Hôm nay,  

Tiếng Việt

16/04/202211:46:00(Xem: 3904)

cheo do

 

À ơi! Con ngủ cho ngon,

Yêu con mẹ đặt nôi con tiếng này

Trong mơ con học tiếng này Việt Nam

Ngọt ngào hoa bưởi hoa cam

Sao bằng tiếng mẹ nở làn môi con.

 

Học đi con, tiếng này mẹ dậy

Để mai sau, khi trở nên người

Dầu đường đời phiêu bạt muôn nơi

Con vẫn hiểu từ đâu con tới.

 

Qua tiếng nói con nhớ lời mẹ dặn,

Hiểu tình cha nghiêm khắc vẫn nhân từ

Qua tiếng mình con học cách suy tư

Để hiểu được những điều hay, điều dở.

 

Lòng của mẹ vẫn như từ muôn thuở

Vẫn yêu con luôn hơn cả yêu yêu mình

Nhưng dòng đời nhiều dâu bể lênh đênh

Mẹ không thể đến nơi nào con đến.

 

Chỉ tiếng nói là không bờ không bến

Sẽ theo con đi suốt cả cuộc đời

Từ những ngày con bập bẹ trong nôi

Khi khôn lớn nói lên lời lên tiếng.

 

Con phải hiểu con muôn vàn yêu mến

Hình hài này quả thực mẹ sinh ra

Nhưng tiếng nói, tiếng nói của ông cha

Đã từng tháng từng ngày nuôi con lớn.

 

Trong tiếng nói biết buồn vui mừng giận

Biết u sầu, biết thương nhớ mộng mơ

Trong lòng con giăng mắc những dây tơ

Để con hiểu tới trời mây sông nước.

 

Những liệt nữ anh hùng bao thuở trước

Sẽ cùng con trong tiếng nói bồi hồi

Cùng “khóc cười theo vận nước nổi trôi”

Cùng lo lắng lúc “sơn hà nguy biến”.

 

Tiếng Việt mình đó chính là vốn liếng

Mà suốt đời, con mắc nợ ông cha

Tiếng muôn màu như cây cỏ nở hoa

Tiếng trầm bổng xôn xao ngàn ý hạc.

 

Rồi một mai có khi nào phiêu bạt

Nơi quê ngươi vắng bặt tiếng thân quen

Con gọi thầm trong cô độc mỗi đêm

Tiếng nước Việt, lòng quặn đau như xé!

 

Mẹ không hiểu, bìa rừng hay khe suối

Tự bao giờ vang vọng tiếng ông cha

Nhưng nhiều đêm, dưới bóng ánh trăng tà

Ai cũng thấy tiếng vua Hùng mở nước.

 

Như có cả tiếng ngàn quân cất bước

Nơi rừng già thăm thẳm núi Chí Linh

Đã ra đi đã quên cả thân mình

Đưa dân tộc thoát khỏi vòng đô hộ.

 

Con có nghe tiếng tủi hờn phẫn nộ

Dòng Hát Giang đau đớn khóc Hai Bà

Tiếng Diên Hồng lồng lộng tựa phong ba

Đã vùi lấp xác quân thù cướp nước?

 

Tiếng Việt mình, nếu con chưa hiểu được

Hãy ngồi đây, nghe bụi chuối sau nhà

Nghe mái chèo khua nước bãi sông xa

Nghe cá quẫy trong ao bèo đêm vắng.

 

Hãy ngồi đây lúc trưa hè rực nắng

Tiếng gió đùa xào xạc những hàng tre

Tiếng sáo diều vời vợi cánh đồng quê

Tiếng gà gáy gọi người trong sương sớm.

 

Tiếng nghé gọi trong hoàng hôn khói sẫm

Tiếng chim chiều ríu rít rủ nhau về

Tiếng hát hò sông vắng kéo lê thê

Tiếng kèo cột cựa mình cơn gió giật.

 

Phiên chợ sớm, tiếng người đi tất bật

Hội cúng đình, tiếng trống giục bình minh

Còn nhiều nữa… cứ nghe rồi con hiểu

Tiếng Việt ta: tiếng đập của tim mình.

 

Dẫu tiếng Việt có muôn ngàn thanh sắc

Sắc thanh nào cũng bát ngát tình quê

Nên người Việt khi nào sông núi gọi

Từ muôn phương tám hướng cũng quay về.

 

Chúc Thanh

 

Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Phế tích của ảo ảnh, nhan đề một tập thơ của nhà thơ Trịnh Y Thư, do Nhà xuất bản Văn Học Press ấn hành năm 2017 tại Hoa Kỳ. Một nhan đề chất chứa không biết mấy lớp không gian và thời gian, không biết mấy thức của cảm xúc; nó như một sợi chỉ mà khi kéo ra chỉ thấy vô tận. Điều gì làm hoang mang và quyến rũ tôi đến vậy? Chữ “Phế tích” tác giả dùng cho “Ảo ảnh” khiến cảm xúc cuốn theo chiều hút của vực thẳm, trong đó nỗi hoài niệm treo lơ lửng trên dốc thời gian, lịch sử và thân phận, như một thách thức...
Chiều thứ Bảy 23 tháng 8 sắp tới đây, chúng ta sẽ được xem màn trình diễn Hợp Xướng "Chinh Phụ Ngâm" lần đầu tiên ở Hoa Kỳ. Nhà hát Rose Center Theater chuyên dùng cho các buổi hoà nhạc hay nhạc kịch ở Quận Cam sẽ là nơi vở hợp xướng trang trọng này được diễn ra. Cùng với màn hợp xướng, Đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng sẽ giới thiệu Chương Trình Ca Vũ Nhạc Kỷ Niệm 50 năm viễn xứ "Cánh cò xa xứ" tại đây. Rất phấn khởi với tin tức này, tôi lại có cơ duyên quen biết và tiếp xúc với Nhạc Sĩ Vũ Đình Ân, tôi tìm gặp ông để tìm hiểu thêm về vở hợp xướng "Chinh Phụ Ngâm".
TÔI LÀ AI? Dường như mãi mãi là một câu hỏi cho cuộc sống của con người tại thế. Và câu trả lời của nó, hẳn nhiên, không thể và không chỉ là một cụm từ, cho dù có thể sâu xa đến đâu. Phùng Thanh Hà, một phụ nữ tôi quen biết, tuy cùng ở một thành phố nhưng phải đánh một vòng đến Thuỵ Sĩ, qua một người bạn (đạo diễn Síu Phạm), tôi mới gặp được cô ấy. Tôi kể điều này để muốn nói rằng, tương ngộ là tuỳ duyên, không chỉ trong các mối quan hệ mà còn là những vấn đề liên quan, những cơ sự sắc tướng hoặc vô sắc tướng nơi mỗi cá nhân.
Độc giả Việt Báo hẳn đã quen với Bùi Chát – nhà thơ – qua nhiều thi phẩm đặc sắc từng đăng tải trên trang báo này suốt bao năm qua. Tuần rồi, Việt Báo vừa giới thiệu tập thơ mới Chúng Ta Đang Trôi Đi Đâu với bài viết của Nguyễn Đức Tùng. Hôm nay, mời bạn đọc gặp lại một Bùi Chát - người họa sĩ. Anh đang có cuộc triển lãm tranh mang tên “đang trôi” khai mạc từ hôm nay và kéo dài đến hết ngày 24 tháng 7, tại Sài Gòn – một dịp hiếm quý dành cho các độc giả Việt Báo hiện đang có mặt tại Tân Định.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.