Hôm nay,  

Lá thư gửi Mẹ

13/05/202321:23:00(Xem: 4534)
Tùy bút Mother's Day

vtduong


Mẹ ơi thôi đừng khóc nữa

Cho lòng già nặng sầu thương

Con đi say tình viễn xứ

Đâu có quên tình cố hương

(Lá Thư Gửi Mẹ, thơ Thái Thủy, nhạc Nguyễn Hiền).

 

***

 

Từ nghìn xưa cho tới nay, từ Đông sang Tây, hình bóng người mẹ vô cùng cao quý, thiêng liêng, sự hy sinh vô bờ bến trong tình mẫu tử, với trái tim đầy nhân ái, với tâm hồn cao cả đã in sâu trong lòng người con từ lúc sinh ra cho đến khi lìa đời. Hình bóng đó đã được thể hiện qua thơ, văn, nhạc và trong nhiều lãnh vực khác, không thể nào liệt kê hết trong bao nhiêu tác phẩm của nhân loại.
     Sống trên xứ người, mỗi năm vào dịp Mother’s Day (Ngày Lễ Mẹ) cũng là ngày đáng quý để nhắc nhở đến bậc sinh thành đã “mang nặng đẻ đau” nuôi nấng, dạy dỗ cho con nên người. (Ở Mỹ, ngoài hai ngày Mother’s Day vào Chủ Nhật, tuần lễ thứ hai của tháng 5 và Father’s Day vào Chủ Nhật, tuần lễ thứ ba của tháng 6. Ngoài ra còn có Grandparent’s Day / Ngày Ông Bà. Tổng Thống Jimmy Carter chỉ định Chủ Nhật đầu tiên của tháng 9 là Grandparent’s Day). Với thế hệ thứ hai của chúng ta chỉ nhớ hai ngày trên (Mother’s and Father’s Day) nhưng với thế hệ thứ ba thì chẳng biết gì về Grandparent’s Day.
     Trải qua thời kỳ chiến tranh và giai đoạn phải gánh chịu khó khăn, khổ cực, gia đình tôi may mắn cũng được hưởng chữ “thọ” nên khi các chị mất, con cái đã trưởng thành, trọn tình hiếu nghĩa khi tang lễ, lo mồ yên mả đẹp.
     Mẹ tôi mất năm 1990, hưởng đại thọ 90 tuổi. Gần ba thập niên sau, chị Hai (chị Cả) mất năm 2017, hưởng đại thọ 92 tuổi. Chị Bảy (người chị kế) mất năm 2018, hưởng thọ 78 tuổi). Chị Sáu vừa mất ngày 14/1/2023, hưởng đại thọ 87 tuổi). Nay chỉ còn chị Bốn đã 94 tuổi ở Hội An và chị dâu (vợ anh Năm) đã 90 tuổi, ở Đà Nẵng. (Trong gia đình thường gọi ngôi thứ các anh chị em).
     Với các cháu nội, ngoại đã một thời sống gần gũi với bà đã in đậm hình ảnh cao quý với bao đức tính cao cả nên sau nầy nói rằng mẹ các cháu (kể cả người chị dâu) là bản sao y hệt. Và, với truyền thống của người Việt từ thời xa xưa, hầu như con gái là bản sao chân dung của người mẹ. Qua thơ, văn, nhạc… với hình ảnh đó được đề cập rất nhiều.
     Thời học sinh nơi phố cổ Hội An, tôi đã đọc tập truyện Quê Mẹ của nhà văn Thanh Tịnh (trong tập truyện nầy có truyện ngắn Quê Mẹ và Tôi Đi Học) với Lời Tựa của Thạch Lam. Tập truyện Nhà Mẹ Lê của nhà văn Thạch Lam, ấn hành vào thời tiền chiến. Lòng Mẹ và Tôi Là Mẹ của nhà văn Lê Văn Trương… Những hình ảnh đó đã gợi lòng thương cảm trong tâm hồn tuổi thơ, vô cùng cảm động.
     Nhà văn Mỹ Zora Neale Hurston vào đầu thế kỷ XX đã nói: “Mẹ là người luôn khuyến khích những đứa con của mình hãy bay thật xa. Có thể chúng ta không thành công, nhưng ít nhất bà đã khiến chúng ta nhấc đôi chân của mình lên khỏi mặt đất”. Bà Hurston là văn sĩ người Mỹ nhưng tâm hồn giống như những bà mẹ Việt Nam, không muốn rời nơi chốn, cố hương nhưng mong muốn “những đứa con của mình hãy bay thật xa” để tạo dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.
     Từ hồi còn học sinh, “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” cũng nghịch ngợm, phá phách, nghe nói, có người “méc” cho biết nhưng với tấm lòng bao dung, độ lượng nên không bị quở trách mà còn cho rằng những đứa trẻ nầy lớn lên thường có hiếu. Khi dấn thân vào quân ngũ, nay đây mai đó, không có dịp sống gần gũi với mẹ, thỉnh thoảng mới về thăm mẹ. Đúng vậy, nhà văn Pháp Balzac đã nói: “Trái tim mẹ là vực sâu muôn trượng mà ở dưới đó bạn sẽ luôn tìm thấy sự tha thứ”. Chân dung người mẹ là biểu tượng cao quý của sự hy sinh cao cả và lòng bao dung vô bờ bến.
     Sau tháng Tư năm 1975, tôi ở trong lao tù, mẹ ở nơi xa xôi, không được gặp nhau lần nào, có lẽ mẹ tôi đã khóc rất nhiều cho đứa con trong hoàn cảnh nghiệt ngã! Trong giây phút lâm chung, mẹ tôi mê man, các anh chị bên cạnh, không có tôi, sức mạnh vô hình thiêng liêng phù hộ mẹ tôi mở mắt và hỏi: “Nó đi Mỹ chưa?” Anh chị đành nói dối “Nó đi rồi”, mẹ tôi nhắm mắt, yên tâm vĩnh biệt trần gian! Khi tôi về phục tang trước khi đi Mỹ, nghe những lời cuối cùng, nước mắt lưng tròng! Đây là điều bất hạnh và ân hận trong cuộc đời. Với người mẹ, không nghĩ đến sự sống, chết của bản thân mà suốt đời chỉ quan tâm đến con cái.
     Còn tôi, trong tháng ngày đen tối, không có điều kiện để báo hiếu công ơn dưỡng dục với bậc sinh thành. Không có cái tội nào dày vò canh cánh trong lòng bằng cái tội nghèo cho bản thân và với những người thân! Trong hoàn cảnh đó, chỉ mong có cơ hội “cất cánh bay xa” mong có dịp đến đáp. Nhưng rồi, chỉ còn trong tâm tưởng với hình bóng cao quý nơi cõi thiên thu!
     Với hàng trăm, hàng nghìn câu nói, danh ngôn về người mẹ, nếu chọn lọc và gom lại mới thể hiện được chân dung người mẹ.
     Cảm ơn đất nước Hoa Kỳ với Mother’s Day, nhân đây mới có cơ hội để viết Lá Thư Gửi Mẹ nơi vĩnh hằng.

 

– Vương Trùng Dương

(Little Saigon, Mother’s Day, 2023)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Với lòng kính cẩn và tri ân, xin được cùng hướng về vị Thầy chung của chúng ta: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ, người đã một đời cống hiến cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục và sự tồn vong của Chánh Pháp. Người là bậc Cao tăng, Thạc đức của Phật giáo Việt Nam. Người là hiện thân của Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành. Người là bậc Đại sĩ, bằng bi nguyện và hùng lực đã giữ vững con thuyền Đạo pháp trong lòng Dân tộc. Từ thuở thiếu thời, Người đã bộc lộ tài hoa, cốt cách và phẩm hạnh cao quý của Sa môn. Tuổi ba mươi đã phải khép lại những trang cảo thơm, lên rừng xuống biển, chịu lênh đênh cùng vận nước thăng trầm. Bản án tử hình không khiến Người dao động tâm tư, chỉ làm sáng thêm tinh thần “uy vũ bất năng khuất”. Tù đày và quản thúc không thể thay đổi được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã lựa chọn.
Quán trọ là cõi tạm thế gian. Nẻo về là Niết-bàn lộ. Từ quán trọ đến Niết-bàn, nói xa thì muôn trùng vạn dặm của ba A-tăng-kỳ kiếp, mà nói gần thì chỉ cách nhau trong đường tơ kẽ tóc của một móng tâm. Tâm khởi động thì ở quán trọ. Tâm tịch lặng thì là Niết-bàn. Khi khởi tâm “nhớ nửa cung đàn” thì đang ở quán trọ. Nhưng hãy để ý chữ “nửa cung đàn” là cách ẩn dụ của nhà thơ Tuệ Sỹ. Nó diễn bày một cách tinh tế cảm thức siêu thoát của nhà thơ. Nhớ trọn cung đàn thì đó là thứ nhớ nhung bị vướng lụy của tình cảm phàm tình. Nhớ “nửa cung đàn” thì đó chỉ là dư âm lướt nhẹ qua tâm hồn rỗng lặng như cánh chim bay qua bầu trời xanh không để lại dấu vết gì. Thầy Tuệ Sỹ là người nghệ sĩ siêu thoát, như có lần nhà bình luận văn học Đặng Tiến đã viết về thơ của Thầy trong bài “Âm trầm Tuệ Sỹ”:“Thơ bao giờ cũng phản ảnh ba tính cách: môi trường xã hội trong lịch sử; ngôn ngữ trong những biến chuyển với thời đại; và tác giả, qua đời sống hàng ngày;
“Cụ tượng” – cái tên nghe vừa vụng, vừa ngang. Vụng, vì nó ngắt gọn một cách bất chấp quy phạm. Ngang, vì nó từ chối cả hệ thống gọi tên vốn dĩ đã quá đông đúc của nghệ thuật: nào “trừu tượng”, nào “biểu hiện”, nào “tối giản”. Bùi Chát không tham gia vào cuộc xếp loại ấy, anh chỉ muốn gọi đúng động tác của mình: cụ thể hóa những mảnh hỗn độn mù mờ bên trong.
Tôi không trừu tượng hóa thế giới hiện thực này. Khi vẽ, tôi chỉ cụ thể hóa những trừu tượng luôn có sẵn trong tôi. “Trừu tượng” đối với tôi không phải sự biến dạng hiện thực. Nó vốn tồn tại từ trước, trong những tầng hỗn độn mù mờ bên trong con người. Thứ đó không tên gọi, không hình dáng, như một khối đá chưa được đẽo gọt, một đám mây cuộn không thể nắm bắt. Khi vẽ, tôi chỉ làm công việc duy nhất: kéo nó ra ngoài, trao cho nó một hình thái bằng màu, bằng nét, bằng bố cục.
Mùa Thu ở Seattle hiện tại và mùa Thu ở làng Cau, tỉnh Thái Bình mấy mươi năm về trước cùng bềnh bồng trôi trong trái tim của một người di tản, như những con tằm qua bao bàn tay của người phụ nữ lao động thành tấm áo tơ đẹp như gấm trên nước Trung Hoa… mà người dệt lụa không bao giờ được mặc, và người mặc áo tơ tằm đó cũng không bao giờ biết được công lao và tài hoa của người làm nên sản phẩm quý đó.
Mỗi lần đến thăm, Cụ đều vui vẻ, minh mẫn, kể chuyện xưa, nụ cười hiền hậu và giọng nói ấm áp. Cụ thường bảo: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.” Cái nghiệp dĩ văn chương ấy, với Cụ, là hành trình tu tập – văn là thiền, chữ là tâm. Văn chương Cụ Doãn là cõi thần thoại của chính cuộc đời này: nơi cô bé bán diêm, chú lính chì, hay người tù trong lao lý đều tỏa sáng bằng ánh sáng của lòng người tỉnh thức. Trong Khu Rừng Lau, Cụ từng viết: “Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa…”. Một lời nhắn gửi vượt thời gian – giữa đạo pháp và dân tộc.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17/2/1923 tại Hà Đông, ngoại ô Hà Nội. Thời trẻ, ông theo Việt Minh chống Pháp, nhưng sau khi nhận ra bộ mặt thật của cộng sản, ông đã bỏ về thành. Ông từng học luật và muốn thi làm thẩm phán. Năm 1946, ông kết hôn với cô Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ - Hồ Trọng Hiếu. Đưa gia đình di cư vào nam sau Hiệp định Geneve năm 1954, ông tiếp tục nghề dạy học và sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời Việt Nam Cộng hòa cho đến tháng 4/1975. Ông đã dạy nhiều trường trung học, từ trường Nguyễn Khuyến ở Nam Định, đến Chu Văn An, Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn. Ông cũng là giáo sư của Trường Quốc gia Sư phạm, Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh.
Thế giới sẽ tuyệt vời hơn, nếu những cuộc chiến tranh bỗng nhiên biến mất, để rồi những bất đồng giữa người với người sẽ giảm nhiệt để chỉ còn là những cuộc phản kháng không làm hại ai. Lúc đó, bạn hãy hình dung, cõi này sẽ không cần tới súng đạn hay phi cơ, tàu chiến. Lúc đó, vũ khí phản kháng chỉ còn là thơ, tượng, hình vẽ... Người ta sẽ kể chuyện tiếu lâm, sẽ vẽ tranh hí họa... để chọc quê nhau, giễu cợt nhau. Lúc đó, những tờ giấy trắng và những bức tường sẽ là vũ khí tiềm năng, khi chúng ta viết chữ lên giấy và vẽ lên các bức tường. Đó là những bức tường biết nói. Các họa sĩ đã biến khu phố lịch sử Bo-Kaap của Cape Town thành một cuộc triển lãm nghệ thuật công cộng nhằm thể hiện tình đoàn kết với người Palestine ở Gaza. Dự án mang tên "Tranh tường cho Gaza" (Murals for Gaza) được khởi động vào tháng 12 năm 2023 bởi cư dân địa phương Obeidullah Gierdien.
Từ nhỏ, mẹ tôi đã đọc cho tôi nghe truyện Trương Chi và Mỵ Nương nên tôi biết Trương Chi thổi sáo rất hay. Lớn lên, khi học trung học đệ nhất cấp, tôi nghe được ca khúc “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tronng bài đó, có câu “Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung…” tôi mới biết Trương Chi không thổi sáo mà hát trên sông. Vậy thì tiếng sáo hoặc tiếng ca đã làm Mỵ Nương say đắm? Văn Cao nổi bật với hai ca khúc “Thiên Thai” và “Trương Chi.” Cả hai đều được viết trong dạng truyện với kịch tính. “Trương Chi” là ca khúc có hình thức vừa, nghĩa là có chiều dài giữa ca khúc bình thường và trường ca. Tại sao có kịch tính?
Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc. “Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.