Hôm nay,  

Bên dưới cánh đồng

12/06/202218:10:00(Xem: 2871)
Truyện ngắn nước ngoài

Wind

 


Chúng tôi thường đến chơi bên đường ray xe lửa. Phải mất khoảng hai mươi phút từ làng để đến đó, và bên dưới cánh đồng rộng lớn Prade là một sườn đồi dốc thẳng phủ đầy cây cọ chạy dài xuống đường xe lửa. Và ngay đó, một mỏm đá hơi nhô ra tạo thành một hốc không sâu, có thể che nắng mưa cho người đến trú, và bọn trẻ chơi đùa vào mùa hè như chúng tôi có thể té ngã trên nền cát ấm êm bên dưới mặt đất mà không bị trầy xước.

 

Tất nhiên, nói đến tàu lửa là rất nguy hiểm, nhưng chúng tôi đã quen đi dọc theo đường ray một cách rành rọt. Đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước. Mỗi khi xe lửa sắp đến gần, chúng tôi có thể nghe thấy tiếng "chu chu" từ xa để nhanh chóng nép tránh qua một bên. Đôi khi, vào mùa hè quá khô hạn, bụi than cháy dở phụt ra từ ống khói đầu máy xe lửa có thể làm cháy những bụi cây nhỏ ở rìa đường ray, nhưng điều đó chưa bao giờ xảy ra trước đây ở vùng Prade. Tuy nhiên, khu vực này rất dốc, nếu đi đường vòng thì rất lâu. Vì vậy, chúng tôi thường đi đường tắt, men theo đường ray xe lửa.

 

Chiều hôm đó, như mọi ngày vào mùa hè, sau khi ăn trưa ở nhà bà tôi, tôi đi quanh làng để tìm bọn nhóc bạn tôi. Một đợt hạn hán bất thường đã ập đến Causses[1] trong ba tuần. Đứa thì cùng cha đi lấp bể chứa nước ở đài phun nước bên dưới, đứa thì đang sửa xe gắn máy của mình. Người dân Lyon đã bỏ nhà đi ra ngoài hết. Còn tôi thì quyết định đi chơi dưới vùng Prade.

 

Tôi đã gặp Gabriel ở đó. Cu cậu này, tôi với nó không hạp nhau mấy. Nếu như chơi chung một bọn với những đứa khác, thì cũng gọi là tạm được. Rồi lại còn một lý do nữa. Nó đang đi học tại một trường trung học nông nghiệp. Nó là người lớn tuổi nhất trong chúng tôi. Hôm trước, nó lấy chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ của tôi đã làm cho tôi tức điên lên. Nó không cần biết là tôi cần phải đội mũ, nếu không có mũ thì tôi sẽ rất nhức đầu vì cái nắng oi bức. Nhưng chúng nó đã lấy cái mũ của tôi và chuyền cho nhau, rồi Gabriel còn ném nó lên cho vướng vào một cái cây để bọn con gái rú lên cười, và tôi phải trèo lên cây để lấy trong khi bọn chúng giễu cợt và hát theo kiểu "Dân Paris, đầu con bê".[2]

 

Khi tôi đến đó, Gabriel chỉ có một mình, nó đang làm một cái ná cao su từ nhánh đôi của cây phỉ, để bắn chim chóc, chúng ăn lá non trong đám nương mạ. Tôi ganh tị với nó một chút, vì tôi không được phép làm ná. Nó hỏi tôi các bạn khác đang ở đâu, rồi hình như nó đã nói điều gì đó mà tôi không thích, và chúng tôi đã cãi nhau. Tôi để mặc nó ở đó, và tôi bỏ đi. Tôi vừa bực tức vừa nhảy từng bước dài từ tà vẹt này sang tà vẹt khác ở giữa đường ray. Bỗng dưng từ phía sau, tiếng còi tàu làm tôi giật bắn cả mình, tôi vội vàng tấp vào lề cho tàu chạy qua. Tôi nhìn thấy rất rõ là đầu tàu đã để lại một tàn lửa (ở lò cháy trên tàu) bay ra, tàn nhỏ xiu không đáng gì đang len vào đám cỏ. Nhưng việc đó không làm tôi nhớ đến điều gì cả, và tôi lại muốn đến chỗ khác chơi. Cơn giận của tôi qua đi, ánh nắng làm cho cái đầu của tôi nóng bức và có cái gì đó cứ liên tục kêu vù vù trong tai tôi. Tôi chậm chạp leo lên dốc đến kho thóc nhà Couderc để có chút bóng mát.

 

Tôi đang đứng ở cửa sổ con, chơi trò cao bồi cô đơn, bỗng tôi nhìn thấy khói bốc lên từ bên dưới vùng Prade. Tôi cảm thấy thật thú vị khi nghĩ rằng đó là bọn người da đỏ đang làm tín hiệu bằng khói để lấy da đầu của tôi. Tôi nghe thấy tiếng hô ra trận kinh khiếp của họ. Sau đó là tiếng còi báo cháy và tôi đến xem. Toàn bộ sườn đồi bốc cháy dữ dội ở mép đường ray. Lúc tôi đến thì ba chiếc xe tải đã băng qua cánh đồng để phun nước từ trên cao xuống. Họ không cho tôi đến gần. Tôi thấy họ đang mang ra một hình dạng như hình người gói trong bọc ni lông trên cáng. Lúc đó, tôi đã không đến gần để xem. Tôi đã về nhà. Thi thể trên cáng mà các chú lính cứu hỏa mang ra chính là Gabriel. Bà nội tôi vừa mới nghe một người hàng xóm cho hay. Cô ấy đã thật bàng hoàng kinh hãi. Cô phải đến hỏi thăm gia đình của nó. Phần tôi, tôi không muốn ra bên ngoài. Thật ra, tôi đã tự hỏi đáng lẽ tôi đã phải báo... Nhưng báo cho ai?

 

Ngày tháng trôi qua.

 

Chỉ đến sáng ngày tang lễ, tôi mới thực sự biết và nhận trong tiềm thức rằng Gabriel đã chết trong đám cháy ở vùng Prade. Không phải bị thiêu sống, không đâu: chết ngạt bởi khói nóng bỏng khi ngọn lửa lan đến đã khiến anh ta không có lối thoát lúc trú bên dưới chỗ ẩn của tảng đá. Phía trong nhà thờ thì mát được chút ít, còn có thể chịu được. Nhưng bên ngoài trời vẫn quá oi bức.Tôi đến chào gia đình của Gabriel và chia buồn với họ. Rồi những diễn biến sau đó, nghĩa trang, mọi việc... tôi không còn nhớ gì nữa. Tôi nhớ một cách mơ hồ lúc khai trường trở lại. Hai bên thái dương của tôi vẫn còn nóng hổi, như thể cái đầu của tôi sắp nổ tung, và tôi không muốn đến trường nữa. Bác sĩ cho biết không có máu đông tụ lại hoặc sốt cao. Phim chụp X-quang cũng không có gì bất thường. Cha mẹ tôi đã gửi tôi đến gặp bác sĩ tâm lý.

 

Bác sĩ nói đi nói lại với tôi rằng tôi không hề liên quan gì đến việc đau buồn ấy đối với Gabriel, đó chỉ là do sự cố của xe lửa. Không phải lỗi của tôi, nên tôi không có lý do gì để lương tâm cắn rứt. Với lứa tuổi của tôi, tôi không thể dập được lửa hoặc giúp anh ấy thoát ra khỏi nơi xảy ra tại nan. Và rằng cho dù tôi có thể gọi để mọi người đến ứng cứu, họ cũng sẽ đến quá muộn. Ông cũng nói thêm rằng lý do việc cãi nhau giữa hai đứa cũng không phải là không đáng kể. Rằng tôi phải cố nhớ tại sao chúng tôi lại cãi nhau. Tôi vẫn cố gắng nhớ lại. Hình như là Gabriel đã khoe khoang về cách anh ta thanh toán bọn mèo như thế nào...

 

Nhưng tôi đã không thể nào nhớ nổi. Các bác sĩ sẽ chẳng bao giờ có thể chữa được chứng đau đầu của tôi, cho dù tôi đã phải qua tất cả những việc xét nghiệm cần thiết. Tôi đã quen với bịnh rồi, nếu như ta có thể nói sống với bệnh tật như thế. Thỉnh thoảng tôi lại được chữa theo một phương pháp điều trị mới, nhưng rồi đâu cũng lại vào đó.

 

Mới đây tôi đã trở lại Prade bằng xe hơi. Ngày nay, có một cây cầu đường cao tốc bắc qua đường sắt, và người ta đã xây một bãi đậu xe dọc theo xa lộ ngay chỗ đồng cỏ ngày xưa. Nhưng tôi không có thời gian để dừng lại vì tôi phải uống thuốc. Tôi nghĩ bác sĩ tâm lý đã giải thích rất chính xác: tôi không được để mặc cảm tội lỗi hủy hoại cuộc đời mình. Nhưng rồi, khi tôi có cảm giác nóng rực trong đầu, tôi vẫn nghe thấy tiếng hét thất thanh của Gabriel.

 

JH C

(tháilan dịch)

 

Ghi chú:

 

[1] Causses: Ở vùng Massif Central, phía Nam nước Pháp.

[2] “Parisiens têtes de chiens! Parigots têtes de veaux!”: Bài hát Pháp có vần điệu của trẻ con, để chế giễu. (Parisien, Parigot: người dân Paris).

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
Phế tích của ảo ảnh, nhan đề một tập thơ của nhà thơ Trịnh Y Thư, do Nhà xuất bản Văn Học Press ấn hành năm 2017 tại Hoa Kỳ. Một nhan đề chất chứa không biết mấy lớp không gian và thời gian, không biết mấy thức của cảm xúc; nó như một sợi chỉ mà khi kéo ra chỉ thấy vô tận. Điều gì làm hoang mang và quyến rũ tôi đến vậy? Chữ “Phế tích” tác giả dùng cho “Ảo ảnh” khiến cảm xúc cuốn theo chiều hút của vực thẳm, trong đó nỗi hoài niệm treo lơ lửng trên dốc thời gian, lịch sử và thân phận, như một thách thức...
Chiều thứ Bảy 23 tháng 8 sắp tới đây, chúng ta sẽ được xem màn trình diễn Hợp Xướng "Chinh Phụ Ngâm" lần đầu tiên ở Hoa Kỳ. Nhà hát Rose Center Theater chuyên dùng cho các buổi hoà nhạc hay nhạc kịch ở Quận Cam sẽ là nơi vở hợp xướng trang trọng này được diễn ra. Cùng với màn hợp xướng, Đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng sẽ giới thiệu Chương Trình Ca Vũ Nhạc Kỷ Niệm 50 năm viễn xứ "Cánh cò xa xứ" tại đây. Rất phấn khởi với tin tức này, tôi lại có cơ duyên quen biết và tiếp xúc với Nhạc Sĩ Vũ Đình Ân, tôi tìm gặp ông để tìm hiểu thêm về vở hợp xướng "Chinh Phụ Ngâm".
TÔI LÀ AI? Dường như mãi mãi là một câu hỏi cho cuộc sống của con người tại thế. Và câu trả lời của nó, hẳn nhiên, không thể và không chỉ là một cụm từ, cho dù có thể sâu xa đến đâu. Phùng Thanh Hà, một phụ nữ tôi quen biết, tuy cùng ở một thành phố nhưng phải đánh một vòng đến Thuỵ Sĩ, qua một người bạn (đạo diễn Síu Phạm), tôi mới gặp được cô ấy. Tôi kể điều này để muốn nói rằng, tương ngộ là tuỳ duyên, không chỉ trong các mối quan hệ mà còn là những vấn đề liên quan, những cơ sự sắc tướng hoặc vô sắc tướng nơi mỗi cá nhân.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.