Hôm nay,  

Tiếng Việt

16/04/202211:46:00(Xem: 3729)

cheo do

 

À ơi! Con ngủ cho ngon,

Yêu con mẹ đặt nôi con tiếng này

Trong mơ con học tiếng này Việt Nam

Ngọt ngào hoa bưởi hoa cam

Sao bằng tiếng mẹ nở làn môi con.

 

Học đi con, tiếng này mẹ dậy

Để mai sau, khi trở nên người

Dầu đường đời phiêu bạt muôn nơi

Con vẫn hiểu từ đâu con tới.

 

Qua tiếng nói con nhớ lời mẹ dặn,

Hiểu tình cha nghiêm khắc vẫn nhân từ

Qua tiếng mình con học cách suy tư

Để hiểu được những điều hay, điều dở.

 

Lòng của mẹ vẫn như từ muôn thuở

Vẫn yêu con luôn hơn cả yêu yêu mình

Nhưng dòng đời nhiều dâu bể lênh đênh

Mẹ không thể đến nơi nào con đến.

 

Chỉ tiếng nói là không bờ không bến

Sẽ theo con đi suốt cả cuộc đời

Từ những ngày con bập bẹ trong nôi

Khi khôn lớn nói lên lời lên tiếng.

 

Con phải hiểu con muôn vàn yêu mến

Hình hài này quả thực mẹ sinh ra

Nhưng tiếng nói, tiếng nói của ông cha

Đã từng tháng từng ngày nuôi con lớn.

 

Trong tiếng nói biết buồn vui mừng giận

Biết u sầu, biết thương nhớ mộng mơ

Trong lòng con giăng mắc những dây tơ

Để con hiểu tới trời mây sông nước.

 

Những liệt nữ anh hùng bao thuở trước

Sẽ cùng con trong tiếng nói bồi hồi

Cùng “khóc cười theo vận nước nổi trôi”

Cùng lo lắng lúc “sơn hà nguy biến”.

 

Tiếng Việt mình đó chính là vốn liếng

Mà suốt đời, con mắc nợ ông cha

Tiếng muôn màu như cây cỏ nở hoa

Tiếng trầm bổng xôn xao ngàn ý hạc.

 

Rồi một mai có khi nào phiêu bạt

Nơi quê ngươi vắng bặt tiếng thân quen

Con gọi thầm trong cô độc mỗi đêm

Tiếng nước Việt, lòng quặn đau như xé!

 

Mẹ không hiểu, bìa rừng hay khe suối

Tự bao giờ vang vọng tiếng ông cha

Nhưng nhiều đêm, dưới bóng ánh trăng tà

Ai cũng thấy tiếng vua Hùng mở nước.

 

Như có cả tiếng ngàn quân cất bước

Nơi rừng già thăm thẳm núi Chí Linh

Đã ra đi đã quên cả thân mình

Đưa dân tộc thoát khỏi vòng đô hộ.

 

Con có nghe tiếng tủi hờn phẫn nộ

Dòng Hát Giang đau đớn khóc Hai Bà

Tiếng Diên Hồng lồng lộng tựa phong ba

Đã vùi lấp xác quân thù cướp nước?

 

Tiếng Việt mình, nếu con chưa hiểu được

Hãy ngồi đây, nghe bụi chuối sau nhà

Nghe mái chèo khua nước bãi sông xa

Nghe cá quẫy trong ao bèo đêm vắng.

 

Hãy ngồi đây lúc trưa hè rực nắng

Tiếng gió đùa xào xạc những hàng tre

Tiếng sáo diều vời vợi cánh đồng quê

Tiếng gà gáy gọi người trong sương sớm.

 

Tiếng nghé gọi trong hoàng hôn khói sẫm

Tiếng chim chiều ríu rít rủ nhau về

Tiếng hát hò sông vắng kéo lê thê

Tiếng kèo cột cựa mình cơn gió giật.

 

Phiên chợ sớm, tiếng người đi tất bật

Hội cúng đình, tiếng trống giục bình minh

Còn nhiều nữa… cứ nghe rồi con hiểu

Tiếng Việt ta: tiếng đập của tim mình.

 

Dẫu tiếng Việt có muôn ngàn thanh sắc

Sắc thanh nào cũng bát ngát tình quê

Nên người Việt khi nào sông núi gọi

Từ muôn phương tám hướng cũng quay về.

 

Chúc Thanh

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
William Shakespeare và Anne Hathaway thành vợ chồng vào năm 1582. Chàng mới mười tám tuổi, nàng hai mươi sáu và đang mang thai. Một năm sau, Susanna ra đời. Đến năm 1585, cặp song sinh Judith và Hamnet xuất hiện, khiến căn nhà nhỏ ở Stratford-upon-Avon đầy thêm tiếng trẻ. Trong khi Anne ở lại quê chăm con và giữ nếp nhà, Shakespeare phần lớn thời gian sống giữa London—cách Stratford gần trăm dặm—nơi ông theo đuổi sân khấu và chữ nghĩa. Những năm tháng ấy, ông vẫn đều đặn đi về, nhưng cuộc sống gia đình đa phần đặt trên vai Anne.
Nói đến thi ca “một thời” của Thầy thì khả năng nào để nói, chữ nghĩa nào để diễn đạt, và tư tưởng – tình cảm nào để thấu ý thơ. Thôi thì mình nói bằng tấm lòng chân thành, bằng chút ân tình quý kính mà Thầy trò một thời học tập, làm việc bên nhau. Do vậy, xin đừng bông đùa chữ nghĩa mà thất lễ. Tản mạn thi ca, người viết muốn nói đến vài ý thơ của Thầy đã rơi rớt đâu đó, ẩn núp dưới rặng chân mây, bên bờ vực thẳm, hay như là ủ mình nơi “không xứ” vượt thoát tử sinh của bậc Đại sĩ, mà hòa quyện với đời một thứ tình cảm thâm trầm, da diết của thi nhân.
LTS: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) là một học giả, nhà văn, nhà thơ, nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh điển Phật Giáo của Việt Nam trong thời hiện đại. Thầy đã xuất bản hàng chục tác phẩm về Phật học, văn học và triết học. Thầy viên tịch vào ngày 24/11/2023 tại Chùa Phật Ân, Đồng Nai, Việt Nam. Việt Báo xin dành số báo đặc biệt kỳ này để tưởng niệm hai năm ngày Thầy viên tịch và cũng để tỏ lòng tri ân những đóng góp của Thầy cho nền văn hóa và văn học của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam.
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.