Hôm nay,  

Người trồng rừng

24/08/202217:34:00(Xem: 2848)

Truyện ngắn

photo-1604400557709-fdcfba8ace1a

 

Để khám phá những đức tính thật sự về một con người, phải có được cơ may quan sát hành động của người ấy ròng rã hàng năm trời. Nếu như hành động ấy không màng đến lòng ích kỷ, nếu như tư tưởng điều khiển hành động là cả một tính cao thượng vô biên, nếu như hành động không hề tìm kiếm sự đến đáp ở bất cứ nơi nào, và hơn nữa hành động ấy đã để lại cho đời những dấu ấn thật rõ rệt, thì ta đang đối diện với một tính cách phi thường, không thể nào lãng quên được, và nhận xét này không thể nhầm lẫn.

 

Khoảng chừng hơn bốn mươi năm trước, tôi đã đi bách bộ một quãng đường dài, trên những đỉnh cao vút mà du khách không hề biết đến, trên dãy núi Alpes rất cổ kính, đến tận sâu vùng Provence, ở độ cao khoảng một ngàn ba trăm mét. Chỉ có loại oải hương dại mọc được trên ấy. Tôi đi dọc hết vùng ấy trong ba ngày trời, và đến một nơi vô cùng hoang vu. Tôi đã hết cạn nước từ chiều qua. Ở đây có khoảng năm sáu ngôi nhà không mái, bị gió mưa bào mòn, có một ngôi giáo đường với mái đã sụp, cũng ngay hàng thẳng lối như các ngôi làng có người sinh sống, nhưng ở đây thì chẳng có ma nào.

 

Đó là vào một ngày tháng sáu, nắng lên rực rỡ, nhưng ở mảnh đất khô cằn không nơi trú và cao vút trời xanh, gió đang thổi một cách rùng rợn. Tiếng hú bên trong những xác nhà là tiếng gầm của loài thú dữ bị quấy rầy lúc đang ăn. Tôi phải cuốn gói đi thôi. Đi thêm năm giờ đồng hồ nữa, tôi vẫn không tìm thấy nơi nào có nước, và không có dấu hiệu nào cho tôi hy vọng là sẽ tìm thấy được. Tất cả đều khô cằn, cùng loại cỏ cứng ngắc. Hình như đằng xa kia có hình bóng đen đen của người đang đứng. Tôi nghĩ đó chỉ là một thân cây lẻ loi.

 

Tôi tình cờ tiến bước về phía ấy. Đó là một người chăn cừu. Khoảng độ ba mươi con cừu đang nằm trên nền đất nóng hổi cạnh ông ta. Ông đưa bầu nước cho tôi uống rồi dẫn tôi đến chuồng cừu ở sườn đồi. Ông lấy nước từ một cái hố khá sâu, trên đó là một cái tời rất thô sơ. Ông ta nói rất ít, nhưng rất tự tin. Thật là điều hi hữu ở cái xứ xơ xác trống vắng này. Nhà của ông không phải là căn lều mà là một ngôi nhà thật sự bằng đá, và ta có thể thấy rõ việc ông đã làm là xây lại mọi thứ bên trên sự hoang tàn lúc ông vừa mới đặt chân đến. Mái nhà rất chắc và không thấm nước. Gió đập vào mái ngói như thể tiếng sóng trên bãi biển. Đồ đạc trong nhà rất ngăn nắp thứ tự, chén đĩa rửa dọn sạch sẽ, nền nhà quét sáng bóng, súng thì đã cho dầu mỡ đầy đủ, trên bếp lửa là nồi súp đang sôi; tôi cũng nhận thấy là ông đã cạo râu nhẵn nhụi, nút áo thì may khâu thật chắc chắn, áo quần được vá rất khéo đến nỗi không nhìn thấy chỗ vá. Ông mời tôi ăn súp cùng ông, và khi tôi đưa ông túi thuốc hút của mình thì ông bảo là ông không hút. Tất nhiên là tôi sẽ qua đêm ở đây, vì muốn đến ngôi làng gần nhất thì phải đi thêm ngày rưỡi nữa.

 

Có khoảng bốn hoặc năm ngôi làng rải rác, rất xa nhau trên các sườn đồi. Cư dân là những người tiều phu làm nghề đốt than củi. Nơi đây cuộc sống rất kham khổ. Ai cũng nung nấu ý định sẽ rời khỏi nơi chốn này.

 

Người chăn cừu không hút và đi lấy một cái túi nhỏ rồi đổ từ trong túi ra một mớ hạt sồi. Ông nhìn thật chăm chú vào từng hạt một, để hạt tốt và hạt xấu riêng ra. Tôi hút ống điếu. Tôi hỏi ông có muốn tôi giúp không, ông bảo đó là việc của ông. Thật đúng vậy: khi thấy ông chăm chú làm công việc đó, tôi cũng không nói thêm, và để ông làm. Khi ông đã chọn xong, lại chia ra mười hạt cho mỗi bọc nhỏ. Rồi lại xem cho kỹ lần nữa, và loại những hạt bị sứt một chút. Chỉ khi nào có được một trăm hạt hoàn hảo thì mới ngưng và chúng tôi đi ngủ. Được ở bên cạnh ông cho tôi cảm giác thật bình an. Tôi lại xin phép ông được ở lại thêm ngày mai nữa; ông cho đó là việc tự nhiên thôi, và tôi cảm thấy mình không hề làm phiền ông.

 

Không nhất thiết tôi phải ở lại thêm, nhưng tôi rất kinh ngạc và tò mò muốn hiểu thêm nữa. Sáng hôm sau, ông lùa đàn cừu đến bãi cỏ. Trước khi đi, ông mang bọc hạt sồi nhúng vào một chậu nước và mang theo một thanh cây sắt. Rồi để cho chú chó canh gác đàn cừu, ông bước lên đồi cao; tôi sợ rằng ông sẽ đến chỗ tôi đứng và trách sao tôi lại tò mò như thế, nhưng ông hỏi tôi có muốn đi cùng không nếu tôi không có dự định làm việc khác. Đến khoảng đồi mà ông đã dự tính trước, ông cắm cây sắt xuống, khoét một lỗ, rồi thả hạt sồi xuống, lấp đất lại. Tôi hỏi có phải vùng đất này là của ông không, ông bảo không, ông không biết của ai, có vẻ như là của cộng đồng, ông không quan tâm. Ông trồng một trăm hạt đó một cách thật là chăm chút.

 

Từ ba năm nay ông vẫn lủi thủi đi trồng cây như thế. Đã được một trăm ngàn cây, và hai mươi ngàn đã sống được. Trong số hai mươi ngàn đó, phải tính mất hết một nửa, do bọn gặm nhấm hoặc bất kỳ điều gì có thể xảy ra. Thế thì còn lại mười ngàn cây sẽ lớn lên ở khu đất mà trước đây trụi lủi không có lấy một cành cây nào.

 

Bây giờ tôi mới để ý đến tuổi tác của ông. Có lẽ ông đã ngoài năm mươi, năm mươi lăm, ông bảo. Tên ông là d’Elzéard Bouffier. Ông đã sở hữu một nông trại ở vùng đồng bằng. Ông đã có một cuộc sống đẹp, nhưng rồi cậu con trai duy nhất đã qua đời, rồi đến vợ ông. Ông lui vào sống cuộc đời yên lặng, cô độc với đàn cừu và chú chó. Ông thấy rằng cái xứ này sẽ chết khô vì thiếu cây cối, nên muốn cứu chữa tình thế. Phần tôi, vì cũng đang sống đơn độc cho dù tuổi đời còn non trẻ, nên rất nhạy bén với những tâm hồn lẻ loi. Tôi nói rằng trong ba mươi năm nữa, mười ngàn cây sồi  này sẽ rất tuyệt. Ông chỉ đơn giản trả lời rằng nếu như Trời cho ông sống thêm ba mươi năm nữa, ông sẽ trồng thêm vô số cây, nên mười ngàn cây này sẽ chỉ như giọt nước trong đại dương.

 

Năm sau đó, là trận giặc 1914, Thế chiến Thứ Nhất, và tôi đã gia nhập quân ngũ trong năm năm. Cuộc đời lính tráng khiến tôi không còn nghĩ đến cây cối nữa. Đúng ra tôi xem đó như là một kiểu sưu tập tem thư, và chuyện ấy đã đi vào quên lãng. Khi hết chiến tranh, có lúc tôi ước mong đi hít thở một chút không khí trong lành, và lại trở về nơi chốn hoang vu ngày trước. Vùng ấy vẫn không thay đổi. Nhưng nhìn từ xa tôi thấy như một đám sương mù thật dày bao trùm trên phần núi cao như một tấm thảm. Tối hôm trước, tôi đã nghĩ đến người chăn cừu, người-thợ-trồng-cây ấy: "Mười ngàn cây, thật là một khoảng không gian rộng lớn". Đã quá nhiều người ra đi mãi mãi trước mắt tôi trong vòng năm năm ấy nên tôi không lạ gì khi sẽ biết rằng ông d’Elzéard Bouffier cũng đã khuất núi, hơn nữa, khi mà ta hai mươi tuổi thì ta quan niệm rằng những người năm mươi chỉ là những ông già gần đất xa trời mà thôi.

 

Nhưng ông ta không chết, mà trái lại còn rất mạnh khỏe. Ông đã đổi nghề. Ông không còn sở hữu ba chục con cừu nữa, mà là cả trăm tổ ong. Ông chẳng quan tâm đến giặc giã. Ông vẫn điềm tĩnh tiếp tục công việc trồng cây. Những cây ông trồng vào năm 1910 giờ đây đã 10 tuổi và cao hơn ông và tôi.

 

Quang cảnh thật là ấn tượng. Trong năm năm, bao nhiêu cây sồi lá dài, cây sồi rừng đã cao ngang vai tôi, trải dài ngút ngàn thật là đẹp mắt. Và những khóm cây bu-lô (1) có vẻ như ngày càng lan nhanh ra, nhưng ông không cần để ý, ông chỉ đơn giản tiếp tục công việc của ông.

 

Rồi khi đi xuống bên dưới, tôi nhìn thấy nước chảy ra từ những mạch suối mà trước đó rất khô cằn. Đó là hiện tượng tuyệt vời nhất mà tôi từng được chứng kiến. Tôi có đề cập trước đây về những ngôi làng buồn thảm được xây trên những khu dân cư vào thời cổ xưa đế quốc Gô Loa La Mã mà các nhà khảo cổ học đã nghiên cứu để biết rằng thuở đó dân làng phải sử dụng những bể chứa nước mưa để có nước dùng. Rồi gió cũng đưa một số loại hạt đi khắp nơi, và cùng với sự xuất hiện của nguồn nước, ta thấy nhan nhản nào là liễu rủ, liễu gió, đồng cỏ, vườn tược, hoa lá... Những sự thay đổi ấy diễn ra một cách thanh thản nên dân chúng xem như là đã hiện hữu như thế từ bao đời rồi và cũng không cảm thấy ngạc nhiên. Có những người thợ săn mãi chạy theo thỏ hoặc heo rừng cũng nhận thấy cây cối đã tăng lên nhưng họ cho rằng đó là những điều kỳ diệu của thiên nhiên. Thế nên không một ai đụng đến kiệt tác của người đàn ông tuyệt vời ấy. Nếu họ tỏ ra nghi ngờ thì họ đã làm điều khiến ông phật lòng rồi. Có người nào trong các làng mạc, hoặc trong chính quyền có thể nghĩ đến một đức tính xuất phát từ lòng độ lượng tuyệt vời nhất trên đời ấy không nhỉ?

 

Kể từ năm 1920, tôi thường đến thăm d'Elzéard Bouffier. Tôi chưa bao giờ thấy ông chịu khuất phục hoặc hoài nghi điều gì. Ta có thể hiểu rằng để có được thành công vượt bực như thế, phải chiến thắng mọi thứ vì nỗi đam mê cuồng nhiệt, phải đấu tranh thật nhiều trước nỗi thất vọng. Ông đã trồng hơn mười ngàn cây thích, nhưng chúng đã chết sạch. Năm sau ông đổi sang trồng cây sồi rừng như trước. Ta cũng không nên quên rằng ông đã thực hiện mọi công việc trong một nỗi cô đơn tuyệt đối; tuyệt đối đến nỗi vào giai đoạn cuối đời ông đã mất hẳn thói quen nói chuyện. Hoặc là ông thấy không còn cần thiết để nói nữa?

 

Vào năm 1933, có một nhân viên kiểm lâm đến viếng ông. Anh viên chức này ra lệnh cho ông không được đốt lửa bên ngoài rừng, e rằng sẽ nguy hại đến sự lớn mạnh của khu rừng. Anh nhân viên ngây ngô ấy bảo rằng đây lần đầu tiên anh ta thấy một khu rừng tự nó phát triển cây cối. Vào thời điểm ấy, ông d'Elzéard đi trồng cây cách nhà ông mười hai cây số. Lúc đó ông đã bảy mươi lăm tuổi rồi, nên đã xây một nhà nhỏ bằng đá ngay nơi ông đang trồng trọt.

 

Năm 1935, một phái đoàn của chính quyền đến tham quan khu rừng thiên nhiên. Có cả nhân vật cao cấp của cơ quan Thủy lâm, đại biểu Quốc hội, và các chuyên gia. Họ thuyết trình toàn những lời vô ích. Họ quyết định làm nhiều việc, trong đó chỉ có một việc là có ích: khu rừng sẽ được Chính phủ bảo vệ, và cấm không được đến đốt than ở đó.

 

Tôi có người bạn làm đội trưởng của đám nhân viên Thủy lâm; tôi giải thích cho anh ta về bí mật của khu rừng, và chúng tôi đến thăm d'Elzéard. Anh bạn của tôi biết giá trị của sự việc và bảo ông ấy là một lực sĩ của Trời. Năm 1913, khu này chỉ là một bãi sa mạc. Giờ đây chúng tôi không thốt nên lời khi đứng ngắm toàn bộ cảnh vật. Một khu rừng dày đặc cây cao từ sáu đến bảy thước. Cuộc sống đạm bạc và sự thanh thản bình tâm đã mang lại cho ông cụ một sức khỏe siêu việt.

 

Toàn bộ công trình của ông cụ chỉ trải qua một đợt nguy cơ vào năm giặc giã 1939. Xe cộ chạy bằng ga (2) và dân chúng không đủ củi để dùng. Họ bắt đầu chặt cây sồi từ năm 1910, nhưng vùng đó nằm xa mạng lưới đường sá, nên không mang lại lợi nhuận, và họ đã bỏ dở. Ông già chăn cừu không hề hay biết điều gì. Ông sống cách đó ba mươi cây số, bình thản tiếp tục công việc của mình, không màng đến Thế Chiến thứ Nhì đang diễn ra cũng như trước đó đã không biết đến Thế Chiến Thứ Nhất.

 

Tôi gặp d'Elzéard Bouffier lần cuối vào tháng 6, 1945. Năm đó ông đã tám mươi bảy tuổi. Tôi đi xe đò, và đi ngang những ngôi làng mà tôi thấy rất lạ lẫm, phải nghe chính xác tên ngôi làng thì mới xác nhận đây là nơi tôi đã đến năm xưa; lúc đó chỉ có chừng mươi ngôi nhà, với điều kiện sống rất thảm hại, họ cứ ngày qua ngày lây lất như thế. Nhưng bây giờ mọi thứ đã đổi thay.

 

Những ngôi nhà khang trang mới mẻ, chung quanh là vườn rau trái sum suê, có cả muôn hoa đua nở, hải quỳ, mõm chó… Bây giờ nơi đây đã trở thành một nơi mà ai cũng muốn đến sinh sống.

Đi một đoạn nữa, thì đầy những nông trại với ruộng lúa mạch đen, đại mạch, những cánh đồng cỏ xanh mướt, những con suối với khu rừng sầm uất; qua những cơn mưa và tuyết đổ nay đã có nước róc rách chảy khắp nơi thật xinh đẹp. Và họ đã đào những con kênh dẫn nước đi khắp nơi. Người dân từ những vùng đồng bằng đắt đỏ đã đến đây lập nghiệp, và trên đường làng, đầy dẫy những cánh đàn ông tráng kiện và phụ nữ tươi cười, những đám trẻ xinh xắn khỏe mạnh, mọi người vui chơi trong những lễ hội đồng quê.

 

Nếu như ta so sánh dân số lúc xưa sống cơ cực bần hàn với ngày nay, thì hơn mười ngàn nhân mạng ở nơi đây phải cám ơn d'Elzéard Bouffier đã mang hạnh phúc vô biên đến cho họ. Tôi thầm nghĩ chỉ một con người đơn độc, sống với điều kiện về thể chất và tinh thần rất hạn chế, đã tự mình có thể làm mọc lên một miền Đất Hứa từ sa mạc khô cằn sỏi đá, là một bằng chứng về thân phận làm người thật đáng nể phục, thật diệu kỳ thay!

 

Nhưng khi xét đến phải cần bao sự kiên trì trong tâm hồn cao thượng và sự miệt mài say mê trong tính độ lượng để đạt được thành quả ấy, tôi cảm thấy kính trọng vô hạn người nông dân già nua không có văn hóa ấy, đã hoàn thành xuất sắc công trình vĩ đại mà chỉ có Thượng Đế mới thực hiện được.

 

Elzéard Bouffier đã về trời một cách bình thản năm 1947 ở dưỡng đường Banon.

 

Jean Giono

(Tháilan lược dịch)

 

Ghi chú:

 

(1) Loại cây mọc ở những vùng đất khô cằn, lạnh lẽo, lá nhỏ...

(2) Gazogène: đốt củi để chế biến thành ga.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhà xuất bản của Ocean Vương trên Marketplace cũng như Ocean Vương trên Instagram của mình đã thông báo về cuốn tiểu thuyết mới sẽ được xuất bản vào tháng 6 năm 2025, Emperor of Gladness. “Emperor of Gladness” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của Ocean Vương, “kể về một năm trong cuộc đời của một thanh niên ương ngạnh ở New England, người tình cờ trở thành người chăm sóc cho một góa phụ 82 tuổi bị mất trí nhớ, tạo nên câu chuyện về tình bạn. sự mất mát và mức độ chúng ta sẵn sàng mạo hiểm để đòi hỏi một trong những ân huệ quý giá nhất của cuộc đời: cơ hội thứ hai.”
Tuyển tập “9 Khuôn Mặt: 9 Phong Khí Văn Chương” của Bùi Vĩnh Phúc là những trang sách phê bình văn học độc đáo, nơi đây 9 người cầm bút nổi tiếng của Miền Nam – Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên – được chiếu rọi trên trang giấy rất mực trân trọng, công phu, phức tạp, và nổi bật là kiểu phê bình văn học rất mực thơ mộng của họ Bùi.
Nhận được tin buồn nhà thơ Phan Xuân Sinh sau một cơn bạo bệnh, nhập viện vì bệnh tim mạch, hôn mê sau 10 ngày vô phương cứu chữa đã qua đời tại Texas ngày 28/2/2024. Thọ 76 tuổi...
Từ hồi trẻ, tôi đã có thói quen là những ngày giáp Tết thì bắt đầu chọn một vài bài nhạc xuân để nghe; và trong những ngày đầu năm thì sẽ đọc một cuốn sách. Thói quen “khai sách đầu xuân” có thêm một chi tiết khi tuổi quá độ “ngũ thập nhi tri thiên mệnh”: đọc một cuốn sách có chủ đề về Phật Giáo. Trong năm Giáp Thìn này, tôi chọn cuốn “Từ Mặc Chiếu Đến Như Huyễn” của một tác giả cũng tuổi con rồng: cư sĩ Nguyên Giác, cũng là nhà báo Phan Tấn Hải. Giới thiệu “tác giả, tác phẩm” dài dòng như vậy, nhưng đối với tôi, người viết đơn giản chỉ là anh Hải, một người anh thân thiết, đã từng có một thời ngồi gõ bàn phím chung trong tòa soạn Việt Báo ở phố Moran. Đọc sách của anh Hải, tôi cũng không dám “điểm sách” hay “phê bình sách”, vì có thể sẽ bị anh phán rằng “… viết như cậu thì chỉ… làm phí cây rừng thôi!” Bài viết này chỉ ghi lại một vài niềm hứng khởi khi được tặng sách, khi đọc qua cuốn sách mà cái tựa cũng đã chạm sâu thẳm vào những điều bản thân đang chiêm nghiệm.
Chúng ta thường được nghe nói, rằng mọi người đều bình đẳng trước Thượng Đế. Tuy nhiên, Thượng đế thì không ai thấy, nhưng có một thứ còn đáng sợ hơn nhân vật cổ sử đó (nếu thật sự là có Thượng Đế): đó là những trận mưa bom. Người dân Ukraine và Palestine ý thức rất rõ, vì đó là chuyện hằng ngày của họ: mọi người đều bình đẳng khi đứng dưới mưa bom. Già, trẻ, nam, nữ, trí thức, nông dân, nhà thơ, họa sĩ… đều bình đẳng: khi bom rơi trúng là chết. Cuộc chiến giữa người Palestine muốn giữ đất và người Israel từ nơi xa tới nhận phần đất mới do quốc tế trao tặng từ đất Palestine đã kéo dài nhiều thập niên. Bây giờ căng thẳng mới nhất là ở Gaza, cuộc chiến đang tiếp diễn giữa nhóm Hamas, thành phần chủ trương bạo lực của dân Palestine, và quân Israel. Trong những người chết vì bom Israel, có những người hiền lành nhất, đó là trẻ em và phụ nữ.
Thông thường khi nghe hai chữ “cô đơn” chúng ta liên tưởng đến trạng thái tinh thần yếm thế, tâm tư buồn bã, ngày tháng chán chường, thậm chí, cuộc đời trống rỗng. Có lẽ, vì ý nghĩa từ điển của từ vựng này; có lẽ, vì ảnh hưởng văn chương nghệ thuật; có lẽ vì chúng ta đã từ lâu tin như thế, mà không bao giờ đặt một nghi vấn nào. Đây là định nghĩa của “cô đơn” qua Bách thư toàn khoa Wikipedia: “Cô đơn là một trạng thái cảm xúc phức tạp và thường gây khó chịu, đáp ứng lại với sự cách ly xã hội. Cô đơn thường bao gồm cảm giác lo lắng về sự thiếu kết hợp hay thiếu giao tiếp với những cá nhân khác, cả ở hiện tại cũng như trong tương lai. Như vậy, người ta có thể cảm thấy cô đơn ngay cả khi xung quanh có nhiều người. Nguyên nhân của sự cô đơn rất đa dạng, bao gồm các vấn đề về xã hội, tâm thần, tình cảm và các yếu tố thể chất.
Vào những ngày cuối năm 2023, khi mà người Mỹ bắt đầu chuẩn bị cho những bữa tiệc Giáng Sinh, năm mới, bàn tán chuyện mua sắm, thì chiến sự giữa Isarel và Hamas chưa có dấu hiệu thuyên giảm. Trên vùng đất thánh của cả ba tôn giáo lớn, những kiếp người lầm than chỉ mong có một ngày hòa bình, một ngày không bom đạn. Cũng vào những ngày cuối năm 2023, người Mỹ bắt đầu nhìn thấy một viễn cảnh Ukraine bị bỏ rơi, phải chấp nhận đổi đất lấy hòa bình. Nhiều người Việt cho rằng Ukraine sắp là một Việt Nam Cộng Hòa khác, một đồng minh bị Mỹ bỏ rơi, nhưng sau một thời gian có thể nhanh hơn nhiều.
Vào ngày 6 Tháng 12, giới truyền thông Mỹ đồng loạt đưa tin Taylor Swift, nữ ca nhạc sĩ đầy tài năng, được tạp chí Time vinh danh là “Nhân Vật Của Năm 2023” (Person of The Year). Đây là lần đầu tiên một ca nhạc sĩ được bình chọn danh hiệu giá trị này, càng nhấn mạnh thêm sự thành công và sức ảnh hưởng của cô gái hát nhạc pop-đồng quê. Trước đây, nhiều nhân vật được Time chọn từ năm 1927 là các tổng thống Hoa Kỳ, những nhà hoạt động chính trị lỗi lạc.
Bốn câu thơ này được bố tôi (nhà văn Doãn Quốc Sỹ) ghi lại như một giai thoại văn học, làm lời tựa cho tác phẩm Mình Lại Soi Mình. Bố tôi kể rằng khoảng năm 1984, phong trào vượt biên đang rầm rộ. Một người bạn mới gặp đó, mà hôm sau đã vượt biên rồi! Vào một ngày đẹp trời, bố tôi đạp xe từ Sài Gòn qua Làng Báo Chí bên kia cầu xa lộ để thăm chú Nguyễn Đình Toàn. Đến giữa cầu thì thấy chú đang đạp xe theo chiều ngược lại, cũng định đến thăm mình ở căn nhà hẻm Thành Thái. Hai người bạn gặp nhau giữa cầu. Có lẽ chú Toàn đã nhìn những cánh đồng lúa bên Thủ Thiêm, tức cảnh sinh tình, ngẫu hứng làm ra bốn câu thơ này.
Hôm đó, một chàng đương từ Sài Gòn đạp xe tới thăm bạn ở Làng Báo Chí bên kia cầu xa lộ. Chàng vừa đạp xe tới cầu thì gặp bạn cũng đương từ bên kia cầu phóng sang dự định về Sài Gòn thăm mình...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.