Hôm nay,  

Trận chiến thầm lặng

03/04/202221:09:00(Xem: 3384)

Truyện ngắn

bad secretary

 

Từ hơn hai năm nay, kể từ khi đại dịch Covid-19 hoành hành, như mọi người lớn tuổi, tôi ít khi ra ngoài nhà, trừ phi bắt buộc đi mua chút đồ ăn, đi bác sĩ, đi chích ngừa… Phần lớn thời gian là cách ly với mọi người, một hình thức như là mort sociale. Nhưng không mình vẫn sống nhăn và phải sống để thấy « thương hải biến vi tang điền ».

 

Tôi có nhiều thì giờ rảnh, ngày rộng tháng dài, tôi lang thang vào Internet, đi từ Âu sang Á, về Việt Nam xem Việt Cộng tạo dựng vụ bán test-kit Việt Á tịnh thất Bồng Lai. Tôi sang Nam Phi coi omicron hoành hành dữ dội ra sao, rồi trở lên giường, dựa tường mở tablette đọc hồi ký miền nam của anh Nguyễn Tài.

 

Bên lề cuộc chiến

Nỗi đau trên chiến trường

Lạc mất nhau rồi

Ngày đầu cuộc chiến

Những người lính cũ, v.v…

 

Càng đọc tôi càng thấm thía, chinh chiến điêu linh, trong cuộc chiến dài dằng dặc ấy, toàn dân tham chiến, cuộc chiến điêu linh ở chỗ chúng ta vừa thắng vừa thua, và bên địch cũng vừa thua vừa thắng. Chúng ta thua nên chúng ta không muốn sống với CS, chúng ta chạy tản mát ra ngoài Việt Nam, ra sống định cư rải rác khắp mặt địa cầu. Còn phe CS ư? Chúng bảo là « đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào » rồi chúng cũng muốn loay hoay « cút » theo Mỹ, bám theo Ngụy mới lạ kỳ!

 

Tôi nhớ mãi khi xưa trước 1975 có một chị bạn dạy học cùng trường, năm 1970 chị bỏ đi mất dạng. Sau 1975 về lại Sài Gòn, về làm trưởng phòng giáo dục quận I đô thành. Chị thường lên lớp chúng tôi trong những buổi học chính trị mở đầu. Ngại thì có ngại, nhưng vì là bạn cố cựu xưa, nên có lần có một anh bạn cắc cớ hỏi chị là:

 

– Chị Dung này, chị vô đảng chưa ?

 

– Anh hỏi chi vậy?

 

– Ý tôi muốn khuyên chị nếu chị vô đảng rồi, thì chị nên xin đảng cho chị một cái vé máy bay khứ hồi, chị sẽ bay đi tham quan sang Mỹ, Tây Đức, Canada…

 

– Để làm chi?

 

– Để xem tụi tư bản nó giẫy chết ra làm sao!

 

– Anh ăn nói chi mất lập trường!

 

– Úi chao, tụi tôi có lập trường đâu mà mất!

 

Ôn lại những kỷ niệm xưa, tôi lại cười một mình dù đã vùi đầu vô trong chăn ấm mùa đông xứ người. Tôi cũng chạnh lòng thương Dung, vì trước ngày tôi bỏ Việt Nam ra đi, có lần Dung đã tâm sự vụn cùng tôi là, Dung rất muốn cho con gái Dung đi du học ngoại quốc, vì giáo dục hậu chiến lộn xộn quá!

 

Rồi bẵng đi hàng bao năm lận đận, như đã nói, tôi sang Pháp đoàn tụ gia đình.

 

Chồng tôi, một chiến binh miền nam, sau ngày quốc hận, đi học tập cải tạo 5 năm vất vả khổ nhục, về lại thành phố, loay hoay tất bật lắm nỗi đoạn trường, vượt biên, sau cùng sang Paris và may mắn là mang được cả các con theo.

 

Năm 1985 đặt chân lên xứ người, tôi mày mò làm nhiều nghề để cùng chồng nuôi con, có lúc tôi đi bán bông, tưởng làm cô hàng hoa thì khỏe ru, nào ngờ nó vất vả quá, không chỉ bán, còn lau chùi, thay nước các bình hoa lớn và nặng, mang vác cây thông Noël è cổ trong mùa lễ Noël và năm mới dương lịch. Tiệm bán bông không có lò sưởi, nhà vệ sinh cũng để chứa hoa, ôi chao là khó khăn, giờ vắng khách, ngồi uốn dây kẽm kết hoa vòng. Sau một mùa Giáng Sinh, tôi phải vô nhà thương vì trẹo chân.

 

Khi rời bệnh viện, tôi làm việc khác, đi gác áo quần ở hồ bơi, lúc đó tôi cổ hủ và quê ơi là quê, nhìn thấy tây đầm trần truồng đi qua đi lại hà rầm trước mặt, tôi lại có ý đổi nghề, hồ tắm cũng ướt át trơn trượt dễ té lắm.

 

Quả thật là tôi không thể làm nghề tay chân cật lực ở xứ sở người ta với cái vóc dáng còm cõi nặng 40 kí lô, cao không quá 1m50.

 

Tôi không chê nghề mà nghề chê tôi.

 

Tôi quay ra đi học, vì hồi đấy nhà nước Tây còn khá giả, nên nếu tôi là mẹ một gia đình đông con mà đi học sẽ có trợ cấp khá, được đi học được trả lương mà không đi học thì dại quá. Thế là tôi cắp sách về lại trường lớp.

 

Sau 3 năm dùi mài kinh sử, tôi vẫn phải đi chệch sang một bên, tôi vẫn không được gọi làm cô giáo như ở bên nhà, tôi được gọi làm thư ký phụ tá cho bộ đại học, collège de France.

 

Làm việc ở môi trường đó, tôi tiếp xúc với nhiều giáo sư từ mọi xứ sở đến, tôi cũng gặp cơ man là các em sinh viên mọi miền mọi nước. Sinh viên Tàu đông nhất, sinh viên Việt Nam cũng đến nhiều, chỉ hầu hết là các em sinh viên miền Bắc và miền Bắc Trung phần, lác đác rất ít, có thể nói đếm trên đầu ngón tay là sinh viên Việt Nam miền Nam.

 

Sinh viên miền Bắc phần lớn con em cán bộ đảng viên cao cấp, tôi đã là thầy một thời, tôi không chấp nhất trẻ con, nhưng tôi buồn buồn cho phần thiệt thòi của các em học sinh miền Nam thân yêu của tôi.

 

Tôi cứ ngồi đó, ở văn phòng campus France nhận hồ sơ du học và chờ, chờ mãi, 1 năm, 2 năm, 3 năm mà rất ít, rất ít, họa chừng lắm mới có một em sinh viên miền Nam, còn toàn là người của phe thắng cuộc. Ngày nào, ra khỏi sở tôi cũng ngao ngán thở dài: « Các em ơi, bây giờ em ở đâu, Bến Hải hay Cà Mau góc biển hay rừng sâu? »

 

Tôi nhớ học trò của tôi lắm, nhớ mặt và nhớ cả họ tên, nhớ cả đứa giỏi và đứa dốt. Nhớ cả đứa chăm chỉ và đứa lười học. Lòng buồn rười rượi, chán mớ đời, tôi rảo bộ ra phố Tàu Quận 13 ăn phở. Khi buồn tôi thích ra phố tàu ăn phở. Tiệm phở Á Đông có đầy sinh viên phục vụ chạy bàn. Mà lạ lùng, nơi đây chạy bàn cũng toàn là sinh viên Việt Cộng, nói như hát, nói líu lo, có lúc gay gắt khó hiểu, chạy trời không khỏi nắng, tôi cũng gọi phở và café sữa, thêm một ly chè 3 màu. Ăn cho đỡ buồn mà! Xung quanh có nhiều tiếng động, nhưng tôi vẫn tò mò nghe được hai cô đang tâm sự với nhau, tôi nghe lóm:

– Này, Tú ơi, mày làm tiệm này đến bao giờ?

 

– Mày sắp nghỉ việc, học thi hả?

 

– Tao thôi làm, vì tao không cần làm nữa, mẹ tao mới cho tao tiền, làm cực quá.

 

– Sộp không?

 

– Khá lắm, bà via mới bán được cái nhà.

 

– Bà via mày mới vào Nam mà đã có nhà bán à?

 

– Chậc, thì nhà cơ quan cấp cho ông bô tao ở Lê Thánh Tôn, bà via tao xin được hóa giá, lấy được sổ đỏ, bà ra Gò Vấp mua căn nhà nhỏ, dư ra 1500 cây, bà cho tao chút ít, còn đang lo chuyển sang anh tao! Bà bán nhà lớn mua 2 nhà nhỏ.

 

Hai cô lại bá vai bá cổ nhau, sầm sì, sầm sì tiếp. Tôi không còn nghe rõ, tôi choáng váng, tụi nó trắng trợn thú tội ăn cướp nhà cửa, tiền của nhân dân!

 

Xoảng!!!

 

Tôi ngất ngư làm rớt ly chè ba màu, tiếng thủy tinh vỡ sắc cạnh, đau nhói.

 

Tôi hơi luống cuống, à mà gia đình nào có ông bố bà mẹ kiếm tiền nhanh và nhiều thế thì con cái sướng thật, nhưng hỡi ôi, đó lại là những đồng tiền oan nghiệt, những đồng tiền xương máu của dân miền nam thân yêu!

 

Chúng ta đau buồn thì giờ phải làm sao? Chúng ta có quyền lực gì đâu mà ngăn chặn?

 

Họ, bọn cán bộ ăn trên ngồi chốc, lúc nào chúng cũng là kẻ cướp hiện nguyên hình. Từ khi tôi sinh ra đời, năm 1945, chúng đã là kẻ cướp, chúng cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim. Năm 1975 chúng tràn vào miền nam, ỷ thế ngoại cường thu xếp trao đổi, chúng lên chân cướp bóc tiền bạc, của cải của miền Nam chở ra miền Bắc. Chúng đuổi dân thành phố đi kinh tế mới để cướp nhà kiểm kê tài sản để cướp vàng cướp tiền chúng đánh tư sản, tổ chức vượt biên chính thức. Ngày nay, thế kỷ 21 này, nhờ có tiền vàng đã ăn cướp được của miền Nam, chúng mở cửa làm kinh tế thị trường.

 

Văn hoá thị trường. Tôn giáo thị trường. Cái gì cũng thị trường hết, chúng nhắm tới cướp lớn, cướp khoa bảng, cướp trí tuệ! Cướp lớn, cướp một cách vô tri thức và vô đạo đức Chúng ráo riết gửi con cái đi du học là thể hiện tất cả âm mưu cướp lớn, để xem chúng ăn cướp được những gì? Và những gì không bao giờ ăn cướp nổi!

 

Thưa bạn, tôi chỉ nhớ loáng thoáng, hình như Albert Einstein, đã nói là « Người lương thiện và thông minh thì không là Cộng Sản, người Cộng Sản thông minh thì không lương thiện, người Cộng Sản lương thiện thì không thông minh ».

 

Ông tác giả này nói hơi vòng vo, tôi chỉ muốn nhớ đại khái và giản dị như ông cha ta khi xưa thường bảo: « Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. »

 

Ý là còn Cộng Sản thì muôn đời còn là xấu, xấu hết. Thêm nữa. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã định nghĩa: « Cộng sản là một loại cỏ dại, độc hại, nó mọc ở đâu, nó làm hư đất ở đó và làm chết hết những cây cỏ mọc xung quanh nó. »

 

Thế thì phải làm sao để nhổ cỏ độc hại hỡi trời? Nó, chúng nó, đang nẩy mầm mọc quanh đây. Tôi có ý ra tay làm cỏ dại… cỏ hại thì đúng hơn là cỏ dại. Việc này so ra không khó lắm với tôi. Tôi làm có tí chút, so ra chả đáng gì bạn ạ. Tôi có thể phá đám phá đám tụi Việt Cộng con khi tôi nhận hồ sơ của sinh viên Việt Nam du học mang đến nạp ở campus de France. Tôi là phụ tá bà tổng thư ký Bonnet, tôi có thể vứt bỏ luôn từng xấp hồ sơ của sinh viên miền Bắc vào máy cắt vụn giấy, rồi ấn nút, là xong, cho khỏi ngứa mắt.

 

Nhưng suy nghĩ lại, rồi họ sẽ tìm ra tôi thủ phạm. Tôi đâu phải 5, 7 tuổi, dù lòng căm ghét lên ngút trời, tôi lặp lại, tôi rất ghét họ, ghét từ thời Cộng Sản chập chững thời ông Hồ Chí Minh. Họ đã thủ tiêu cha tôi! Mẹ tôi góa bụa liều mạng cõng tôi, khi đi xe, lúc đi bộ, vượt ngày, vượt đêm từ Hà Nội vào Sài Gòn. Mẹ tôi tự xoay sở một mình buôn bán nuôi tôi lớn. Tôi được mẹ cho đi học các trường rất nổi tiếng và khi tốt nghiệp xong chương trình trung học, tôi đã có mảnh bằng tú tài Pháp. Tôi là người Việt Nam, lai Pháp ¼, tôi mang tên họ nửa Tây nửa tên thánh Marie le Témoin. Đúng là Madame le Témoin, tôi đã sinh ra và đã làm chứng cho bao nhiêu sự việc bất công trong cuộc đời này.

 

Mới lâm trận, tôi áp dụng chiến thuật bombarder tôi giở một đống hồ sơ, xem từng mặt đương sự một, mặt mũi các em cũng sáng sủa, đúng là những đứa trẻ sinh ra đời không được chọn cha mẹ, chúng đẹp và đặc vẻ Việt Cộng, vẻ Việt Cộng thì tôi không biết nói làm sao cho dễ hiểu, nhưng đặc biệt đó toàn là con của những ông to bà lớn, con ông tỉnh ủy, con ông bí thư thành ủy, con bà chủ tịch, huyện ủy cao cấp… toàn là miền ngoài, chẳng có một em miền Nam hay một em học sinh nào của tôi được lọt vô sổ vàng!

 

Cha mẹ chúng đều xin cho con đi du học tự túc. Vì đi theo diện học bổng du học, chúng hình như không đủ điều kiện. Chính phủ Pháp hỗ trợ sinh viên ngoại quốc từ 30 đến 50% tiền chỗ ở, tài trợ 60% tiền học phí và y tế. Gần như toàn bộ du học sinh Việt Nam sang Pháp từ 1976 đến 1996 đều là sinh viên du học tự túc.

 

Không hiểu sao họ nhẩy lên và đẩy lên quá mau. Nhập cuộc, lâu lâu 1, 2 tháng, tôi rút gọn một hồ sơ như rút loto, nguyên tập giấy đi vào máy cắt, tan nát, tan nát như họ đã làm tan nát cuộc đời của bố tôi khi xưa, tan nát như họ đã làm tan nát bao nhiêu binh đoàn thiện chiến của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tan nát như họ đã làm tan nát bao nhiêu gia đình của xã hội miền Nam thân thương của chúng tôi!

 

Xong việc, tôi quên bẵng, nhưng độ chừng nửa năm sau lại nguyên cái tập hồ sơ ấy xuất hiện. Tôi cáu tiết, thẳng tay cho vào placard cao sát trên trần nhà, đóng ập lại, cho mày mất đường ra, đáng đời con thòi lòi sáu mắt!

 

Rồi bao nhiêu lần coi kỹ một số hồ sơ, tôi thấy bắt đầu khinh bỉ và nhờm tởm. Hầu hết toàn xin campus France đến du học tự túc, nghĩa là ngoài toàn bộ hồ sơ hành chánh, họ đính kèm giấy tờ tài khoản ngân hàng, với những con số dài hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn.

 

Quái quỷ ở Việt Nam cũng có máy in tiền euro chăng?

 

Bà Bonnet xoa đầu tôi:

 

– Ôi, mày lại nổi cơn điên, mày là người Việt Nam mà mày không thích cho dân Việt Nam mày giàu có sao?

 

Rồi bà ngó lơ qua cửa sổ, kể lể:

 

– Hồi xửa xừa xưa ba và má tao cũng sang Việt Nam làm việc, tao còn nhiều hình ảnh kỷ niệm.

 

Xửa xừa xưa đó, gia đình bà có lẽ là thực dân, nhưng đó là chuyện riêng của bà, chuyện riêng của tôi lại khác. Khác, giống, thì chúng ta cứ phải làm việc đi, rồi cuối tháng sẽ được lãnh lương. Tôi cúi xuống cười thầm, dĩ nhiên tôi cần làm việc để có lương, và còn làm việc riêng kín đáo của tôi nữa, việc này quý hơn việc lãnh lương.

 

Khoảng thời gian 1985 đến 1995 tổng thống Mitterand ưu ái cho khá nhiều dân Arabe nhập tịch, rồi sự việc tòa đại sứ Việt Nam ở Pháp đòi sinh viên Việt Nam du học phải nộp cho tòa đại sứ một nửa số học bổng Pháp chu cấp cho mỗi sinh viên, đoàn sinh viên phản đối phía Việt Nam, họ dọa sẽ không cho sinh viên hồi hương sao đó. Vin vào cớ đó, một số em xin ở lại định cư ở Pháp.

 

Nhiều việc xáo trộn xẩy ra giữa tòa đại sứ Việt Nam và campus, nhưng rồi mỗi ngày tôi và bà Bonnet vẫn ngồi cùng nhau cứu xét từng chồng hồ sơ xin du học, tôi nhìn bà, bà làm việc chăm chỉ và tốt bụng, bà là một người Pháp rất tốt bụng như nguyên thủy và bẩm sinh, nhưng cũng có nhiều giấy tờ nguyên bản dịch ú ớ, nên bà hiểu lơ mơ đại khái, bà có hỏi tôi, tôi cũng không hứng thú mấy, giải nghỉa loăng quăng.

 

Từ cái loăng quăng đó, tôi tìm ra một cách thức tấn công mới, tôi bắt đầu chiến dịch bắn sẻ, lẻ tẻ. Nghĩa là thỉnh thoảng, mỗi hồ sơ, tôi rút ra một tờ, một tờ thôi, nắm vô tình tờ nào tôi vất đi tờ đó. Đa số hình như bị xé đi giấy của tài khoản ngân hàng, tôi không ưa những tiền bạc gian lận.

 

Nhưng rồi lại bổ túc, thì loay hoay máy bay qua lại cũng ba đến sáu tháng. Sáu tháng là trễ một niên khóa. Hồ sơ lại phải chờ cứu xét vào năm học sau. Chẳng ai lưu tâm tìm hiểu tại sao, vì giấy tờ hành chánh phức tạp rơi rớt là chuyện thường. Đặc biệt thủ tục hành chánh ở campus rất nặng nề và phiền toái.

 

Thời gian này tôi loại bỏ nhẹ nhàng địch thủ liên tiếp, hữu hiệu, tuần tự, kéo dài cuộc chiến đơn phương:

 

Tháng janvier, tôi rút ra vài mẫu đơn visa xin gia hạn. Tháng mars, tôi thảy đi ít bản sao hộ chiếu so với hiệu lực visa. Tháng mai, hủy đi một số hồ sơ không có bằng cấp đính kèm. Tháng juin tháng juillet tháng août, campus nghĩ hè. Tháng septembre, khai trường, hồ sơ cần kiểm điểm lại từ đầu. Tháng oct, nov, déc, chộn rộn lễ Giáng Sinh và năm mới.

 

Khi những ngày lễ cuối năm tới liên tiếp và tưng bừng chộn rộn, thì hồ sơ du học có thê bị ném đi rất nhiều, như ném giấy lộn vô thùng rác, khỏi cần sử dụng ấn nút máy cắt vụn. Tại sao? Vì là vì giấy gói quà tặng ở đâu cũng nhiều, quá nhiều, làm tôi say máu như say champagne brut!

 

Nhưng khi mình say máu, làm quá sức, thì dễ bị phát hiện. Tôi lờ mờ linh cảm sau một mùa Noël, campus nghi ngờ ra kẻ chủ mưu xáo trộn và vất bỏ giấy tờ của văn phòng.

 

Năm 2008, tôi nhận được giấy thuyên chuyển nhiệm sở, tôi về làm việc cho croust ở cité université 5. Campus chẳng phiền hà ai một câu! Họ thản nhiên mua cho tôi quà tặng khi tiễn tôi sang làm việc bên căng tin là quán ăn sinh viên.

 

Ở nơi làm việc mới, môi trường mới, tôi không gặp nhiều sinh viên Việt Nam nữa. Tôi gặp các em của đủ mọi quốc gia. Tôi ít việc làm hơn, có lúc ngồi chơi games như con nít, một đôi khi cũng có một băng sinh viên Việt Cộng đi cùng nhau vào quán ăn, họ nói nói cười cười khá ồn ào.

 

Nghe có người Việt nói tiếng Việt là tôi ngửng đầu lên ngay. Cứ liệu hồn đó! Tôi còn sống là còn nhiều phương cách sáp trận!

 

Cái hận ngàn đời kể cũng khó hóa giải! Việt Nam ơi, tôi vẫn thấy tập đoàn Cộng Sản vẫn còn đó, chúng vẫn mỗi ngày mỗi làm tệ hại hơn, đau khổ hơn cho quê hương cho dân tộc tôi. Vì sao ư? Vì cái kẻ tội đồ vẫn cứ nằm chình ình ra đó.

 

Chúc Thanh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Âm nhạc của Nhạc Sĩ Cung Tiến đã chinh phục cả hai, ba thế hệ người thưởng ngoạn, suốt từ thập niên 50 cho đến ngày nay; và có lẽ trong một tương lai rất lâu nữa, người ta vẫn nghe nhạc của ông. Tuy đã khá trọng tuổi, nhưng sự ra đi của ông mới đây vẫn là sự bất ngờ đến bàng hoàng đối với những người thân yêu và mến mộ ông. Nỗi niềm thương tiếc này được biểu hiện bằng đôi lời chia biệt với ông và gia đình từ khắp nơi. Việt Báo trích đăng lại. Cầu mong Ông yên nghỉ.
Cái chết làm nên đời sống của chúng ta. Cũng như mất mát làm nên âm nhạc. Cái chết của một người, một nghệ sĩ, một quê hương...
buổi chiều nào se lạnh / mưa đổ muộn xuống mùa hè miền đông bắc / như trận mưa ở saint paul năm nào / ngày thanh tâm tuyền chết./ buổi chiều tôi biết muộn / cái chết của cung tiến...
Di sản nghệ thuật của nhạc sĩ Cung Tiến không nằm ở số lượng, mà đầy ở phẩm chất. Ngoài những ca khúc, tấu khúc thuần tuý giá trị về âm nhạc, ông còn để lại những bài viết, tiểu luận dưới nhiều đề tài văn học, kinh tế, và truyện dịch. Chúng ta đã đọc, đã nghe khá nhiều về tài hoa và khả năng sáng tác của Cung Tiến từ tuổi 15 cho đến những năm tháng sau cùng. Trong những quà tặng ông để lại tôi đặc biệt yêu thích nghệ thuật phổ thơ thành nhạc của ông, chẳng những cho chúng ta thưởng thức giai điệu bán cổ điển tây phương, ngủ âm đông phương, mà còn mang thơ Thanh Tâm Tuyền, một trong vài thi sĩ hàng đầu trong thời đại của ông đến giới thưởng ngoạn nhạc nghệ thuật và lưu trữ vào kho tàng âm nhạc Việt. Thơ Thanh Tâm Tuyền không dễ phổ thành nhạc.
Như những tiếng cầu xin cứu vớt linh hồn chúng tôi / ngoài khơi bí mật đến tự một con tàu biển; / qua những mảnh danh từ dệt nên hồn mầu nhiệm / em vẫn chỉ là tóc mây cổ nõn và môi./ Sau áo len danh từ là thế giới xa vời, / là đêm không trăng sao là trùng dương thăm thẳm; / qua những chuỗi ngọc cười, em vui nước mất đẫm / vai anh, em buồn. Đêm hồn anh dài không nguôi.
Phiến đá là một vầng trán nơi những giấc mơ hiền than thở/ Không một dòng nước uốn quanh và những cây tùng bách giá băng / Phiến đá là một cánh vai trần để chở đi thời gian / Với những cây nước mắt những dải băng và những tinh cầu / Tôi đã thấy những trận mưa xám chạy dài theo những đợt sóng / Giơ cao lên những cánh tay ngọt ngào lỗ chỗ / Để không cho phiến đá duỗi dài với được / Phiến đá chặt tay chân ra thành từng mảnh mà không thèm hút máu
Cung Tiến là một tên tuổi lớn của âm nhac Việt Nam, nhưng ông cũng là một tác giả có nhiều đóng góp vào hai mươi năm văn học miền Nam và văn học hải ngoại. Vào những thập niên 1950 và 1960, với bút hiệu Thạch Chương, Ông đã sáng tác, nhận định và phê bình văn học, cũng như dịch thuật, cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan điểm, và Văn. Hai trong số các truyện ngắn ông dịch và xuất bản ở Việt Nam là cuốn Hồi ký Viết Dưới Hầm của Dostoievsky và cuốn Một Ngày Trong Đời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn. Mời đọc lại một bài viết về Hermann Hesse của Thạch Chương, tức nhạc sĩ Cung Tiến.
Thoa đứng tỳ tay và cằm trên lan can ngó xuống đường. Một con phố đông về chiều đã hết nắng. Trời chạng vạng. Các cửa tiệm đã lên đèn néon đỏ, xanh lá cây, rất lõa lồ, mời mọc và bẩn thỉu: những quán rượu. Dưới hè đường mấy đứa bé đánh giầy đang ngồi chơi cờ carô trên ô gạch, bằng phấn trắng, yên lặng như những ông già. Mấy người lính Mỹ bước vội vã vào mấy quán rượu. Những tên quán rượu ngồ ngộ và lạ lùng: Blue Moon, Starlight, Princess, San Francisco.
Nhạc sĩ Cung Tiến sinh ngày 2.11.1938, tên thật là Cung Thúc Tiến. Ông sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Cụ thân sinh của Cung Tiến là một nhà thơ, một nhà cách mạng của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Trong gia đình Cung Tiến không có ai theo con đường âm nhạc, nhưng ông lại đam mê âm nhạc từ nhỏ. Cung Tiến bắt đầu sinh hoạt văn nghệ từ thời còn là học sinh tiểu học, đi học hát trong nhà thờ, hát trong các ca đoàn Công giáo và được giao điều khiển ban hợp ca của các trường khi lên tới trung học.
Lúc ấy nhân duyên đưa đẩy, tôi được biết đến bài Vết Chim Bay của ông và xin phép ông cho tôi thu âm bài đó vào CD. Ông chắc cũng chưa nghe tôi hát bao giờ, nhưng cũng cho phép, mà cũng không nhận tiền bản quyền, lại còn cho tôi cả bản hòa âm phối khí dàn nhạc của ông cho tôi sử dụng nữa! Khi tôi đưa bài cho Duy Cường làm theo hòa âm phối khí của Cung Tiến thì Cường “kêu” là mất công lắm. Thường thì các nhạc sĩ Việt Nam viết ca khúc chỉ viết giai điệu thôi, có thể viết thêm những hợp âm cho bài hát, nhưng rất ít người viết soạn hòa âm hay phối khí cụ cho bài hát của mình. Do đó, các nhạc sĩ hòa âm tha hồ muốn hòa âm phối khí sao cũng xong và có thể làm rất nhanh. May thì hay, nhưng nhiều khi nghe không có gì đặc biệt cả và có khi còn chói tai nữa. Duy Cường là một người hòa âm hay, nhưng theo tôi, bài Vết Chim Bay phải dùng hòa âm của Cung Tiến mới đạt! Duy Cường phải đánh vào máy từng phần của các nhạc khí từ tổng phổ ông Cung Tiến cho, để cho vào “synthesizer” và đưa cho các nh


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.