Hôm nay,  

Thăm Dò Địa Chấn Tay Ba

16/03/200500:00:00(Xem: 5467)
Cùng ngày Quốc hội biểu quyết luật "chống ly khai" để uy hiếp Đài Loan, Bắc Kinh loan tin quốc doanh dầu khí ba nước Phi-Tầu-Việt sẽ liên hợp thăm dò địa chấn ngoài Trung Nam Hải. Khả nghi!
Khởi đầu mọi chuyện là ngôn từ.
Tại vòng cung phía Tây Thái bình dương, Trung Quốc gọi ven biển Đông Bắc Á trùm lên Triều Tiên, Nhật Bản và Đài Loan là Đông hải - biển Đông của họ. Vùng hải phận mà Việt Nam ta gọi là Đông hải, Trung Quốc gọi đó là Trung Nam hải - biển miền Nam của Trung Hoa.
Khởi đầu mọi chuyện cũng vẫn là ngôn từ. Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam được Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa. Sau 600 năm quay mặt vào núi, mấy chục năm nay Bắc Kinh mới nhìn ra biển. Và nhận Tây Sa lẫn Hoàng Sa là của họ. Nhận thôi chưa đủ, còn chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974 và đưa hải quân uy hiếp Tây Sa, hai lần đụng độ với Việt Nam vào các năm 1988, 1992.
Nhờ chiến thắng "mang ý nghĩa lịch sử" của đảng Cộng sản Việt Nam, Hoàng Sa coi như mất đứt vào tay Trung Quốc: chỉ có dân miền Nam mới nhớ thảm kịch 1974, khi Hải quân Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu trong tuyệt vọng để bảo vệ vùng đất này của tổ tiên. Sau đó, Trường Sa coi như cũng sẽ mất - giữa nhiều mất mát khác, có những cái mất không hề được khai báo, trên đất liền hay ngoài biển.
Tại Đông hải, có sáu nước đòi chủ quyền từng phần hay toàn phần của quần đảo Trường Sa. Đó là Brunei, Malaysia, Philippines, Việt Nam, Đài Loan và Trung Quốc. Vì huyền thoại ngoại giao chính trị, "Trung Quốc và Đài Loan là một", nên cái gì của Trung Quốc là của Đài Loan, cái gì của Đài Loan tất nhiên cũng là của Trung Quốc. Trong quan hệ giữa Bắc Kinh và Đài Bắc, ngang qua eo biển Đài Loan, Trường Sa là chuyện nhỏ, sự sống còn của Đài Loan như một thực thể biệt lập với Bắc Kinh mới là chuyện lớn.
Trong quan hệ giữa Bắc Kinh và các nước Đông Nam Á khác, Trường Sa cũng đang thành chuyện nhỏ… nhờ phù phép của Bắc Kinh.
Chính quyền Bắc Kinh, chủ yếu là đảng Cộng sản Trung Quốc, viện dẫn hai lý do để cầm quyền một cách tuyệt đối sau khi cải cách kinh tế, là đem lại áo cơm cho người dân và bảo vệ thanh danh cho tổ quốc, như thu hồi lại Hong Kong rồi Macao và Đài Loan sau này. Lý lẽ áo cơm đang mất dần ý nghĩa vì sự bất mãn của dân chúng gia tăng cùng tệ nạn tham nhũng trong đảng và vì kết quả phát triển rất lệch lạc, đầy bất công. Do đó, lý lẽ quốc gia dân tộc đang trở thành chuyện sinh tử. Khi dân chúng Đài Loan ngày càng thấy rõ vị thế của mình và không hiểu vì sao đời sống và lá phiếu của họ lại do Bắc Kinh quyết định thì xu hướng độc lập hay tự trị của Đài Loan trở thành tất yếu. Đảng Cộng sản Trung Quốc vì vậy không thể để xổng mất Đài Loan. Thế hệ lãnh đạo mới lên cầm quyền cũng vậy, nhất là khi cần lấy lòng quân đội, tướng tá và phe thủ cựu trong đảng, trước viễn ảnh kinh tế và xã hội có thể bị động loạn.
Nhưng nuốt Đài Loan không là chuyện dễ, ít ra trong mươi năm trước mắt. Vì vậy, Quốc hội Bắc Kinh mới thông qua đạo luật chống ly khai, "phản phân liệt pháp" sau khi đã hăm dọa và tiết lộ nhiều lần từ cuối năm ngoái. Đạo luật thực ra chỉ là lối "giơ cao đánh sẽ", hoặc "giơ cao để khỏi đánh", vì đánh chưa nổi. Nói cho nôm na, theo nội dung uyên áo của đạo luật thì "chó sủa chó không cắn". Nếu muốn thống hợp hay thôn tính Đài Loan thì đảng và Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc khỏi cần gần ba ngàn đại biểu Quốc hội cho phép, sau khi tham chiếu và viện dẫn đạo luật! Khi tắt đèn tàn sát dân biểu tình tại Thiên an môn năm 1989, đảng có cần Quốc hội cho phép đâu!
Tuy nhiên, ý chí thì có mà lực chưa tòng tâm. Vả lại, ngoài cái gân gà Đài Loan khó nuốt lại còn hai lớp dù phòng thủ của Hoa Kỳ và Nhật Bản (kể từ năm ngoái).
Mềm thì nắn, rắn thì buông. Nếu có tạm buông thì cũng phải có đôi lời dụ dọa người dân Đài Loan: "không nhắm vào dân mà chỉ nhắm vào các lãnh tụ có ý đồ phân liệt mà thôi."
Ngược lại, ra khỏi Đông hải mà nhìn xuống Trung Nam hải, sự thể coi bộ "mềm" hơn.
Năm 2003, Bắc Kinh ký thỏa ước Hữu nghị và Hợp tác với Hiệp hội ASEAN. Đấy là cường quốc duy nhất ký một văn kiện như vậy với ASEAN, với hàm ý là không xâm lấn hay tấn công nhau, và càng không xen lấn vào nội bộ của nhau. Tháng 11 năm ngoái, khi được mời ký kết Thỏa ước này tại Thượng đỉnh ASEAN ở Vientiane, Úc Đại Lợi từ chối.

Úc chả muốn tấn công nước nào trong khu vực. Với dân số 18 triệu trên một hòn đảo bát ngát như một châu lục, họa có điên người Úc mới tính đến chuyện chiếm đóng và cưu mang vùng đất da vàng, nhiễu nhương và nghèo khổ, ở phía Bắc. Không ký, Úc còn có thể can thiệp khi các nước Đông Nam Á không kiểm soát được lãnh thổ và hải đảo, để khủng bố hay hải tặc hoành hành và gây họa cho mình. Vả lại, Úc còn Minh ước Phòng thủ tay ba (ANZUS) đã ký kết với Hoa Kỳ và Tân Tây Lan.
Đối chiếu như vậy, ta mới nhìn ra những toan tính và ẩn ý khác biệt của Bắc Kinh và Canberra.
Ưu tiên sinh tử của đảng Cộng sản Trung Quốc là Đài Loan, muốn vậy, cần trấn an các nước Đông Nam Á. Vả lại, đây cũng là một khu vực chiến lược trên hai khía cạnh, thứ nhất là dầu khí, thứ hai là kiểm soát luồng chuyển vận hàng hóa từ Tây sang Đông, từ Nam lên Bắc của biển Thái bình.
Dù có ký thỏa ước bất tương xâm và đồng ý với quy tắc hành xử hòa bình do ASEAN đề nghị, Bắc Kinh vẫn có thể phũ tay với từng nước, ngư phủ Việt Nam hiểu ra điều đó khi bị sát hại và vu cho tội là hải tặc, trước sự ậm ự của Hà Nội.
Còn truyện tranh chấp chủ quyền ngoài khơi, trên vùng quần đảo Trường Sa"
Bắc Kinh đề nghị "hãy cùng liên hợp khai thác mà khỏi nói đến chủ quyền, 50 năm nữa chúng ta sẽ xét sau".
Năm 1998, Tổng thống Joseph Estrada tại Philippines đã kêu cứu Hoa Kỳ và yêu cầu Mỹ đứng ra hòa giải mâu thuẫn và xung đột với Bắc Kinh vì tranh chấp Trường Sa sau vụ cụm đá Vành Khăn (Mischief Reef) bị hải quân Trung Quốc thôn tính. Chính quyền của Tổng thống Bill Clinton khéo từ chối: Hoa Kỳ kêu gọi hòa giải nhưng không bênh vực Manila. Lúc đó, cao trào "dân tộc" của Phi mới đòi Mỹ rút khỏi hai căn cứ hải và không quân Subic Bay và Clark Field, ông Clinton đang bận chuyện Iraq, Serbia và Lewinsky!
Biết thân biết phận, Philippines chống không nổi thì nhận lời chia chác.
Đầu tháng Chín năm ngoái, khi thăm viếng Bắc Kinh, Tổng thống Gloria Macapagal-Arroyo đã ký với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào hàng loạt thỏa ước, trong đó có hợp đồng dò kiếm dầu hỏa trên vùng quần đảo Trường Sa. Hai doanh nghiệp nhà nước Philippine National Oil Company (PNOC) và China National Oil Company (CNOO) sẽ hợp tác trong ba năm để nghiên cứu địa chất quanh Trường Sa.
Thực chất thì đây là một dự án địa chất sẽ gây ra địa chấn.
Phía Việt Nam, Hà Nội lên tiếng phản đối hợp đồng. Lý do: gạt ra ngoài các nước liên hệ đến chủ quyền trên quần đảo Trường Sa. Đã là đồng chí thì hiểu nhau ngay. Phải có đấm mõm. Bắc Kinh nhờ Manila mời Việt Nam tham dự, để Hà Nội khỏi mất phần. Kết quả là mùng bảy, Manila loan tin đã ký hợp đồng thăm dò với Hà Nội, mùng 10, Bắc Kinh than phiền về hợp đồng tay đôi ấy, hôm 14 vừa qua, ba công ty quốc doanh loan báo hợp tác tay ba, giữa PNOC của Manila, CNOO của Bắc Kinh và Petro- Vietnam của Hà Nội. Năm 1989, mới thăm dò sơ khởi, thì Bắc Kinh đã thấy khu vực này có trữ lượng khoảng 25 tỷ thước khối khí đốt và 100 tỷ dầu thô. Nếu đào sâu và tìm lâu hơn, con số thực có thể cao gấp bội. Việc thăm dò kỹ thuật vì vậy là cần thiết. Huống hồ việc ấy mặc nhiên loại ra ngoài các công ty "ngoại quốc", như Crestone Energy Corp, công ty Mỹ từng ký kết với Trung Quốc năm 1992.
Nhưng cần thiết hơn nữa là dự án kỹ thuật này sẽ khỏa lấp một vấn đề then chốt: chủ quyền và tỷ lệ quyền lợi.
Nếu như khu vực ấy có dầu hỏa, việc khai thác và chia chác quyền lợi sẽ được quyết định ra sao" Philippines còn có dân chủ và chính quyền còn phải thông báo nội dung các thỏa ước với quốc dân và quốc hội, chứ Việt Nam và Trung Quốc thì không. Tới nay, các hiệp định về biên giới trên biển và trong đất liền mà Hà Nội ký kết với Bắc Kinh vẫn còn là chuyện tối mật làm người dân tối mật. Sau này, chuyện chia chác ấy tại Trường Sa vẫn sẽ là tối mật.
Sau này, trong một thời hạn lâu hơn nữa, khi quốc doanh dầu khí và hải đội của Bắc Kinh đã chiếm thế thượng phong tại Trường Sa, ai dám đặt vấn đề chủ quyền hay quyền lợi với họ" Từ nay đến đó, Trung Quốc thong dong ly gián và đánh tỉa từng nước trong khối ASEAN để củng cố tư thế của họ trên một vùng biển thực ra sinh tử cho Việt Nam.
Chúng ta cứ tưởng rằng vì Hoa Kỳ bận biïu với khủng bố và chuyện Trung Đông Trung Á, Philippines đành phải bọc xuôi theo áp lực của Bắc Kinh và cố vớt vát chừng nào hay chừng đó. Nhưng, biết đâu chừng, "con ngựa chiến thành Troy" của Bắc Kinh, công cụ gây ly gián trong khối ASEAN, lại chẳng là Manila mà chính là Hà Nội"
Phải chăng vì vậy mà đảng ta chỉ phản đối Trung Quốc một cách chiếu lệ và trước sau đi đúng nước cờ phương Bắc.
Kết thúc mọi chuyện cũng vẫn là ngôn từ. "Nhân dân làm chủ": đảng làm tớ. Nhưng làm tớ cho người khác.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.