Hôm nay,  

Thơ Vĩnh Hảo

11/09/201819:43:00(Xem: 4954)

Nhớ người

 

Nhớ người phương xa

Mỗi ngày đi quanh thấy bốn phương mây trắng

Ôi nhớ làm sao tiếng nói giọng cười

Ngỡ hôm nào em còn quanh tôi

Tay nắm lấy tay ân cần níu kéo cuộc tình

Mắt buồn đọng lại cả trời thương yêu

 

Có những phút riêng ngồi bên hiên vắng

Không dám tin rằng mây bay qua trời sẽ kịp đến phương em

Xa, thật xa, nơi em chuẩn bị giấc ngủ

Cũng có mây trắng êm đềm giăng ngang trời đêm hạ

Nhưng mây trắng nơi này thì tan theo nắng gió trên cao

và tóc bạc nơi này rụng xuống từng chiều quạnh quẽ

 

Tình yêu, chẳng phải điều chi lạ lẫm

Có khi chỉ là một thoáng buồn vui trên khóe mắt môi cười

Mà nỗi nhớ, em ơi

Dài thăm thẳm qua nghìn trùng mây trắng...

 

(2004)

 

 

 

Phần tim mẻ

 

Sang thăm em tim anh mẻ một miếng

Gửi lại làm quà ghi dấu một mùa yêu

Em đã làm gì bên ấy với phần mẻ bé xíu chẳng ra chi

Mà nơi đây đau hết phần còn lại!

 

(2004)

 

 

 

Quên chưa

 

Quên chưa mây tóc trên ngàn

Quên chưa mắt ướt tiễn hoàng hôn đi

 

Ta đi còn tiếc nuối gì?

Dấu chân trên nước

còn ghi tình hờ.

 

 

Tình Sầu

 

Gửi nhau một biển nhớ

Giữ lại hai trời thương

Tình xa một bước lỡ

Sầu dâng muôn nẻo đường.

 

 

Bâng khuâng

 

(Phi trường Denver, Colorado, chiều ngày 05/01/2006) 

 

Ngồi bên nhau, lặng lẽ không nói

Sách trên tay mỗi người một cuốn

Mở ra hai thế giới dường như khác nhau:

Em đi vào thế giới yêu đương tiểu thuyết

Anh vùi đầu trong triết lý siêu nhiên

Nhưng đôi mắt âm thầm liếc nhìn và thăm dò nhau thì sao mà giống!

Muốn nói gì mà cứ lặng thinh

Khép-mở chờ nhau, nhân duyên nào ở quá khứ hay vị lai thăm thẳm

Lục lọi trong mơ hồ dáng quen

Không có gì, dường như không có gì

Chỉ là chút lao xao trên biển tình vô tận

Ngả đầu, tựa vai, ngủ bên nhau từng giấc vô minh dật dờ

Quờ quạng moi tìm trong ký ức xưa

Nhân duyên ơi, đâu là nơi chốn hẹn hò, đâu là ngày tháng yêu thương buồn nhớ với bóng hình kề cận nơi đây?

Mà trùng trùng ngổn ngang hàng hàng cánh hoa đẹp thắm

 

Bàn tay im lặng gác trên triền núi câm

Nhẹ hẫng nghìn năm khung trời không-tính

Tóc vàng phương tây thả xuống bờ tay phương đông

Nặng cả trăm năm giấc mộng bình quyền

Tình yêu chơi vơi hai bờ mộng-thực

Thức dậy nhìn nhau bẽn lẽn sửa đầu dụi mắt

 

Yểu điệu mê hồn dáng hồng tây phương

Hành trang kéo theo nhẹ một thoáng tình

Lẽo đẽo theo sau lãng tử mơ màng

Còn gì nữa không sau phút biệt ly này?

Ôi, tóc chiều bay vàng cả trời thu

Mắt xanh nghịch ngợm khua sóng biển đa tình

 

Bất ngờ ngoảnh lui, em trao nụ cười bí ẩn

Gửi lại xa xăm chút duyên tao phùng bất định

Rồi tây với đông quay lưng, ngược hướng

Thoáng chốc mất tăm trong chập chùng nẻo lạ

Bâng khuâng nán lại buồn mấy nghìn năm.

 

 

Vị ngọt

 

Em về bỏ lại ly cà-phê

Chất đắng thay em, anh uống cả

Vị ngọt để dành cho phần em

Mai sau gặp lại sẽ trao trả.

 

 

Thuyền thu

 

Trăng chợt về rung mắt ai sóng sánh

Hay mắt sầu nghiêng lệch bước phiêu du

Vàng theo trăng loang dài sông nước quạnh

Tình theo người ăm ắp một thuyền thu.

 

 

Dạ khúc

 

Mắt biếc mơ màng rung hồn ai một thuở

Đã khép lại dấu tích trăm năm

Tôi đi ngõ ấy tình xưa cứ ngỡ

Sáng lung linh vũ khúc đêm rằm. 

 

 

Đành cất

 

Đêm nay rừng không ngủ

Bàng bạc ánh trăng soi

Chưa nói

Lời đã cũ

Tình riêng đành cất thôi.

 

 

Đêm Diệu Huyền 

 

Tình đã chôn mà mắt ấy hãy còn xanh

Xanh giấc mơ tôi

Xanh con đường mê vọng

Lẩn thẩn yêu em tôi theo lối cũ

Màu mắt mang về thắp sáng những đêm

Ôi đêm diệu huyền! vây tôi một màu xanh sáng

Tôi muốn ôm em ru say tình mộng

Mà vòng tay

Lạnh buốt bóng hư không

 

Diệu huyền ôi những đêm xanh sáng

Đến với tôi, hãy đến với tôi

Cho dù hư ảo mộng tình câm

Tôi vui trong bóng em xanh biếc

Tôi đắm mơ màng hương em dâng

Mà em cứ tan, tan trong cõi chơn thường ấy

Bỏ tôi lại nơi bến huyễn hư hao

 

Tôi đứng nơi đây mỗi chiều nắng tắt

Hát bản tình ca không tiếng không lời

Đêm về xanh xanh màu xanh đáy mắt

Giốc cạn tình em trong âm sắc tuyệt vời.

 

 

Đôi mắt

 

Ai nhốt mùa thu trong mắt em

Bâng khuâng hồ quạnh nước êm đềm

Khói sương man mác đưa hơi giá

Lạnh cả hồn anh đêm từng đêm

Ôi em diễm kiều tha thướt quá

Sáng cả màu đêm không trăng sao

Mà sao mắt sầu vẫn man dại

Dìm đắm đời anh bến bãi nào...

 

 

Đôi môi

 

Nụ cười nào tàn trên môi tươi

Không giấu nổi kiêu sa một thời

Anh đến bên em một chiều nắng nhạt

Dâng lời yêu cho tình sầu vơi

Ôi môi trăm năm ngất ngây hồn phiêu bạt

Nét xuân thì còn ngọt thơm hoa

Say hôn em một đêm hò hẹn

Đáy tình này vương mãi một màu môi...

 

VĨNH HẢO

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Phế tích của ảo ảnh, nhan đề một tập thơ của nhà thơ Trịnh Y Thư, do Nhà xuất bản Văn Học Press ấn hành năm 2017 tại Hoa Kỳ. Một nhan đề chất chứa không biết mấy lớp không gian và thời gian, không biết mấy thức của cảm xúc; nó như một sợi chỉ mà khi kéo ra chỉ thấy vô tận. Điều gì làm hoang mang và quyến rũ tôi đến vậy? Chữ “Phế tích” tác giả dùng cho “Ảo ảnh” khiến cảm xúc cuốn theo chiều hút của vực thẳm, trong đó nỗi hoài niệm treo lơ lửng trên dốc thời gian, lịch sử và thân phận, như một thách thức...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.