Hôm nay,  

Độc Chiêu Tháng Mười

04/10/200400:00:00(Xem: 5955)
Sau cuộc tranh luận tuần qua, Bush đã để mất ưu thế sẵn có hầu dứt điểm Kerry. Ông chỉ còn hy vọng vào một chiêu bất ngờ trong tháng 10. Mọi người đều nghĩ như vậy... nhưng.
Cho đến nay, Tổng thống Bush chỉ chứng tỏ được một khả năng, là hay bị bất ngờ tại Iraq.
Chính quyền ông có thể đã có kế hoạch lớn cho Iraq và toàn khu vực Trung Đông, nhưng đi vào thực hiện là cứ gặp bất ngờ đầy bất lợi. Một trong những bất ngờ là khả năng tình báo rất kém của CIA và đồng thời một khả năng gây khó rất lớn, cũng của CIA.
Bộ máy an ninh và tình báo của ông không lường trước được sự kháng cự đa diện và bền bỉ của các lực lượng chống đối, khiến chiến thắng quân sự thần tốc vào tháng Tư năm ngoái lại dẫn tới hàng loạt bất ngờ vào tháng Tám, rồi tháng 11, rồi tháng Ba năm nay. Bên trong bộ máy lãnh đạo, những tiết lộ hay tố cáo ngay từ giới chức tình báo ra đã gây thêm khó khăn chính trị cho ông. Cảm quan chung vì vậy vẫn là chính quyền ông thắng trong chiến tranh (công lao của binh sĩ) mà thua trong hoà bình (trách nhiệm của Bush). Lập luận này quá đơn giản nhưng dễ hiểu đối với dân chúng và tất nhiên được Nghị sĩ Kerry triệt để khai thác.
Bất ngờ lớn nhất là ông Bush không thắng trong cuộc tranh luận tuần qua, trên một chủ đề ông được coi là có ưu thế so với đối thủ.
Trong chính trị, ấn tượng có khi quan trọng hơn nội dung, ông Bush không thể không biết điều đó và đã mất cơ hội đẩy mạnh ưu thế đang có – hơn Kerry từ bảy đến 15 điểm – mà trở lại vị trí ngang ngửa của tháng Tám. Về lý luận, Bush vẫn là người có tư tưởng mạch lạc và ý chí vững chắc hơn, nhưng về tâm lý, Kerry có vẻ ôn tồn bình tĩnh hơn và đấy là yếu tố thắng bại của cuộc tranh luận. Vào cuộc tranh luận tối Thứ Ba này, với chủ đề kinh tế xã hội, Bush phải tạo ra phép lạ, là điều rất khó, vì đây là lãnh vực mà đảng Dân chủ vẫn có lợi thế tự nhiên, còn thành tích giảm thuế lẫn cải tổ giáo dục của chính quyền ông vẫn chưa đủ sức thuyết phục.
Vì vậy, ông Bush có thể vẫn thắng, nhưng thay vì với một đa số lớn thì lại rất mong manh và có thể bị tiêu hao nội trong tháng 10 này. Do đó, người ta mới nhớ tới kinh nghiệm đã qua, về một đòn bất ngờ vào tháng 10, ngay trước ngày bầu cử.
Các nhà phân tách đều nói đến giả thuyết “bắt được Osama bin Laden”, gọi tắt là “bất ngờ OBL”. Nhiều người còn suy đoán rằng Bush đã bắt được rồi, nhưng đợi lúc cuối mới loan báo để gây thắng lợi bất ngờ khiến đối thủ trở tay không kịp. Giả thuyết này không đứng vững.
Chính quyền Bush không nắm vững hệ thống tình báo và ngoài nạn du kích tại Iraq còn bị du kích ngay tại Hoa Kỳ, giữa những mâu thuẫn không che giấu nổi giữa bộ Quốc phòng và CIA, đằng sau là bộ Ngoại giao. Chuyện tiết lộ tin tức tình báo xen lẫn những lý luận xuyên tạc là điều đã từng có, cho nên độc chiêu này tất nhiên dễ bị phanh phui từ bên trong và sẽ gây phản tác dụng: nếu tin tiết lộ ra là bin Laden đã bị bắt mà được giấu biến cho tới tháng 10, ông Bush coi như tự sát về chính trị.
Vì vậy, chúng ta phải suy luận rằng Hoa Kỳ chưa bắt được Osama bin Laden hay các phụ tác đắc lực, thí dụ như Ayman al-Zawahiri, nhân vật số hai của al Qaeda, hoặc đệ nhất sát thủ của al Qaeda tại Iraq là Abu Musab al-Zarqawi.
Lúc đó, ta mới nhìn lại một sự việc đã bị cuộc tranh luận khỏa lấp và lại không được truyền thông Mỹ loan báo đầy đủ.
Ngay hôm sau cuộc tranh luận, hôm Thứ Sáu mùng một tháng 10, băng ghi âm tiếng nói của al-Zawahiri đã được hệ thống truyền hình Al Jazeera công bố. Truyền thông Mỹ chỉ tường thuật ngắn gọn, rằng nhân vật số hai của al Qaeda lại kêu gọi tấn công Hoa Kỳ, y như các lần trước. Cứ theo đó, dư luận nghĩ tiếp là al-Zawahiri còn sống và cuộc chiến vẫn tiếp tục, chưa thấy có biến chuyển gì thuận lợi, trong khi Nghị sĩ Kerry lại có sức thuyết phục bất ngờ.
Nội dung và thời điểm của sự việc này thực ra đáng chú ý hơn nhiều.
Trong phong trào Hồi giáo cực đoan, hoạt động khủng bố đòi hỏi bốn năm lớp tổ chức hay thành phần nhân sự khác nhau: thứ nhất là những tay tổ chức và lý luận; thứ hai là hệ thống kết nạp và huấn luyện kẻ thực hiện; thứ ba là những kẻ dám thi hành, bỏ bên ngoài mọi ý niệm về thiện ác thông thường; thứ tư là nhân sự yểm trợ, những kẻ đánh hoả mù gây rối hoặc sách động quần chúng khi thấy có thành quả. Sau cùng là tầng lớp quần chúng u mê, sẵn sàng ngợi ca việc tàn sát và hưởng ứng lời kêu gọi tổng nổi dậy. Al Qaeda (có nghĩa là “căn cứ”, “cơ sở”) và các lãnh tụ như bin Laden hay al-Zawahiri đảm nhiệm hai chức năng trên cùng. Không có họ là khó có phong trào khủng bố mà chỉ có hoạt động phá hoại lẻ tẻ và sẽ tàn lụi dần. Họ là linh hồn và bộ não của phong trào khủng bố. Khi bộ não lên tiếng, như trong cuốn băng ghi âm, ta phải chú ý xem nó chỉ đạo những gì cho ba thành phần còn lại.
Nội dung cho thấy băng này được ghi âm trước băng hình do Al Jazeera công bố hôm mùng chín tháng Chín. Điểm đáng chú ý khác là nó tập trung vào vấn đề Palestine.

Thế giới Tây phương vẫn lầm nặng khi cho rằng khối Hồi giáo rất thiết tha đến chuyện Palestine và khủng bố Hồi giáo sở dĩ bùng nổ vì dân Hồi giáo quan tâm đến số phận của người Palestine. Thực ra, ngần ấy xứ Hồi giáo đều dùng Palestine làm lý cớ đả kích Israel để lấy lòng dân chúng, chứ nội bộ không có lập trường thống nhất về Palestine và chẳng lãnh tụ nào thiết tha đến số phận của dân Palestine. Ngay sau vụ khủng bố 9-11, bin Laden đã xếp chuyện Palestine xuống hạng chót trong các lý do tấn công Hoa Kỳ.
Lãnh tụ al-Zawahiri chỉ nhắc nhở thế giới Hồi giáo, nhất là các thành phần trẻ, là không thể đợi Hoa Kỳ tấn công các nước Hồi giáo khác rồi mới có phản ứng đối kháng với Tây phương. Từ đó, y kêu gọi thanh niên rút tỉa bài học từ Palestine, Chechnya và Iraq để bắt đầu xây dựng một tầng lớp lãnh đạo kháng chiến mới. Tại Palestine, nếu chỉ tấn công Israel không thôi thì chưa đủ, phải tấn công cả Hoa Kỳ lẫn các nước Âu châu và Á châu đang ủng hộ Israel. Tức là lãnh tụ al Qaeda nhấn mạnh rằng cuộc Thánh chiến chống bọn Thiên Chúa giáo Tây phương và bọn Do Thái giáo phải có kích thước toàn cầu, chứ không thu hẹp vào Israel hay Iraq.
Nếu kết luận như đa số truyền thông Hoa Kỳ, rằng al-Zawahiri lại kêu gọi tấn công Mỹ, người ta chưa hiểu ra kích thước vấn đề. Al Qaeda bắt đầu nao núng vì thấy nhiều xứ Hồi giáo - như Syria hay Lebanon - hoặc cả các lãnh tụ chính trị lẫn tôn giáo ôn hoà đang bọc xuôi theo áp lực của Mỹ mà lên tiếng kết án sự ác độc của al Qaeda. Đồng thời, Egypt đã yêu cầu Syria phải giải tỏa mâu thuẫn tại Lebanon, rút bàn tay yểm trợ lực lượng Hezbullah tại đây. Trong khi đó, Liên đoàn Ả Rập cũng đồng ý công nhận Chính phủ Lâm thời của Iyaq Allawi và Lybia hết bị trừng phạt kinh tế.
Trong cuộc tranh luận giữa các xu hướng Hồi giáo, al Qaeda muốn chiếm lại vị trí lãnh đạo, với chủ trương đấu tranh toàn diện, toàn cầu và sắt máu nhất. Al Qaeda muốn là mũi xung kích của Thánh Chiến Hồi giáo giữa sự thoái trào của xu hướng quá khích.
Đó là về nội dung, về thời điểm, người ta cũng thấy có nhiều điều đáng chú ý.
Vì sao băng ghi âm thực hiện sau ngày chín mà đến cuối tháng mới đưa tới Al Jazeera" Có thể vì trở ngại giao liên, do sự theo dõi và truy lùng của Mỹ. Có thể vì hôm 29, đài phát thanh Israel nêu nghi vấn là dường như các đơn vị Pakistan đã bắt được al-Zawahiri nên al Qaeda phải có băng phát thanh để phủ nhận tin này. Có thể là al-Zawahiri cần trấn an dư luận Hồi giáo sau khi hai lãnh tụ của khủng bố Hamas tại Palestine liên tiếp bị Israel hạ sát trong tháng Tư (Sheik Ahmed Yassin rồi người kế vị là Aldel Azi al-Rantissi) và hàng loạt cán bộ al Qaeda đã sa lưới Pakistan trong suốt ba tháng Hè.
Kết hợp cả nội dung lẫn thời điểm, người ta còn chú ý đến một chi tiết không thấy truyền thông Mỹ nhắc tới, đó là lời hiệu triệu của al-Zawahiri:
“Hỡi các thanh niên Hồi giáo... nếu chúng ta bị giết hay bị bắt, hãy quyết chí đi tiếp con đường (Thánh Chiến) sau chúng ta. Đừng phản bội Allah và đấng Tiên tri của Ngài”.
Ayman al-Zawahiri nhắn nhủ thế hệ trẻ là Osama bin Laden và bản thân y có thể bị bắt hay bị giết trong thời gian tới, nhưng không vì vậy mà họ lại được lơi tay súng.
Kết luận: Ngay trước kỳ tranh cử của Mỹ, Osama bin Laden không thể lên tiếng. Al-Zawahiri thay mặt kêu gọi mở rộng Thánh Chiến ra khỏi phạm vi Israel và Iraq, và phải tiếp tục cho dù lãnh tụ còn hay mất. Hai lãnh tụ của al Qaeda biết là con đường Thánh Chiến đang gặp trở ngại, họ bị bao vây và truy lùng rất gắt. Về cả tư tưởng lẫn an ninh bản thân, họ đang bị áp lực rất nặng.
Từ những kết luận đó, nếu ta có nghĩ đến một độc chiêu tháng Mười thì cũng dễ.
Nhưng, nếu nhìn xa hơn một mùa tranh cử, đến cuộc chiến toàn diện và lâu dài chống khủng bố, dường như Hoa Kỳ đang có lợi thế mà có khi sẽ để hụt hoặc không biết khai thác. Vì dư luận lại không thấy vậy mà giới lãnh đạo đang lo tranh cử.
Kinh nghiệm Mậu Thân 68 khiến người ta phải bi quan suy đoán như thế.
Năm đó, Hoa Kỳ cũng có tranh cử và chiến thắng quân sự tại Việt Nam đã được truyền thông và chính giới Mỹ giải thích là một thất bại. Tháng 10 năm 1968, ứng cử viên Hubert Humphrey bên đảng Dân chủ cũng hứa hẹn một giải pháp hòa bình cho Việt Nam; độc chiêu bất ngờ từ phía Richard Nixon là ba ngày trước bầu cử, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố trước khoáng đại Quốc hội nhân dịp Quốc khánh Việt Nam (mùng một tháng 11), là Việt Nam Cộng hoà không tham dự hoà đàm, như chính quyền Johnson đã quảng cáo. Triển vọng hoà bình trong tầm tay của phe Dân chủ hóa ra là hão huyền. Nhờ đó, Nixon thắng cử.
Nhưng, dư luận chính giới và truyền thông vẫn cho rằng Hoa Kỳ đang thua và chỉ nói đến chuyện rút, mặc nhiên để mất bốn năm cho Bắc Việt khôi phục lại khả năng, và mở lại các đợt tấn công năm 1972, cũng là một năm tranh cử. Lúc đó, Hoa Kỳ coi như thua.
Cho nên, độc chiêu hay không cũng chỉ là chuyện nhất thời mà thôi...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.