Hôm nay,  

Thăm Dò Địa Chấn Tay Ba

16/03/200500:00:00(Xem: 5468)
Cùng ngày Quốc hội biểu quyết luật "chống ly khai" để uy hiếp Đài Loan, Bắc Kinh loan tin quốc doanh dầu khí ba nước Phi-Tầu-Việt sẽ liên hợp thăm dò địa chấn ngoài Trung Nam Hải. Khả nghi!
Khởi đầu mọi chuyện là ngôn từ.
Tại vòng cung phía Tây Thái bình dương, Trung Quốc gọi ven biển Đông Bắc Á trùm lên Triều Tiên, Nhật Bản và Đài Loan là Đông hải - biển Đông của họ. Vùng hải phận mà Việt Nam ta gọi là Đông hải, Trung Quốc gọi đó là Trung Nam hải - biển miền Nam của Trung Hoa.
Khởi đầu mọi chuyện cũng vẫn là ngôn từ. Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam được Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa. Sau 600 năm quay mặt vào núi, mấy chục năm nay Bắc Kinh mới nhìn ra biển. Và nhận Tây Sa lẫn Hoàng Sa là của họ. Nhận thôi chưa đủ, còn chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974 và đưa hải quân uy hiếp Tây Sa, hai lần đụng độ với Việt Nam vào các năm 1988, 1992.
Nhờ chiến thắng "mang ý nghĩa lịch sử" của đảng Cộng sản Việt Nam, Hoàng Sa coi như mất đứt vào tay Trung Quốc: chỉ có dân miền Nam mới nhớ thảm kịch 1974, khi Hải quân Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu trong tuyệt vọng để bảo vệ vùng đất này của tổ tiên. Sau đó, Trường Sa coi như cũng sẽ mất - giữa nhiều mất mát khác, có những cái mất không hề được khai báo, trên đất liền hay ngoài biển.
Tại Đông hải, có sáu nước đòi chủ quyền từng phần hay toàn phần của quần đảo Trường Sa. Đó là Brunei, Malaysia, Philippines, Việt Nam, Đài Loan và Trung Quốc. Vì huyền thoại ngoại giao chính trị, "Trung Quốc và Đài Loan là một", nên cái gì của Trung Quốc là của Đài Loan, cái gì của Đài Loan tất nhiên cũng là của Trung Quốc. Trong quan hệ giữa Bắc Kinh và Đài Bắc, ngang qua eo biển Đài Loan, Trường Sa là chuyện nhỏ, sự sống còn của Đài Loan như một thực thể biệt lập với Bắc Kinh mới là chuyện lớn.
Trong quan hệ giữa Bắc Kinh và các nước Đông Nam Á khác, Trường Sa cũng đang thành chuyện nhỏ… nhờ phù phép của Bắc Kinh.
Chính quyền Bắc Kinh, chủ yếu là đảng Cộng sản Trung Quốc, viện dẫn hai lý do để cầm quyền một cách tuyệt đối sau khi cải cách kinh tế, là đem lại áo cơm cho người dân và bảo vệ thanh danh cho tổ quốc, như thu hồi lại Hong Kong rồi Macao và Đài Loan sau này. Lý lẽ áo cơm đang mất dần ý nghĩa vì sự bất mãn của dân chúng gia tăng cùng tệ nạn tham nhũng trong đảng và vì kết quả phát triển rất lệch lạc, đầy bất công. Do đó, lý lẽ quốc gia dân tộc đang trở thành chuyện sinh tử. Khi dân chúng Đài Loan ngày càng thấy rõ vị thế của mình và không hiểu vì sao đời sống và lá phiếu của họ lại do Bắc Kinh quyết định thì xu hướng độc lập hay tự trị của Đài Loan trở thành tất yếu. Đảng Cộng sản Trung Quốc vì vậy không thể để xổng mất Đài Loan. Thế hệ lãnh đạo mới lên cầm quyền cũng vậy, nhất là khi cần lấy lòng quân đội, tướng tá và phe thủ cựu trong đảng, trước viễn ảnh kinh tế và xã hội có thể bị động loạn.
Nhưng nuốt Đài Loan không là chuyện dễ, ít ra trong mươi năm trước mắt. Vì vậy, Quốc hội Bắc Kinh mới thông qua đạo luật chống ly khai, "phản phân liệt pháp" sau khi đã hăm dọa và tiết lộ nhiều lần từ cuối năm ngoái. Đạo luật thực ra chỉ là lối "giơ cao đánh sẽ", hoặc "giơ cao để khỏi đánh", vì đánh chưa nổi. Nói cho nôm na, theo nội dung uyên áo của đạo luật thì "chó sủa chó không cắn". Nếu muốn thống hợp hay thôn tính Đài Loan thì đảng và Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc khỏi cần gần ba ngàn đại biểu Quốc hội cho phép, sau khi tham chiếu và viện dẫn đạo luật! Khi tắt đèn tàn sát dân biểu tình tại Thiên an môn năm 1989, đảng có cần Quốc hội cho phép đâu!
Tuy nhiên, ý chí thì có mà lực chưa tòng tâm. Vả lại, ngoài cái gân gà Đài Loan khó nuốt lại còn hai lớp dù phòng thủ của Hoa Kỳ và Nhật Bản (kể từ năm ngoái).
Mềm thì nắn, rắn thì buông. Nếu có tạm buông thì cũng phải có đôi lời dụ dọa người dân Đài Loan: "không nhắm vào dân mà chỉ nhắm vào các lãnh tụ có ý đồ phân liệt mà thôi."
Ngược lại, ra khỏi Đông hải mà nhìn xuống Trung Nam hải, sự thể coi bộ "mềm" hơn.
Năm 2003, Bắc Kinh ký thỏa ước Hữu nghị và Hợp tác với Hiệp hội ASEAN. Đấy là cường quốc duy nhất ký một văn kiện như vậy với ASEAN, với hàm ý là không xâm lấn hay tấn công nhau, và càng không xen lấn vào nội bộ của nhau. Tháng 11 năm ngoái, khi được mời ký kết Thỏa ước này tại Thượng đỉnh ASEAN ở Vientiane, Úc Đại Lợi từ chối.

Úc chả muốn tấn công nước nào trong khu vực. Với dân số 18 triệu trên một hòn đảo bát ngát như một châu lục, họa có điên người Úc mới tính đến chuyện chiếm đóng và cưu mang vùng đất da vàng, nhiễu nhương và nghèo khổ, ở phía Bắc. Không ký, Úc còn có thể can thiệp khi các nước Đông Nam Á không kiểm soát được lãnh thổ và hải đảo, để khủng bố hay hải tặc hoành hành và gây họa cho mình. Vả lại, Úc còn Minh ước Phòng thủ tay ba (ANZUS) đã ký kết với Hoa Kỳ và Tân Tây Lan.
Đối chiếu như vậy, ta mới nhìn ra những toan tính và ẩn ý khác biệt của Bắc Kinh và Canberra.
Ưu tiên sinh tử của đảng Cộng sản Trung Quốc là Đài Loan, muốn vậy, cần trấn an các nước Đông Nam Á. Vả lại, đây cũng là một khu vực chiến lược trên hai khía cạnh, thứ nhất là dầu khí, thứ hai là kiểm soát luồng chuyển vận hàng hóa từ Tây sang Đông, từ Nam lên Bắc của biển Thái bình.
Dù có ký thỏa ước bất tương xâm và đồng ý với quy tắc hành xử hòa bình do ASEAN đề nghị, Bắc Kinh vẫn có thể phũ tay với từng nước, ngư phủ Việt Nam hiểu ra điều đó khi bị sát hại và vu cho tội là hải tặc, trước sự ậm ự của Hà Nội.
Còn truyện tranh chấp chủ quyền ngoài khơi, trên vùng quần đảo Trường Sa"
Bắc Kinh đề nghị "hãy cùng liên hợp khai thác mà khỏi nói đến chủ quyền, 50 năm nữa chúng ta sẽ xét sau".
Năm 1998, Tổng thống Joseph Estrada tại Philippines đã kêu cứu Hoa Kỳ và yêu cầu Mỹ đứng ra hòa giải mâu thuẫn và xung đột với Bắc Kinh vì tranh chấp Trường Sa sau vụ cụm đá Vành Khăn (Mischief Reef) bị hải quân Trung Quốc thôn tính. Chính quyền của Tổng thống Bill Clinton khéo từ chối: Hoa Kỳ kêu gọi hòa giải nhưng không bênh vực Manila. Lúc đó, cao trào "dân tộc" của Phi mới đòi Mỹ rút khỏi hai căn cứ hải và không quân Subic Bay và Clark Field, ông Clinton đang bận chuyện Iraq, Serbia và Lewinsky!
Biết thân biết phận, Philippines chống không nổi thì nhận lời chia chác.
Đầu tháng Chín năm ngoái, khi thăm viếng Bắc Kinh, Tổng thống Gloria Macapagal-Arroyo đã ký với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào hàng loạt thỏa ước, trong đó có hợp đồng dò kiếm dầu hỏa trên vùng quần đảo Trường Sa. Hai doanh nghiệp nhà nước Philippine National Oil Company (PNOC) và China National Oil Company (CNOO) sẽ hợp tác trong ba năm để nghiên cứu địa chất quanh Trường Sa.
Thực chất thì đây là một dự án địa chất sẽ gây ra địa chấn.
Phía Việt Nam, Hà Nội lên tiếng phản đối hợp đồng. Lý do: gạt ra ngoài các nước liên hệ đến chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Đã là đồng chí thì hiểu nhau ngay. Phải có đấm mõm. Bắc Kinh nhờ Manila mời Việt Nam tham dự, để Hà Nội khỏi mất phần. Kết quả là mùng bảy, Manila loan tin đã ký hợp đồng thăm dò với Hà Nội, mùng 10, Bắc Kinh than phiền về hợp đồng tay đôi ấy, hôm 14 vừa qua, ba công ty quốc doanh loan báo hợp tác tay ba, giữa PNOC của Manila, CNOO của Bắc Kinh và Petro- Vietnam của Hà Nội. Năm 1989, mới thăm dò sơ khởi, thì Bắc Kinh đã thấy khu vực này có trữ lượng khoảng 25 tỷ thước khối khí đốt và 100 tỷ dầu thô. Nếu đào sâu và tìm lâu hơn, con số thực có thể cao gấp bội. Việc thăm dò kỹ thuật vì vậy là cần thiết. Huống hồ việc ấy mặc nhiên loại ra ngoài các công ty "ngoại quốc", như Crestone Energy Corp, công ty Mỹ từng ký kết với Trung Quốc năm 1992.
Nhưng cần thiết hơn nữa là dự án kỹ thuật này sẽ khỏa lấp một vấn đề then chốt: chủ quyền và tỷ lệ quyền lợi.
Nếu như khu vực ấy có dầu hỏa, việc khai thác và chia chác quyền lợi sẽ được quyết định ra sao" Philippines còn có dân chủ và chính quyền còn phải thông báo nội dung các thỏa ước với quốc dân và quốc hội, chứ Việt Nam và Trung Quốc thì không. Tới nay, các hiệp định về biên giới trên biển và trong đất liền mà Hà Nội ký kết với Bắc Kinh vẫn còn là chuyện tối mật làm người dân tối mật. Sau này, chuyện chia chác ấy tại Trường Sa vẫn sẽ là tối mật.
Sau này, trong một thời hạn lâu hơn nữa, khi quốc doanh dầu khí và hải đội của Bắc Kinh đã chiếm thế thượng phong tại Trường Sa, ai dám đặt vấn đề chủ quyền hay quyền lợi với họ" Từ nay đến đó, Trung Quốc thong dong ly gián và đánh tỉa từng nước trong khối ASEAN để củng cố tư thế của họ trên một vùng biển thực ra sinh tử cho Việt Nam.
Chúng ta cứ tưởng rằng vì Hoa Kỳ bận biïu với khủng bố và chuyện Trung Đông Trung Á, Philippines đành phải bọc xuôi theo áp lực của Bắc Kinh và cố vớt vát chừng nào hay chừng đó. Nhưng, biết đâu chừng, "con ngựa chiến thành Troy" của Bắc Kinh, công cụ gây ly gián trong khối ASEAN, lại chẳng là Manila mà chính là Hà Nội"
Phải chăng vì vậy mà đảng ta chỉ phản đối Trung Quốc một cách chiếu lệ và trước sau đi đúng nước cờ phương Bắc.
Kết thúc mọi chuyện cũng vẫn là ngôn từ. "Nhân dân làm chủ": đảng làm tớ. Nhưng làm tớ cho người khác.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.