Hôm nay,  

Tưởng Niệm Thầy Nhất Hạnh: Đọc “Đạo Bụt Nguyên Chất”

27/01/202212:22:00(Xem: 3993)
blank

Tưởng Niệm Thầy Nhất Hạnh: Đọc “Đạo Bụt Nguyên Chất”
  

Nguyên Giác

  

Bài này được viết để tưởng niệm Thiền sư Nhất Hạnh (1926-2022), một vị Thầy lớn của Phật Giáo vừa viên tịch. Chủ đề chính của bài này sẽ bày tỏ lòng biết ơn Thầy Nhất Hạnh bằng cách dẫn ra để suy nghĩ về một bài kệ  trong sách “Đạo Bụt Nguyên Chất – Kinh Nghĩa Túc” ấn bản Đạo Tràng Mai Thôn 2011, do Thầy dịch và chú giải, và sẽ đối chiếu tương đương trong Tạng Pali.
 

Thầy Nhất Hạnh gọi Kinh Nghĩa Túc là Đạo Bụt Nguyên Chất vì bản Kinh này là một Kinh nhật tụng cho giới tu sĩ trong những năm đầu Đức Phật hoằng pháp, lúc đó phương pháp dạy thời kỳ này y hệt Thiền Trúc Lâm của Việt Nam, tập trung vào giáo lý Bát Nhã. Tất cả các bài kệ trong Kinh Nghĩa Túc đều sâu thẳm, đều chỉ thẳng tâm giải thoát, không nói gì về phương tiện. Tương đương với Kinh Nghĩa Túc là Phẩm thứ 4 (Atthaka Vagga – Phẩm Tám) trong Kinh Tập của Tạng Pali, và luận thư của Theravada ghi rằng các đương cơ 16 vị hỏi pháp Đức Phật, ngay sau khi  nghe Đức Phật trả lời liền tức khắc đắc quả A La Hán.
 

Tất cả các Kinh trong nhóm Kinh Nghĩa Túc đều uyên áo, bài kệ nào cũng đầy sức mạnh của chân lý, chỉ thẳng vào tâm giải thoát. Bài kệ phân tích nơi đây sẽ là bài Kệ 20 trong Kinh Chuyển Hóa Bạo Động và Sợ Hãi (Duy Lâu Lạc Vương Kinh) -- Nghĩa Túc Kinh, kinh thứ 16, Đại Tạng Tân Tu 198. Bài Kệ 20 Kinh Nghĩa Túc của Hán Tạng tương đương với bài Kệ 954 trong Kinh Tập của Tạng Pali (tất cả các liên kết mạng cần thiết đều để ở cuối bài này).

Bài kệ 20 do Thầy Nhất Hạnh phiên âm, và Việt dịch thành văn xuôi như sau.
 

Thượng bất kiêu hạ bất cụ
Trụ tại bình vô sở kiến
Chỉ tịnh xứ vô oán tật
Tuy thừa kiến cố bất kiêu.

Nhìn xuống không thấy hãnh diện, nhìn lên không thấy sợ hãi, vị mâu ni an trú nơi tự tính bình đẳng, không còn bị vướng vào một kiến chấp nào. Bấy giờ tất cả mọi tranh chấp đều đã được ngưng lại, oán thù và tật đố không còn có mặt, vị ấy tuy đứng trên tuệ giác mà chẳng thấy mảy may tự hào.” (hết trích)

.

Riêng bài Kệ 20 vừa dẫn đã mang trọn đủ pháp hành Bát Chánh Đạo, với đầy đủ nghĩa của Tâm Kinh Bát Nhã. Tương đương là bài Kệ 954 trong Phẩm thứ tư trong Kinh Tập của Tạng Pali. Nơi đây sẽ ghi lại cách dịch sang tiếng Anh của nhiều bậc Thầy, và người viết tuần tự sẽ dịch nghĩa sang tiếng Việt. Lý do phải đối chiếu nhiều bản Anh dịch là để bảo đảm sẽ không sai chệch một nghĩa nào.
 

Bản dịch của Bhikkhu Sujato: “A sage doesn’t speak of themselves as being among superiors, inferiors, or equals. Peaceful, rid of stinginess, they neither take nor reject.” (Nghĩa: Một bậc trí tuệ không tự nói về họ như một hữu thể giữa những người cao quý hơn, những người thấp kém hơn, hay những người đồng đẳng. Lòng bình an, xa lìa tâm hà tiện bủn xỉn, họ không nắm giữ mà cũng không đẩy ra.)
 

Bản dịch của Laurence Khantipalo Mills: “A sage speaks not as though / ’Mong equal, low or high, / Serene, devoid of avarice, / Does not accept or reject.” (Nghĩa: Một bậc trí tuệ không tự nói về mình như là giữa những người đồng đẳng, những người thấp kém hơn, hay những người cao quý hơn. Tịch lặng, không còn hà tiện tham lam, [họ] không nhận lấy gì, cũng không xua đẩy ra.)
 

Bản dịch của của John D. Ireland: “A sage does not speak in terms of being equal, lower or higher. Calmed and without selfishness he neither grasps nor rejects." (Nghĩa: Một bậc trí tuệ không hề nói trong cái nhìn [thấy mình] đồng đẳng, thấp kém hơn hay cao quý hơn. Bình lặng, không còn ích kỷ nữa, người này không nắm giữ gì mà cũng không xua đẩy ra.)
 

Bản dịch của Thanissaro Bhikkhu: “The sage doesn't speak of himself as among those who are higher, equal, or lower. At peace, free of selfishness, he doesn't embrace, doesn't reject," the Blessed One said.” (Nghĩa: Lời Đức Phật dạy: Bậc trí tuệ không tự nói về họ như nằm trong những người cao quý hơn, hay đồng đẳng, hay thấp kém hơn. Tâm bình an, xa lìa ích kỷ, vị này không ôm lấy cũng không xua đẩy đi.”
 

Bản dịch của Bhante Varado: “The sage does not speak of himself as someone equal, inferior or superior. At peace, unselfish, He neither clings nor relinquishes.” (Nghĩa: Bậc trí tuệ không tự nói về mình như là đồng đẳng, thấp kém hơn hay cao quý hơn. Tâm bình an, không ích kỷ, vị này không không dính vào [pháp nào] mà cũng không xua đẩy [pháp nào].”

  

Người không tự nói về mình như là đồng đẳng, cao quý hay thấp kém với bất kỳ ai, với bất kỳ giới nào. Bản chữ Hán viết: “Thượng bất kiêu, hạ bất cụ / Trụ tại bình, vô sở kiến.” Nghĩa là, không thấy có gì là tôi, không thấy có gì là người, không chỗ để thấy, để trụ vào (vô sở kiến). Đó là lời Đức Phật nói tóm tắt.
 

Trong Bát Nhã Tâm Kinh giải thích:  thấy 5 uẩn là không là giải thoát. Nói thấy sắc là không, tức là cái được thấy là không, cái được nghe là không, cái được ngửi là không, cái được nếm là không, cái được cảm thọ là không, cái được tư lường là không. Đức Phật dạy trong Kinh SA 265 (Hán Tạng) và Kinh SN 22.95 (Tạng Pali) rằng những gì thuộc về sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại đều là không, y hệt bong bóng nước theo mưa mà sinh ra; tương tự, tưởng y hệt như quáng nắng sinh khởi khi trời nắng gắt… Toàn thân mình cả 5 uẩn đều thấy là không, và nhìn người khác cũng thế, do vậy không có cái gì là “tôi” hay “người” và do vậy, trong thực tướng, không có cái gì để gọi được là cái gì, để gọi là đồng đẳng, hay cao quý hơn, hay thấp kém hơn. Do vậy, Bát Nhã Tâm Kinh nói rằng khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn. Thấy 5 uẩn là không tức là giải thoát. Cũng là thấy Đạo Đế, vì khổ không còn chỗ nào trong 5 uẩn để bám vào.
 

Như thế, ngay khi thấy 5 uẩn là không tức là cũng hoàn thành Bát Chánh Đạo, vì đã thành tựu Chánh kiến (thấy Vô thường, Vô ngã), Chánh tư duy (tâm xả ly, không vướng vào ba cõi Dục, Sắc hay Vô Sắc), Chánh ngữ (không thấy gì để nói về tôi hay người, tức lời nói lìa ba cõi), Chánh nghiệp (thấy 5 uẩn là không là được tự tánh giới, tâm không thấy có ta hay người, tức là xa lìa sát sanh, trộm cắp…), Chánh mệnh (thấy các pháp bình đẳng, do vậy không thể làm các nghề hại người hay hại mình), Chánh tinh tấn (thấy thường trực 5 uẩn là không tức là chánh tinh tấn), Chánh niệm (tình thức thấy “trụ tại bình vô sở kiến”, cũng là hoàn tất tứ niệm xứ, nghĩa là tỉnh thức với tâm vô niệm mới là Chánh niệm -- Kinh SN 22.63: by not clinging one is freed from the Evil One / Niệm vô trụ là giải thoát.), Chánh định (Khi thấy thường trực là không, tức thời thấy thực tướng là không, thấy thức không chỗ nương bám. Và đó là Chánh định. Kinh SN 12.59: When consciousness ceases, name and form cease.… That is how this entire mass of suffering ceases./ Do thức diệt nên danh sắc diệt… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.).


 

Phần sau bài Kệ là: Tịch lặng, không còn hà tiện tham lam, [họ] không nhận lấy gì, cũng không xua đẩy ra. Đã thấy là vô sở kiến, tức là thấy thức không chỗ nương bám, thấy các pháp là không, thì tâm tham tự động lìa. Cũng không thấy có gì để nắm giữ hay đẩy ra, không thủ và không xả, vì không có người thủ và không có người xả. Kinh AN 9.3: Này Meghiya, với Tỷ-kheo có tưởng vô thưởng, tưởng vô ngã được tồn tại. Có tưởng vô ngã, thời ngã mạn bị phá hoại, ngay trong hiện tại đạt được Niết-bàn.
 

Giải thích theo Thiền Trúc Lâm sẽ là: Thủ và xả còn có nghĩa là khi tương tác với nội xứ và ngoại xứ (tức là, tương tác với thân thọ tâm pháp) chúng ta lại thủ và xả tức là tự thấy mình có tự ngã để muốn thế này, để muốn thế kia, muốn tâm mình phải tăng thịnh hay nắm giữ pháp này hay pháp kia, muốn tâm mình phải xua đẩy thế kia. Thủ và xả là do tâm phân biệt, không thấy tự tánh các pháp là vô ngã, là không, là rỗng rang. Muốn thủ hay xả là chưa thấy bình đẳng trong thực tướng vô ngã, vô thường, tức nơi tự tánh không. Tất cả như thế đều sai. Thấy được thực tướng là không rồi, thì chỉ cần giữ tâm tịch lặng, vô sở kiến, không thủ, không xả, không nắm giữ, không xua đẩy. 
 

Kinh SN 1.1, bản dịch Thầy Thích Minh Châu trích: “Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.”
 

Bước tới, bước lui là còn thấy có cái ta để muốn tăng thịnh, muốn xua đẩy. Đứng lại là còn thấy có danh sắc để đứng lại. Không đứng lại, không bước tới, không bước lui, là không thấy có cái 5 uẩn nào của ta đang dấy động.
 

Một nghĩa khác: bước tới là mơ mộng về tương lai, bước lui là nuối tiếc quá khứ, đứng lại là chấp vào vị ngọc của cái hiện tiền. Khi thấy các pháp là không, thấy 5 uẩn là không, thì sẽ tự động lìa cả 3 thời (quá-hiện-vị lai), tức là giải thoát.
 

Nhìn chung, Kinh Nghĩa Túc bài kệ nào cũng là giải thoát. Và đó là tận cội nguồn của Phật Giáo Sơ Thời, với lời dạy của Thế Tôn trong thời kỳ chỉ dạy nhìn vào thực tướng vô ngã của các pháp để giải thoát, mà không cần mài giũa gì.
 

Kinh Kim Cang và Kinh Pháp Bảo Đàn viết rằng giữ tâm vô sở trụ là giải thoát. Kinh SA 926 (A Hàm) và Kinh AN 11.9 (Tăng Chi Bộ) cũng viết như thế.

Đức Phật gọi vô sở trụ là Thiền pháp của tuấn mã. Kinh AN 11.9, bản dịch của Thầy Minh Châu viết, trích: "...này Sandha, con người hiền thiện, thuần thục, khi đi đến khu rừng, khi đi đến gốc cây, khi đi đến ngôi nhà trống, trú với tâm không bị dục tham ám ảnh, không bị dục tham chinh phục, như thật quán tri sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên. Vị ấy an trú với tâm không bị sân ám ảnh… Vị ấy an trú với tâm không bị si ám ảnh… Vị ấy an trú với tâm không bị hôn trầm thụy miên ám ảnh… Vị ấy an trú với tâm không bị trạo hối ám ảnh… Vị ấy an trú với tâm không bị nghi hoặc ám ảnh, không bị nghi hoặc chinh phục, như thật rõ biết sự xuất ly ra khỏi nghi hoặc đã khởi lên. Vị ấy Thiền tư không y chỉ vào đất, Thiền tư không y chỉ vào nước, Thiền tư không y chỉ vào lửa, Thiền tư không y chỉ vào gió, Thiền tư không y chỉ vào Không vô biên xứ, Thiền tư không y chỉ vào Thức vô biên xứ, Thiền tư không y chỉ vào Vô sở hữu xứ, Thiền tư không y chỉ vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Thiền tư không y chỉ vào thế giới này, Thiền tư không y chỉ vào thế giới sau, phàm điều gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu đến, được ý suy tư, Thiền tư không y chỉ vào cái ấy. Tuy vậy, vị ấy vẫn có Thiền tư. Lại nữa, này Sandha, với vị ấy Thiền tư như vậy, chư Thiên với Thiên chủ, các Phạm thiên với chúng Phạm thiên, dầu từ xa, đảnh lễ con người hiền thiện thuần thục."
 

Toàn bộ các lời dạy trong kinh trên được Thầy Nhất Hạnh dịch trong Đạo Bụt Nguyên Chất là: Trụ tại bình vô sở kiến.

Và Thầy Nhất Hạnh ghi rõ nghĩa: “…vị mâu ni an trú nơi tự tính bình đẳng, không còn bị vướng vào một kiến chấp nào.”
 

Nơi đây, người viết xin ghi lời thành kính cảm ơn Thầy Nhất Hạnh đã dịch một bản Kinh rất mực quý giá, ghi lại được văn phong của Thế Tôn: Trực chỉ nhân tâm, kiến Tánh thành Phật.
 

Nơi đây, người viết cũng xin ghi lại một bài thơ làm năm 2015 để cúng dường Thầy Nhất Hạnh, lúc đó khi biết Thầy lâm bệnh nặng. Bài thơ song ngữ như sau.

.

Đôi Dòng
Viết đôi dòng thư pháp
ca ngợi Đức Thế Tôn
mực loang như nước mắt
ngấm ơn sâu vào hồn.
 

Viết đôi dòng thư pháp
cúng dường Thầy Làng Mai
ngẩng đầu nghe tiếng hạc
lưng trời gọi tên ai.
 

Từ đôi dòng thư pháp
nét mực hóa rừng hoa
ướp lời thơ thơm ngát
khắp trời hát đạo ca.

---- Thơ Nguyên Giác, 2015.

  

The Two Lines
Praising the Buddha
with two calligraphic lines
I saw the ink flow like
thankful tears warming my heart
 

Making offerings to Thay Lang Mai
with two calligraphic lines
I raised my head, hearing on high
a crane creak a mystic name.
 

Flowing from the two calligraphic lines
the ink became a floral sea
added fragrance on words of poetry
and echoed far on high a dharma melody.

---- By Nguyen Giac, 2015
 

Hậu học cẩn bút, thành kính tưởng niệm.
 

GHI CHÚ:

- Bản dịch Thầy Nhất Hạnh: https://thuvienhoasen.org/p16a9949/giang-kinh-chuyen-hoa-bao-dong-va-so-hai

- Bản dịch Sujato: https://suttacentral.net/snp4.15/en/sujato

- Bản dịch Mills: https://suttacentral.net/snp4.15/en/mills

- Bản dịch Ireland: https://accesstoinsight.org/tipitaka/kn/snp/snp.4.15.irel.html

- Bản dịch Thanissaro: https://accesstoinsight.org/tipitaka/kn/snp/snp.4.15.than.html

- Bản dịch Varado: http://suttas.net/english/suttas/khuddaka-nikaya/sutta-nipata/atthakavagga%20-%20php%20version%201.4/15-violence.php

- Kinh SN 1.1: https://suttacentral.net/sn1.1/vi/minh_chau

- Kinh AN 11.9: https://suttacentral.net/an11.9/vi/minh_chau

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có lẽ phải mất rất nhiều thời gian để cảm nhận đánh giá tài năng, tư tưởng, và ảnh hưởng của Thiền sư Nhất Hạnh, vì chưa có một người Việt Nam nào vượt khỏi tầm biên giới quốc gia, ngôn ngữ Việt ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới như thiền sư. Với 120 tác phẩm văn chương, tư tưởng, nhiều quyển bán chạy vào hàng đầu như
Vâng, họ là những thuyển nhân tị nạn muộn màng, nhưng không tuyệt vọng, bởi vì vẫn có những tấm lòng nhân ái trên cuộc đời này. Gia đình của bà Trần Thị Lụa gồm 7 người, vượt biển bằng thuyền 2 lần, đã vừa đặt chân đến bến bờ tự do, và được tổ chức VOICE Canada bảo trợ. Phi cơ chở bà cùng chồng là ông Nguyễn Long và 3 người con, 2 người cháu, đã đáp xuống phi trường quốc tế Toronto vào lúc 10 giờ tối, ngày Thứ Năm, 20 tháng Giêng, 2022, trong cơn gió lạnh thấu xương, nhưng được ôm ấp bởi những vòng tay yêu thương của người đồng hương tại quốc gia “đất lạnh, tình nồng” này.
- Biden suy tính gửi 50,000 lính Mỹ tới Đông Âu trong khi 100,000 lính Nga đã tới áp sát biên giới Ukraine - 33 tỉnh, thành là vùng xanh. SG ba tuần liên tiếp là vùng xanh. SG đã có 88 ca nhiễm biến thể Omicron. SG kêu gọi người dân tiêm mũi 3. SG hướng tới mục tiêu đón 3,5 triệu lượt khách quốc tế. Nghe tin bỏ cách ly, nhiều người chọn đi máy bay về quê đón tết. Dân đổ về quê ăn Tết, Bến xe miền Đông nhộn nhịp trở lại. Ngày 8/2, học sinh từ lớp 7 - 12 ở Hà Nội sẽ trở lại trường học. Lều cách ly cho người về quê ăn Tết ở địa phương Thanh Hóa. Cận Tết bất động sản hút mạnh dòng kiều hối. Quảng Ngãi: Công nhân bị nợ lương cả trăm triệu suốt nhiều năm. GS Ngô Bảo Châu: không hề lấy tên tiếng Trung Hoa, không hề gia nhập viện Toán TQ. - tiên đoán Nga có thể tấn công sớm, Mỹ di tản nhân viên ngoại giao và công dân Mỹ ra khỏi Ukraine
Cuối năm, đọc thơ xuân của người xưa, chợt bắt gặp mấy câu tâm đắc. Đuổi trâu bùn chạy dài, lôi cọp đá về xích lại (1). Hình ảnh này có vẻ ứng hợp với năm Sửu năm Dần nào đó hơn bảy trăm năm trước, thời của Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 – 1291). Chẳng phải xua đuổi hay xiềng xích gì loài thú, mà chỉ muốn nói cái tâm đã được thuần hóa, và mê vọng đã được giải trừ.
Sau những năm tháng an dưỡng tại Tổ đình Từ Hiếu, vào lúc 00:00 ngày 22 tháng 01 năm 2022 (nhằm ngày 20 tháng Chạp năm Tân Sửu), Thiền sư pháp hiệu trước Nhất sau Hạnh, Niên Trưởng Trú trì Tổ đình Từ Hiếu đã thâu thần thị tịch tại Tổ đình, nơi Người đã xuất gia cách đây tám mươi năm.
Westminster (Thanh Huy) - - Tổng Hội Phát Triển Võ Thuật Thế Giới (THPTVTTG) đã long trọng tổ chức dạ tiệc tất niên kỷ niệm 30 năm thành lập, đây cũng là lần đầu tiên họp mặt đông đủ sau mùa đại dịch Covid-19. Buổi dạ tiệc đã diễn ra vào lúc 7 giờ tối thứ Sáu ngày 17 tháng 1 năm 2022 tại nhà hàng Paracel Seafood Restaurant, thành phố Westminster với sự tham dự rất đông quan khách, quý vị dân cử, đại diện dân cử, quý vị chưởng môn các môn phái võ thuật, quý vị võ sư đến từ Anh Quốc, các Tiểu Bang Hoa Kỳ, các võ đường, các cơ sở bảo trợ, các vị mạnh thường quân, thân hữu và một số các cơ quan truyền thông.
Hoàng Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ trên Thái Bình Dương (Biển Đông), giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc, ngang với vùng bờ biển từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: Nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết) (Crescent group) và nhóm phía đông bắc là An Vĩnh (Amphitrite group). Trong lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước Việt. Có thể trước hoặc trong thơi Hiên Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam sông Gianh từ 1659-1687), chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy. Từ thời nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng sai thuyền chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia để ghi dấu, gieo hạt trồng cây.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.