Hôm nay,  

Độc Chiêu Tháng Mười

04/10/200400:00:00(Xem: 5966)
Sau cuộc tranh luận tuần qua, Bush đã để mất ưu thế sẵn có hầu dứt điểm Kerry. Ông chỉ còn hy vọng vào một chiêu bất ngờ trong tháng 10. Mọi người đều nghĩ như vậy... nhưng.
Cho đến nay, Tổng thống Bush chỉ chứng tỏ được một khả năng, là hay bị bất ngờ tại Iraq.
Chính quyền ông có thể đã có kế hoạch lớn cho Iraq và toàn khu vực Trung Đông, nhưng đi vào thực hiện là cứ gặp bất ngờ đầy bất lợi. Một trong những bất ngờ là khả năng tình báo rất kém của CIA và đồng thời một khả năng gây khó rất lớn, cũng của CIA.
Bộ máy an ninh và tình báo của ông không lường trước được sự kháng cự đa diện và bền bỉ của các lực lượng chống đối, khiến chiến thắng quân sự thần tốc vào tháng Tư năm ngoái lại dẫn tới hàng loạt bất ngờ vào tháng Tám, rồi tháng 11, rồi tháng Ba năm nay. Bên trong bộ máy lãnh đạo, những tiết lộ hay tố cáo ngay từ giới chức tình báo ra đã gây thêm khó khăn chính trị cho ông. Cảm quan chung vì vậy vẫn là chính quyền ông thắng trong chiến tranh (công lao của binh sĩ) mà thua trong hoà bình (trách nhiệm của Bush). Lập luận này quá đơn giản nhưng dễ hiểu đối với dân chúng và tất nhiên được Nghị sĩ Kerry triệt để khai thác.
Bất ngờ lớn nhất là ông Bush không thắng trong cuộc tranh luận tuần qua, trên một chủ đề ông được coi là có ưu thế so với đối thủ.
Trong chính trị, ấn tượng có khi quan trọng hơn nội dung, ông Bush không thể không biết điều đó và đã mất cơ hội đẩy mạnh ưu thế đang có – hơn Kerry từ bảy đến 15 điểm – mà trở lại vị trí ngang ngửa của tháng Tám. Về lý luận, Bush vẫn là người có tư tưởng mạch lạc và ý chí vững chắc hơn, nhưng về tâm lý, Kerry có vẻ ôn tồn bình tĩnh hơn và đấy là yếu tố thắng bại của cuộc tranh luận. Vào cuộc tranh luận tối Thứ Ba này, với chủ đề kinh tế xã hội, Bush phải tạo ra phép lạ, là điều rất khó, vì đây là lãnh vực mà đảng Dân chủ vẫn có lợi thế tự nhiên, còn thành tích giảm thuế lẫn cải tổ giáo dục của chính quyền ông vẫn chưa đủ sức thuyết phục.
Vì vậy, ông Bush có thể vẫn thắng, nhưng thay vì với một đa số lớn thì lại rất mong manh và có thể bị tiêu hao nội trong tháng 10 này. Do đó, người ta mới nhớ tới kinh nghiệm đã qua, về một đòn bất ngờ vào tháng 10, ngay trước ngày bầu cử.
Các nhà phân tách đều nói đến giả thuyết “bắt được Osama bin Laden”, gọi tắt là “bất ngờ OBL”. Nhiều người còn suy đoán rằng Bush đã bắt được rồi, nhưng đợi lúc cuối mới loan báo để gây thắng lợi bất ngờ khiến đối thủ trở tay không kịp. Giả thuyết này không đứng vững.
Chính quyền Bush không nắm vững hệ thống tình báo và ngoài nạn du kích tại Iraq còn bị du kích ngay tại Hoa Kỳ, giữa những mâu thuẫn không che giấu nổi giữa bộ Quốc phòng và CIA, đằng sau là bộ Ngoại giao. Chuyện tiết lộ tin tức tình báo xen lẫn những lý luận xuyên tạc là điều đã từng có, cho nên độc chiêu này tất nhiên dễ bị phanh phui từ bên trong và sẽ gây phản tác dụng: nếu tin tiết lộ ra là bin Laden đã bị bắt mà được giấu biến cho tới tháng 10, ông Bush coi như tự sát về chính trị.
Vì vậy, chúng ta phải suy luận rằng Hoa Kỳ chưa bắt được Osama bin Laden hay các phụ tác đắc lực, thí dụ như Ayman al-Zawahiri, nhân vật số hai của al Qaeda, hoặc đệ nhất sát thủ của al Qaeda tại Iraq là Abu Musab al-Zarqawi.
Lúc đó, ta mới nhìn lại một sự việc đã bị cuộc tranh luận khỏa lấp và lại không được truyền thông Mỹ loan báo đầy đủ.
Ngay hôm sau cuộc tranh luận, hôm Thứ Sáu mùng một tháng 10, băng ghi âm tiếng nói của al-Zawahiri đã được hệ thống truyền hình Al Jazeera công bố. Truyền thông Mỹ chỉ tường thuật ngắn gọn, rằng nhân vật số hai của al Qaeda lại kêu gọi tấn công Hoa Kỳ, y như các lần trước. Cứ theo đó, dư luận nghĩ tiếp là al-Zawahiri còn sống và cuộc chiến vẫn tiếp tục, chưa thấy có biến chuyển gì thuận lợi, trong khi Nghị sĩ Kerry lại có sức thuyết phục bất ngờ.
Nội dung và thời điểm của sự việc này thực ra đáng chú ý hơn nhiều.
Trong phong trào Hồi giáo cực đoan, hoạt động khủng bố đòi hỏi bốn năm lớp tổ chức hay thành phần nhân sự khác nhau: thứ nhất là những tay tổ chức và lý luận; thứ hai là hệ thống kết nạp và huấn luyện kẻ thực hiện; thứ ba là những kẻ dám thi hành, bỏ bên ngoài mọi ý niệm về thiện ác thông thường; thứ tư là nhân sự yểm trợ, những kẻ đánh hoả mù gây rối hoặc sách động quần chúng khi thấy có thành quả. Sau cùng là tầng lớp quần chúng u mê, sẵn sàng ngợi ca việc tàn sát và hưởng ứng lời kêu gọi tổng nổi dậy. Al Qaeda (có nghĩa là “căn cứ”, “cơ sở”) và các lãnh tụ như bin Laden hay al-Zawahiri đảm nhiệm hai chức năng trên cùng. Không có họ là khó có phong trào khủng bố mà chỉ có hoạt động phá hoại lẻ tẻ và sẽ tàn lụi dần. Họ là linh hồn và bộ não của phong trào khủng bố. Khi bộ não lên tiếng, như trong cuốn băng ghi âm, ta phải chú ý xem nó chỉ đạo những gì cho ba thành phần còn lại.
Nội dung cho thấy băng này được ghi âm trước băng hình do Al Jazeera công bố hôm mùng chín tháng Chín. Điểm đáng chú ý khác là nó tập trung vào vấn đề Palestine.

Thế giới Tây phương vẫn lầm nặng khi cho rằng khối Hồi giáo rất thiết tha đến chuyện Palestine và khủng bố Hồi giáo sở dĩ bùng nổ vì dân Hồi giáo quan tâm đến số phận của người Palestine. Thực ra, ngần ấy xứ Hồi giáo đều dùng Palestine làm lý cớ đả kích Israel để lấy lòng dân chúng, chứ nội bộ không có lập trường thống nhất về Palestine và chẳng lãnh tụ nào thiết tha đến số phận của dân Palestine. Ngay sau vụ khủng bố 9-11, bin Laden đã xếp chuyện Palestine xuống hạng chót trong các lý do tấn công Hoa Kỳ.
Lãnh tụ al-Zawahiri chỉ nhắc nhở thế giới Hồi giáo, nhất là các thành phần trẻ, là không thể đợi Hoa Kỳ tấn công các nước Hồi giáo khác rồi mới có phản ứng đối kháng với Tây phương. Từ đó, y kêu gọi thanh niên rút tỉa bài học từ Palestine, Chechnya và Iraq để bắt đầu xây dựng một tầng lớp lãnh đạo kháng chiến mới. Tại Palestine, nếu chỉ tấn công Israel không thôi thì chưa đủ, phải tấn công cả Hoa Kỳ lẫn các nước Âu châu và Á châu đang ủng hộ Israel. Tức là lãnh tụ al Qaeda nhấn mạnh rằng cuộc Thánh chiến chống bọn Thiên Chúa giáo Tây phương và bọn Do Thái giáo phải có kích thước toàn cầu, chứ không thu hẹp vào Israel hay Iraq.
Nếu kết luận như đa số truyền thông Hoa Kỳ, rằng al-Zawahiri lại kêu gọi tấn công Mỹ, người ta chưa hiểu ra kích thước vấn đề. Al Qaeda bắt đầu nao núng vì thấy nhiều xứ Hồi giáo - như Syria hay Lebanon - hoặc cả các lãnh tụ chính trị lẫn tôn giáo ôn hoà đang bọc xuôi theo áp lực của Mỹ mà lên tiếng kết án sự ác độc của al Qaeda. Đồng thời, Egypt đã yêu cầu Syria phải giải tỏa mâu thuẫn tại Lebanon, rút bàn tay yểm trợ lực lượng Hezbullah tại đây. Trong khi đó, Liên đoàn Ả Rập cũng đồng ý công nhận Chính phủ Lâm thời của Iyaq Allawi và Lybia hết bị trừng phạt kinh tế.
Trong cuộc tranh luận giữa các xu hướng Hồi giáo, al Qaeda muốn chiếm lại vị trí lãnh đạo, với chủ trương đấu tranh toàn diện, toàn cầu và sắt máu nhất. Al Qaeda muốn là mũi xung kích của Thánh Chiến Hồi giáo giữa sự thoái trào của xu hướng quá khích.
Đó là về nội dung, về thời điểm, người ta cũng thấy có nhiều điều đáng chú ý.
Vì sao băng ghi âm thực hiện sau ngày chín mà đến cuối tháng mới đưa tới Al Jazeera" Có thể vì trở ngại giao liên, do sự theo dõi và truy lùng của Mỹ. Có thể vì hôm 29, đài phát thanh Israel nêu nghi vấn là dường như các đơn vị Pakistan đã bắt được al-Zawahiri nên al Qaeda phải có băng phát thanh để phủ nhận tin này. Có thể là al-Zawahiri cần trấn an dư luận Hồi giáo sau khi hai lãnh tụ của khủng bố Hamas tại Palestine liên tiếp bị Israel hạ sát trong tháng Tư (Sheik Ahmed Yassin rồi người kế vị là Aldel Azi al-Rantissi) và hàng loạt cán bộ al Qaeda đã sa lưới Pakistan trong suốt ba tháng Hè.
Kết hợp cả nội dung lẫn thời điểm, người ta còn chú ý đến một chi tiết không thấy truyền thông Mỹ nhắc tới, đó là lời hiệu triệu của al-Zawahiri:
“Hỡi các thanh niên Hồi giáo... nếu chúng ta bị giết hay bị bắt, hãy quyết chí đi tiếp con đường (Thánh Chiến) sau chúng ta. Đừng phản bội Allah và đấng Tiên tri của Ngài”.
Ayman al-Zawahiri nhắn nhủ thế hệ trẻ là Osama bin Laden và bản thân y có thể bị bắt hay bị giết trong thời gian tới, nhưng không vì vậy mà họ lại được lơi tay súng.
Kết luận: Ngay trước kỳ tranh cử của Mỹ, Osama bin Laden không thể lên tiếng. Al-Zawahiri thay mặt kêu gọi mở rộng Thánh Chiến ra khỏi phạm vi Israel và Iraq, và phải tiếp tục cho dù lãnh tụ còn hay mất. Hai lãnh tụ của al Qaeda biết là con đường Thánh Chiến đang gặp trở ngại, họ bị bao vây và truy lùng rất gắt. Về cả tư tưởng lẫn an ninh bản thân, họ đang bị áp lực rất nặng.
Từ những kết luận đó, nếu ta có nghĩ đến một độc chiêu tháng Mười thì cũng dễ.
Nhưng, nếu nhìn xa hơn một mùa tranh cử, đến cuộc chiến toàn diện và lâu dài chống khủng bố, dường như Hoa Kỳ đang có lợi thế mà có khi sẽ để hụt hoặc không biết khai thác. Vì dư luận lại không thấy vậy mà giới lãnh đạo đang lo tranh cử.
Kinh nghiệm Mậu Thân 68 khiến người ta phải bi quan suy đoán như thế.
Năm đó, Hoa Kỳ cũng có tranh cử và chiến thắng quân sự tại Việt Nam đã được truyền thông và chính giới Mỹ giải thích là một thất bại. Tháng 10 năm 1968, ứng cử viên Hubert Humphrey bên đảng Dân chủ cũng hứa hẹn một giải pháp hòa bình cho Việt Nam; độc chiêu bất ngờ từ phía Richard Nixon là ba ngày trước bầu cử, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trước khoáng đại Quốc hội nhân dịp Quốc khánh Việt Nam (mùng một tháng 11), là Việt Nam Cộng hoà không tham dự hoà đàm, như chính quyền Johnson đã quảng cáo. Triển vọng hoà bình trong tầm tay của phe Dân chủ hóa ra là hão huyền. Nhờ đó, Nixon thắng cử.
Nhưng, dư luận chính giới và truyền thông vẫn cho rằng Hoa Kỳ đang thua và chỉ nói đến chuyện rút, mặc nhiên để mất bốn năm cho Bắc Việt khôi phục lại khả năng, và mở lại các đợt tấn công năm 1972, cũng là một năm tranh cử. Lúc đó, Hoa Kỳ coi như thua.
Cho nên, độc chiêu hay không cũng chỉ là chuyện nhất thời mà thôi...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.