Hôm nay,  

Phật Tích

09/05/202219:45:00(Xem: 4105)

but_tung kinh

 


Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ

Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian

Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng

Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi.

 

Nơi thượng giới, Đức Nhiên Đăng cổ Phật

Soi thấu muôn loài, nơi hạ giới trầm luân

Ngài kiếm tìm, hàng Thánh Đức hiển linh

Truyền Bồ Tát, Phật Thích Ca giáng trần.

 

Một ngày kia, nơi kinh thành Xá Vệ"

Thư các thâm nghiêm, thiên giới báo điềm lành

Hoàng hậu Ma Da sẽ hoài thai Thái Tử

Đức Thế Tôn, đại giác ngộ Đản Sanh.

 

Hoàng hậu Ma Da ngưuời "khai hoa nở nhụy"

Con đầu lòng, Thái Tử  Tất-Đạt-Đa

Hoàng Hậu qua đời, đột ngột mấy hôm sau

Lìa nhân thế, lên Cung Trời Đao Lợi.

 

Đoàn tùy tùng, đưa Ngài về Xá Vệ

Đến cổng thành, quân sỹ tướng cung nghinh

Rước kiệu Ngài, vào kinh thành tráng lệ

Gặp Vua Cha, Tịnh Phạn ngự ngôi cao.

 

Vua khoản đãi, tiệc tùng mừng Thái Tử

Mời công hầu, khanh tướng, khắp lân bang

Các đạo sỹ, Bà La Môn thượng phẩm

Chúc tụng Ngài, Thái Tử Tất Đạt Đa.

 

Tất Đạt Đa, nơi cung vàng điện ngọc

Sống êm đềm, trong nhung gấm cao sang

Nhân cách Ngài, vốn hiền từ, đôn hậu

Lâm Tỳ Ni, vườn thượng uyển dấu chân Ngài.

 

Thái Tử, Ngài, rất thông minh đĩnh ngộ

Thạo kiếm, cung, thông triết lý cao siêu

Luận văn chương, thi phú, rất phi phàm

Lầu kinh sử, thánh thư điều binh, tướng.

 

Một ngày kia, nước lân bang kén rể

Công chúa Đương Triều, vừa đến tuổi cập kê

Thái Tử lên đường, vâng Thánh lệnh Vua cha

Đoàn hộ giá, ngựa xe cùng phẩm vật.

 

Vua lân bang, đãi đằng đoàn dự thí

Nào Vương Tôn, Hoàng Tử khắp xa, gần

Tất Đạt Đa, Ngài song toàn văn võ

Thắng cuộc thi, thành Phò Mã đương kim.

 

Lời chúc tụng, râm ran trong tiệc cưới

Phò Mã đương triều, làm lễ kính ơn trên

Da Du Đà La, cùng Thái Tử nên đôi

Đoàn hộ giá, trở về Thành Xá Vệ.

 

Rồi ngày tháng trôi qua, Da Du Đà La sanh con quý

Thái Tử vui mừng, trong hạnh phúc vô ưu

Vua Tịnh Phạn, thiết triều mời quốc khách

Mừng La Hầu La, Thế Tử cõi Vương triều.

 

Một ngày nọ, du hành nhân thế

Bốn cổng thành, sinh, bệnh, lão thảm thương

Và nơi kia, tử thi nằm co quắp

Cảnh cơ hàn, manh áo rách che thân.

 

Ngài tra vấn, người hầu trai Sa Nặc

Những người kia, hàng dân dã bần cùng

Còn như ta, là Đương Kim Thái Tử

Sa Nặc ơi, ta có ngoại trừ không?

 

Sa Nặc đáp, rằng Ngài không ngoại lệ

Như muôn loài, vạn vật chốn trần gian

Cũng tử, sinh, cũng già, bệnh luân hồi

Không tránh khỏi, dù Ngài là Thái Tử.

 

Về Điện Ngọc, Ngài hằng đêm thao thức

Suy nghĩ cạn cùng, tìm nguyên lý cao thâm

Da Du Đà La, công chúa đến hỏi han

Ngài lơ đễnh, lắng sâu vào tư tưởng.

 

Vua Tịnh Phạn, lo rầu không kể xiết

Nên loan truyền, mời các bậc danh y

Ban vàng, bạc, ngựa, xe cùng châu báu

Chế linh đơn, thần Dược cứu Vua con.

 

Nhưng Thái Tử, vẫn không ngừng suy ngẫm

Ngài thưa trình, cùng Tịnh Phạn Vua Cha

Nêu ước nguyện, xuất cung tầm Đạo học

Mong muốn viên thành, chánh quả độ Nhân Sinh.

 

Vua Tịnh Phạn, phừng phừng cơn thịnh nộ

Truyền quân hầu, quản thúc Tất Đạt Đa

Và ngăn cản, Ngài không rời cung cấm

Bỏ ngai vàng, đi học Đạo Tầm Sư.

 

Cùng Sa Nặc, rời kinh thành Xá Vệ

Ngựa phi nhanh, lao vùn vụt trên đường

Rong ruổi đêm ngày, xa khuất nẻo trời mây

Xuyên làng mạc, băng núi dài sông rộng.

 

Đến bìa rừng, Ngài ghìm cương xuống ngựa

Trao hoàng bào, mặc lấy áo gai thô

Ngài dặn dò, người hầu trai lần cuối

Sa Nặc ơi, khuyên ngươi hãy đi xa

 

Ngài ân cần, thốt lên lời tha thiết

Ngươi theo ta, cũng đã bấy lâu rồi

Hoàng bào này, ngươi đổi vài nén bạc

Để phòng thân trong những lúc cơ hàn.

 

Sa Nặc khóc, trong giụa giàn nước mắt

Thái Tử ơi, xin trở lại Kinh Thành

Sao lìa bỏ uy quyền và ngôi báu

Chọn nơi này, chốn cùng cốc thâm sơn.

 

Sa Nặc ơi, hãy lau dòng nước mắt

Hãy vơi đi, bao thương cảm trong lòng

Hãy để ta, lìa cung vàng cõi tạm

Mong cầu tìm, nguồn chân lý cao siêu.

 

Ngài cầu học, bậc đại tiên, hiền triết

Bậc cao minh, xuất chúng trí siêu phàm

Bậc đại sư cái thế chốn thâm sơn

Bậc ẩn sỹ, nơi làng quê hẻo lánh.

 

Ngài làm bạn, cùng chim muông, thú dữ

Chốn rừng thiêng, suối mát khí trong lành

Ngồi tịnh thiền, bên gốc cây nghìn tuổi

Mặt trời lên, trăng tròn, khuyết, sao khuya.

 

Ngài thực hành, pháp môn tu khổ hạnh

Thân thể gầy gò, tiều tụy tựa xương khô

Nhấm nháp qua ngày, vài quả khô nhặt nhạnh

Năm tháng hao mòn, Ngài bền chí chuyên tâm.

 

Đệ tử Ngài, Kiều Trần Như năm vị

Theo pháp môn, tu khổ hạnh kiên trì

Không nản lòng, xao nhãng chí tâm tu

Cầu tinh tấn, mong đắc thành chánh quả.

 

Ngài phát nguyện, gắng suy tìm chân lý

Cội Bồ Đề, ngồi tĩnh tọa hành thâm

Ngài quán chiếu, lý vô thường, nhân quả

Luật trả vay, vay trả kiếp luân hồi.

 

Vì mải miết, gắng soi tìm chánh pháp

49 ngày, Ngài không uống không ăn

Thân thể hao mòn, da bọc xương tiều tụy

Đôi mắt mờ, chân bủn rủn tay run.

 

Ngài suy xét, pháp môn tu khổ hạnh

Không đạt thành, đạo lý quá cao thâm

Nếu thân này, cùng chánh Tâm hiện hữu

Mới viên thành, chánh giác độ Nhân Sinh.

 

Rồi ròng rã, bốn mưoi năm thuyết pháp

Giảng Đạo Độ Đời, Ngài điển nhãn khai thông

Cõi Ta Bà, Ngài vân hành cứu độ

Nơi Đạo Tràng, Ngài truyền pháp tùy duyên.

 

Đã bao đời, đã hằng thiên niên kỷ

Đạo pháp Ngài, gieo hạt giống Từ Bi

Trượng pháp Ngài, tỏa hào quang Hỷ Xả

Lưu dấu muôn đời, vạn kiếp Đức Từ Tôn

 

-- Chúc Thanh & Chúc Liên

 

 

Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Phế tích của ảo ảnh, nhan đề một tập thơ của nhà thơ Trịnh Y Thư, do Nhà xuất bản Văn Học Press ấn hành năm 2017 tại Hoa Kỳ. Một nhan đề chất chứa không biết mấy lớp không gian và thời gian, không biết mấy thức của cảm xúc; nó như một sợi chỉ mà khi kéo ra chỉ thấy vô tận. Điều gì làm hoang mang và quyến rũ tôi đến vậy? Chữ “Phế tích” tác giả dùng cho “Ảo ảnh” khiến cảm xúc cuốn theo chiều hút của vực thẳm, trong đó nỗi hoài niệm treo lơ lửng trên dốc thời gian, lịch sử và thân phận, như một thách thức...
Chiều thứ Bảy 23 tháng 8 sắp tới đây, chúng ta sẽ được xem màn trình diễn Hợp Xướng "Chinh Phụ Ngâm" lần đầu tiên ở Hoa Kỳ. Nhà hát Rose Center Theater chuyên dùng cho các buổi hoà nhạc hay nhạc kịch ở Quận Cam sẽ là nơi vở hợp xướng trang trọng này được diễn ra. Cùng với màn hợp xướng, Đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng sẽ giới thiệu Chương Trình Ca Vũ Nhạc Kỷ Niệm 50 năm viễn xứ "Cánh cò xa xứ" tại đây. Rất phấn khởi với tin tức này, tôi lại có cơ duyên quen biết và tiếp xúc với Nhạc Sĩ Vũ Đình Ân, tôi tìm gặp ông để tìm hiểu thêm về vở hợp xướng "Chinh Phụ Ngâm".
TÔI LÀ AI? Dường như mãi mãi là một câu hỏi cho cuộc sống của con người tại thế. Và câu trả lời của nó, hẳn nhiên, không thể và không chỉ là một cụm từ, cho dù có thể sâu xa đến đâu. Phùng Thanh Hà, một phụ nữ tôi quen biết, tuy cùng ở một thành phố nhưng phải đánh một vòng đến Thuỵ Sĩ, qua một người bạn (đạo diễn Síu Phạm), tôi mới gặp được cô ấy. Tôi kể điều này để muốn nói rằng, tương ngộ là tuỳ duyên, không chỉ trong các mối quan hệ mà còn là những vấn đề liên quan, những cơ sự sắc tướng hoặc vô sắc tướng nơi mỗi cá nhân.
Độc giả Việt Báo hẳn đã quen với Bùi Chát – nhà thơ – qua nhiều thi phẩm đặc sắc từng đăng tải trên trang báo này suốt bao năm qua. Tuần rồi, Việt Báo vừa giới thiệu tập thơ mới Chúng Ta Đang Trôi Đi Đâu với bài viết của Nguyễn Đức Tùng. Hôm nay, mời bạn đọc gặp lại một Bùi Chát - người họa sĩ. Anh đang có cuộc triển lãm tranh mang tên “đang trôi” khai mạc từ hôm nay và kéo dài đến hết ngày 24 tháng 7, tại Sài Gòn – một dịp hiếm quý dành cho các độc giả Việt Báo hiện đang có mặt tại Tân Định.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.