người tìm đường qua nước bạn để nhận chỉ thị từ Mao Chủ Tịch, hồi giữa thế kỷ trước, nay làm sao có lối khiến cả tấn ma túy lọt vô được quê choa
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.