Hôm nay,  

Trận lụt vàng

01/04/202310:40:00(Xem: 3764)
Truyện

reeducationcamps

Bầu không khí trong phòng giam lúc nào cũng ngột ngạt khó chịu. Nỗi khó chịu ấy cứ liên tục bao trùm đến nỗi mọi người phải quen đi như một lẽ tất nhiên. Tôi càng khổ sở hơn nhiều vì đã vướng phải bệnh ghẻ mấy tháng nay. Ghẻ mỗi ngày mỗi lan ra trên tấm thân gầy còm của tôi kéo theo luôn cả sự tàn tạ về sức khỏe. Mới vài hôm đây tôi lại mắc thêm chứng tê bại, cử động tay chân rất khó khăn. Thuốc men quá thiếu, ăn uống cũng quá thiếu, tình trạng chữa trị đối với tôi thật là bi quan.
     Buổi sáng ấy tôi thấy người uể oải, đầu choáng váng, nói không ra hơi, ngột ngạt khó chịu gấp bội ngày thường. Sự khó chịu gia tăng tột mức khiến tôi đã nghĩ rằng đời mình sắp đi đứt. Ở đây đã có mấy người lần lượt "thăng" rồi. Mang một lần hai chứng bệnh, bệnh ghẻ thì chỉ chữa bằng cách xức nước đắng thuốc lào, bệnh tê bại thì chỉ chữa bằng cách tự vận động, tôi thật hoàn toàn tuyệt vọng. Thế là tôi cứ nằm liều, lười luôn cả việc đi cầu đi tiểu. Rõ ràng mình đang ở tình trạng chờ đợi tử thần đến rước. Với sức khỏe mỗi lúc mỗi đuối thêm và sự ngột ngạt khó chịu tột cùng này, có lẽ tôi không thể chịu đựng qua được một vài tiếng nữa. Tôi gọi một thằng bạn thân, thằng Thái lại, trù mở lời trăng trối với nó, nhưng nó nhăn mặt chận họng:
     – Tầm bậy. Sáng nay trời nực nội khó chịu hơn mọi ngày. Ai cũng thấy như vậy cả chứ không phải một mình mày đâu!
     Lúc bấy giờ cơn đau đớn hành hạ quá làm tôi không còn đầu óc nào để ý tới ai. Nghe Thái nói, tôi nghĩ là nó trấn an tôi thôi. Khi tôi đang bị dằn vật bởi cơn đau thì bỗng nghe tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái nhà. Nhiều tiếng reo mừng vang lên:
     – Đã quá! Mưa tới rồi!
     – Mưa lớn lắm anh em ơi!
     Tôi thấy không khí trong phòng đột ngột dịu xuống và như được ai cho uống thuốc tiên, người tôi cũng khỏe ra nhiều. Tiếng mưa nghe rào rào. Thoáng chốc, mọi người trong phòng đều nghe được tiếng nước chảy dữ dội từ các máng xối. Tiếng cóc nhái, tiếng ễnh ương bên ngoài cũng đua nhau trỗi lên. Hơi nước mát bốc vào trong phòng làm cho mọi gương mặt đang khô héo bỗng như tươi lại. Tiếng nói tiếng cười trong phòng trở lên rộn rã... Chúng tôi đang sung sướng thưởng thức cái không khí mát dịu hiếm hoi chưa bao lâu thì giựt mình vì tiếng kêu:
     – Coi chừng nước vô phòng anh em ơi!
     Mọi người nhìn ra. Một đường nước đang từ từ bò qua dưới kẽ tấm cửa bửng bằng sắt. Dòng nước lan lan thật nhanh trên nền phòng. Những người nằm gần cửa vội vã xếp tất cả đồ đạc ôm theo mình. Khiếu và Thái nói với nhau:
     – Đưa thằng Trọng lên cửa sổ kẻo mắc nước bạc bệnh nặng thêm đó!
     Thế là tôi được đẩy lên thành cửa sổ. Bấy giờ người tôi đã khỏe lại, tỉnh lại, nhưng tôi vịn các song sắt cũng khó khăn lắm. Những ngón tay của tôi đều mất cảm giác và rất khó cử động vì chứng tê bại. Không thể tin tưởng ở những ngón tay của mình, tôi phải quài một cánh tay ra ngoài quặp khuỷu kẹp lấy một song cửa dù làm cách này rất mỏi.
Mấy phút sau cả phòng xôn xao chộn rộn hẳn lên. Nước đã vào khắp phòng và từ từ dâng. Mọi người đều phải ôm mang đồ đạc của mình lên cả. Dầu vậy, họ vẫn hớn hở nói cười vì quá lâu họ mới hưởng được một bầu không khí dễ chịu như lúc đó. Một số người không muốn giẫm nước tranh nhau leo lên cửa sổ đeo vịn như tôi. Một số khác không còn chỗ phải chen nhau tránh lên ô vệ sinh (nơi có một bể chứa nước và hai cái cầu tiêu hai đầu, xây cao hơn nền phòng) vì đây là chỗ duy nhất nước chưa lên tới. Nước vẫn tiếp tục dâng đều.
     – Trời ơi! Của quí! Vàng nổi!
     Những người đang ở trên ô vệ sinh bì bõm nhảy xuống dưới trở lại. Theo sau chân họ là từng khúc, từng miếng phân người phát xuất từ miệng hai lỗ cầu cứ từ từ tỏa ra mọi phía. Chúng càng lan rộng càng biến dạng. Từ cửa sổ nhìn xuống tôi tưởng như đám mây lan khi trời sắp mưa. Mọi người cứ xô dạt nhau mà tránh. Nhưng chỉ thoáng chốc là không còn chỗ để tránh nữa vì phân người đã loang ra khắp nơi. Trong khi đó, từ hai lỗ cầu phân người cứ thiên hình vạn trạng tiếp tục trồi lên. Nó trồi lên, trồi lên, trồi lên không dứt khiến tôi phải mỉm cười đau khổ: “Đúng là của trời kho vô tận!” Phân người cứ tiếp tục theo mặt nước lên cao. Bấy giờ thì nỗi vui sướng của mọi người đã qua hẳn nhường chỗ cho nỗi ghê sợ lợm tởm. Phân người đã phủ kín mặt nước. Những người mặc quần dài ban đầu tưởng xắn ống lên là yên, lúc này nước càng lên cao đã làm họ vô cùng lúng túng. Thứ nước này thật đáng sợ. Ngoài phân, váng dơ, lại còn biết bao nhiêu côn trùng ở nước, dòi, kiến cũng xuất hiện khắp nơi. Chúng bò lên chân người, ruồng vào áo quần làm cho ai nấy đều khó chịu. Nước đã lên khỏi đầu gối. Nhiều người sợ dơ quần bấy giờ muốn cởi cũng không được nữa. Người nào người nấy đều phải ôm mang đồ cá nhân muốn luội tay còn làm gì được. Mấy anh sức khỏe không tốt, chân yếu, đứng quá lâu xiêu qua vẹo lại vấp vào người khác làm rơi đồ xuống nước dơ cãi cọ om sòm.
      Thật là hú vía! Tôi gài cánh tay mình vào song cửa, lúc ấy cũng thấy tê cứng nhưng vẫn cứ mừng. Nhờ bệnh mà tôi được lên cửa sổ trước, đồ đạc hoàn toàn không bị dơ và người cũng thoát dầm nước. Nước cứ tiếp tục dâng cao làm cho mọi người càng thêm hoảng vía. Cán bộ trại giam bên ngoài có lẽ giờ này cũng đang lo cứu đồ đạc của họ. Những phòng tù này bị khóa kỹ tới hai lớp cửa họ đâu cần bận tâm! Nếu tình trạng này kéo dài qua đêm thì thật khốn nạn. Nhiều anh em bị thấm nước bắt đầu kêu lạnh. Có vài người đã nổi da gà, run lúi úi. Nước đã lên tới háng mọi người. Người cao dò nhất trong phòng bấy giờ phân dơ cũng đã bám vào quần cả lớp...
     "Bõm!"
     Một luồng nước bắn vọt lên hất bao nhiêu là chất dơ tung tóe tràn đầu tràn mặt mũi những người chung quanh người bị té. Anh Bội, anh bạn tù nhỏ con đang co người vịn trên thành của sổ không hiểu sao lại bị trật tay. Có lẽ do tay anh bị lạnh và tê đi. Tiếng chửi thề lẫn tiếng cười vang lên lộn xộn. Tội nghiệp anh Bội người ướt loi ngoi đứng dậy, toàn thân không một chỗ nào khỏi dính phân. Những người không may đứng quanh đó không ít thì nhiều đều phải chia phần. Anh Bội bất đắc dĩ phải xông pha bì bõm trong nước đầy phân lội vào gần bể nước để tắm giặt. Sau đó anh dùng cái áo ướt để quấn che vừa đủ phần cần thiết của mình...
     May thay, lúc đó tiếng mưa bên ngoài đã giảm. Nước cũng chỉ lên ngần ấy thì ngừng lại rồi bắt đầu rút. Nhiều người cứ nhìn vào ngấn nước ở bốn mặt tường. Nước rút hơi chậm hơn khi tiến vào. Cùng với việc nước rút, một vấn đề cấp bách hiện ra trước mắt mọi người. Khi nước lên, tuy có nhiều phân dơ nhưng nó nổi trên mặt nước, không đặc lắm, cũng dính vào chân mọi người nhưng nhờ nước lõng bõng nên ít thấy khó chịu. Nước rút chừng nào thì phân dơ càng co cụm, đặc quánh lại. Cuối cùng chúng tạo thành một lớp bùn phân sền sệt xập xèo lút quá mắt cá chân thật ghê tởm. Bước một bước rùng mình kinh khủng một bước, nhưng nào ai đứng yên được. Với lượng người quá lớn so với diện tích phòng giam, không mấy chốc cả lớp phân cục bị giẫm nhão ra hết. Chính những cục phân nguyên khi bị bể đã phát ra mùi tanh tưởi nguyên thủy làm cho bao nhiêu người muốn nôn mửa. Tôi may mắn ngồi trên thành cửa sổ nhìn anh em lội cũng phải rùng mình thon thót.
     Ban chỉ huy phòng bắt đầu chia công việc thu dọn. Dụng cụ để xúc hốt không có, chính trưởng buồng và phó buồng đều phải hi sinh cả đồ đựng cơm để anh em xúc vào một cái xô đem đổ trở lại vào cầu tiêu. Số khác thì lo múc nước giội rửa, quét dọn dần. Lúc này ngoài việc giội rửa chung, không ai được quyền dùng nước cho các việc khác. Ba tổ cứ thay phiên nhau gồng mình mà làm. Mọi người vừa đói vừa mệt mỏi vì bữa cơm chiều vẫn vắng vẻ mà thân thể thì mấy tháng nay nằm hoài cũng quen lười. Có lẽ đây là buổi công tác lao động “xã hội chủ nghĩa” tự giác vô tiền khoáng hậu mà những người trong cuộc khó quên được. Nước rút từ buổi tối mà mãi đến khoảng nửa đêm phòng mới tạm sạch. Xong việc chung những người có đồ dơ mới được phép đem giặt rửa. Khi trận lụt đang diễn ra, ít ai để ý đến mùi phân và những phản ứng tự nhiên của mình. Xong việc người ta mới để ý đến từ đầu đến cuối phòng khắp nơi đều có tiếng nôn ọe khậm khạc. Hình như đồ đạc của mọi người đều nhiễm ít nhiều mùi phân, người ta cứ bắt chước nhau ngửi đồ mình rồi khịt mũi lắc đầu. Ai nấy đều dùng đồ riêng lau chùi lại hoặc dùng quạt phất tới tấp cho sàn chóng khô.
     Khoảng một giờ khuya nhà bếp mới mang đồ ăn đến. Anh cán bộ vừa mở cửa liền vọt chạy ra xa, tay dằn ngực, miệng khạc nhổ:
     – Các anh ăn ở dơ dáy quá! Thiếu văn hóa quá!
     Hai anh tù nhà bếp vì bổn phận phải đưa cơm nước vào và thu lại đồ cũ nhưng trông bộ cũng khổ sở lắm. Anh trưởng buồng hỏi:
     – Anh em đói quá rồi! Sao trễ dữ vậy!
     – Thông cảm, phải cố gắng lắm mới có củi nấu đấy! Sao hôi cứt quá chừng vậy mà các anh chịu nổi?
     Anh trưởng buồng kể sơ cho anh nhà bếp nghe việc cầu bị nổi phân, anh tiếp:
     – Anh làm ơn nói với cán bộ xin khoan đóng cửa phòng một chốc cho mùi phân bốc đi bớt có được không? Hôi quá anh em càng sinh bệnh ra đấy!
     – Được, tôi nói cho!
     Anh tù nhà bếp lui ra nói với anh cán bộ:
     – Phòng này cầu tiêu bị nổi phân họ mới dọn xong. Xin cán bộ khoan đóng cửa một chốc để cho mùi phân bốc bớt, xin cán bộ thông cảm cho họ!
     Anh cán bộ lạnh lùng nói:
     – Không được! Mở như thế cho nó thúi cả trại ai mà chịu nổi! Mà mở cửa thì tôi phải đứng đây vừa canh chừng vừa ngửi cứt à? Chìa khóa đây, anh vào đóng khóa lại ngay cho tôi!
 
*
 
Khi chia cơm xong, mọi người đang lần lượt lấy phần mình về bỗng có người rú lên:
     – Thôi chết tôi rồi!
     – Kia kìa! Gớm ghiếc quá chừng!
     Nhiều người xúm lại coi chuyện gì đã xảy ra. Thì ra người ta chợt thấy trong tô cơm độn 80% sắn của anh kia có mấy con dòi đang bò lúc nhúc. Khổ chủ buồn bã định đổ đi thì một người cản lại:
     – Để cho tôi! Hạt ngọc của trời đâu phí được!
     Anh vừa nói vừa cầm lấy cái tô của người bạn lượm mấy con dòi vứt vào bồn cầu rồi úp cái phần cơm ấy vào tô mình. Một anh bạn khác thấy vậy cười hóm hỉnh:
     – Sao lại vứt dòi đi! Dòi mẹ ngon dòi con béo, thêm vitamin mà lị!
     Theo sự xầm xì mà cười với nhau, hình như còn nhiều người nữa phát hiện trong cơm mình có dòi nhưng họ chỉ lặng lẽ lượm dòi vứt đi...
     Sau cơn mưa, không khí trong phòng vẫn tiếp tục mát dịu, lại trải qua một ngày quá mệt mỏi nên đêm đó phần đông anh em ngủ được. Tuy thế, chốc chốc lại có người phải vùng dậy vì dòi chun vào lỗ tai hoặc ruồng vào tóc. Không hiểu chúng núp ở đâu chui ra mà cả đến hàng chục người bị như thế...
     Thế mà đâu đã hết, hai ba ngày sau anh em còn nhiều người vẫn thấy dòi bò bên chân vách hoặc trong đồ đạc của mình.
     Trận lụt ấy xảy ra vào năm 1976 ở trại giam Tân Hiệp Biên Hòa (trại B5). Dù nó không gây thiệt hại nhân mạng hay vật chất nhưng nó cứ ám ảnh tôi mãi. Đã mấy chục năm qua, mỗi khi hồi tưởng lại, tôi vẫn còn rùng mình. Khổ nỗi, lâu lâu nó vẫn tự động đến thăm tôi một lần trong giấc mộng...

 

Ngô Viết Trọng

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
Thế giới đang bùng nổ nhiều cuộc chiến tranh, và đang ngún lửa ở nhiều nơi khác: Trung Đông, Ukraine, Miến Điện, Đài Loan, Biển Đông… Một thời Việt Nam cũng đã trải qua nhiều cuộc binh lửa. Khi đọc kỹ Tam tạng Kinh điển, chúng ta cũng sẽ thấy có những cuộc chiến. Bản thân Đức Phật khi mới lớn cũng học kỹ thuật kiếm cung. Trong nhiều kiếp quá khứ, Đức Phật, khi còn ở cương vị Bồ Tát, cũng đã từng ra trận. Nhiều hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển cũng cho thấy dấu tích chiến tranh: ngựa chiến, voi chiến, áo giáp, mũi tên… Và rồi tận cùng, Đức Phật nói trong Kinh SN45.7 rằng chiến thắng vinh quang nhất chính là nhiếp phục tham, sân, si – nơi đó chính là Niết Bàn. Đó là mặt trận lớn nhất, gian nan nhất.
Vào ngày 6 tháng 12, 2023, nhà thơ, nhà văn, giáo sư văn học và nhà hoạt động xã hội được yêu mến người Palestine Refaat Alareer đã thiệt mạng trong một cuộc không kích từ Israel cùng với người anh, em gái và bốn đứa con của họ. Trong tuần để tang kể từ đó, những lời tri ân dành cho cuộc đời, sự nghiệp viết lách và các hoạt động nghệ thuật tích cực của Alareer đã tràn ngập khắp nơi trên thế giới. Nhiều lời tri ân được đăng cùng với bài thơ cuối cùng “Nếu tôi phải chết” được ông đăng trên Twitter của mình vào ngày 1 tháng 11 năm 2023. Cho đến nay, bài thơ chia tay như một điềm báo đau lòng của Alareer hiện đã được dịch sang hơn 40 thứ tiếng; được đọc trên các sân khấu thế giới và được viết trên các bức tường sân ga tàu điện; được in trên các biểu ngữ, bảng hiệu, cờ và diều, được giương cao trong các cuộc biểu tình đòi ngưng bắn trên khắp thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.