Hôm nay,  

Mặt Trận Tư Tưởng

16/09/200500:00:00(Xem: 6082)
- Thế kỷ này còn rất trẻ, mới lên năm. Cuộc chiến tư tưởng chống khủng bố Hồi giáo còn trẻ hơn nữa, mới được hai ngày.
Trước Đại hội đồng Liên hiệp quốc trong phiên khoáng đại ngày hôm Thứ Tư 14, Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush đã có một bài diễn văn quan trọng.
Bài diễn văn dài hơn 3.000 chữ, đọc gần nửa tiếng, rất đáng chú ý không ở phần đầu, khi Tổng thống Mỹ phải cám ơn 115 quốc gia và gần một tá tổ chức quốc tế đã đề nghị giúp đỡ Hoa Kỳ sau vụ Katrina, mà ở phần cuối, khi ông nói về tư tưởng và dân chủ trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu.
Ai cũng có thể đồng ý với ông là không thể thắng khủng bố chỉ bằng phương tiện quân sự mà phải chiến thắng trên trận tuyến tư tưởng. Vấn đề là chính quyền của ông và cả xã hội Hoa Kỳ, trước tiên là truyền thông và chính giới Mỹ, quan niệm thế nào về mặt trận tư tưởng ấy" Và nếu có hiểu ra kích thước vấn đề thì có thể kiên trì đấu tranh trong một thế hệ hay không"
Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ là quốc gia rất trẻ, có may mắn là được địa dư bảo vệ nhờ hai đại dương, và được sáng lập bởi những nhân vật xuất chúng, khi họ đề cao tự do và thượng đế, đồng thời giới hạn quyền lực của nhà nước bằng luật pháp công minh. Những yếu tố đặc thù ấy khiến Hoa Kỳ có hai thế kỷ yên bình để phát triển cực nhanh trên một lục địa phì nhiêu bát ngát, trở thành tụ điểm thu hút di dân trên toàn cầu.
Ưu điểm ấy cũng khiến dân Mỹ hồn nhiên tin tưởng vào những giá trị tinh thần của mình mà lầm tưởng rằng mọi quốc gia hay dân tộc trên thế giới đều muốn được như Hoa Kỳ.
Niềm tin ấy là nhược điểm tai hại trong cuộc chiến chống xu hướng cực đoan và vô nhân đạo nhất của Hồi giáo, nhân danh "Thánh chiến" và Thượng đế mà mở ra phong trào khủng bố.
Y như trong nửa thế kỷ Chiến tranh lạnh, suốt ba năm đầu của cuộc chiến chống khủng bố nhân danh Thánh chiến, hệ thống thông tin và tuyên truyền Mỹ cứ cố đề cao tinh thần tự do và bao dung của xã hội Mỹ (hay của "Thế giới Tự do" như tên một tạp chí tuyên truyền của Mỹ thời xưa). Người ta còn trưng bày hình ảnh sinh hoạt thoải mái của dân Hồi giáo trong xã hội Mỹ, tưởng rằng điều ấy có sức thuyết phục rất cao đối với quân khủng bố, hay ít nhất là đối với quần chúng Hồi giáo nói chung. Người Mỹ muốn chứng minh rằng nước Mỹ không kỳ thị, dân Mỹ cởi mở đón nhận người Hồi giáo - hay bất cứ sắc dân nào khác - và tôn trọng tín ngưỡng hay văn hóa của họ.
Đấy là một nhược điểm chết người mà nhiều giới chức ngoại giao Mỹ không hiểu, và dường như truyền thông Mỹ vẫn chưa hiểu vì chỉ quan tâm đến những gì xảy ra trong xã hội Mỹ.
Vấn đề then chốt là trong quốc gia hay xã hội họ đang sinh sống, những người bị áp bức phải có ý thức và nỗ lực đấu tranh ngay ở tại chỗ để tự giải phóng khỏi ách độc tài hay ngu dân của chính trị hay tôn giáo.
Xuyên qua hệ thống thông tin chính thức do chính quyền (Hành pháp và Quốc hội) tài trợ, lối tuyên truyền của Mỹ gây phản tác dụng: hãy cố vượt biên đến Mỹ là sẽ có tất cả, tự do tín ngưỡng, dân chủ chính trị và phồn vinh kinh tế. Nếu chưa vượt biên được thì hãy làm cho xã hội mình cũng cởi mở tự do như xã hội Mỹ!
Vì vậy, các phần tử khôn ngoan trong xã hội bị đàn áp mới gặp sự chọn lựa: hợp tác với tội ác hay tìm đường đi Mỹ, hoặc cho con em sang Mỹ… Những người còn lại thì chỉ thở dài nhìn qua Hoa Kỳ với câu "bên kia sông là ánh mặt trời". Đấy là lý do vì sao Hoa Kỳ yểm trợ các nước mà vẫn không được cảm tình của thiên hạ. Đối với quân khủng bố, hay bọn độc tài, lối tuyên truyền ấy tạo lợi thế rất lớn cho họ vì tạo ra chủ nghĩa phục Mỹ và tinh thần ghét Mỹ.
Chúng ta phải đặt ngược lại vấn đề: trong trận chiến tư tưởng này, đâu là chiến trường và ai là chiến hữu"
Người Mỹ lầm tưởng rằng đây là trận chiến giữa Hồi giáo cực đoan và các giá trị tinh thần của nền dân chủ Tây phương mà Hoa Kỳ là lãnh đạo hay đại diện.
Đây là một sai lầm vì bệnh chủ quan, suy bụng ta ra bụng người, vì cái thói lý luận từ trường hợp của mình ra chuyện thiên hạ. Trong trận chiến này, Hoa Kỳ và Tây phương chỉ nằm ở vùng ngoại vi. Chiến trường là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai xu hướng Hồi giáo, một là xu hướng ôn hòa, có thể là cách tân, đổi mới, hai là một thiểu số cực đoan, cuồng tín và hiếu sát.
Tất nhiên, Hoa Kỳ và các nước dân chủ muốn giúp đỡ xu hướng ôn hòa và đổi mới, nhưng, cái giá phải trả, hay hệ quả phải gỡ cho ra, là xu hướng ấy sẽ bị đối phương kết án là phản đạo, phản quốc, tay sai của Mỹ, trước sự hoài nghi hay cả tin của quần chúng.
Từ khi Hoa Kỳ mở cuộc chiến, hầu hết các nước Hồi giáo ôn hòa đều kín đáo hay công khai hợp tác với Mỹ để diệt trừ khủng bố. Đây là một thắng lợi ngoại giao với cái giá phải trả mà dân Mỹ và cả truyền thông, nhất là truyền thông, lại nhìn không ra: quần chúng Hồi giáo ở dưới e sợ quân khủng bố nhưng không tin và không phục chính quyền của mình vì sự hợp tác ấy! Nhất là khi sự hợp tác ấy lại bị chính giới và truyền thông Mỹ miệt thị, coi thường!
Đối tượng tranh thủ vì vậy không phải là các lãnh tụ, quốc vương hay trưởng lão đang lãnh đạo các nước Hồi giáo, mà là người dân Hồi giáo chân chất ở bên dưới.
Một tiền lệ đã từng xảy ra và nay vẫn còn là thời sự: Hoa Kỳ viện trợ rất nhiều cho các nước Trung Nam Mỹ mà vẫn bị nghi ngờ, thù ghét mỗi khi can thiệp vào châu lục này, dù với thiện chí. Trong khi loại lãnh tụ độc tài và gian xảo như Fidel Castro của Cuba hay Hugo Chavez của Venezuela lại vẫn được quần chúng của họ tha thứ vì là "anh hùng chống Mỹ".
Vấn đề ở đây không phải là người dân các nước trên thế giới ưa thích độc tài hay khủng bố, vấn đề là họ không muốn có cảm giác như bị sai khiến, bị mua chuộc hay bị kiểm soát. Khi không còn gì cả, từ tài sản đến quyền tự do, người ta thường tự an ủi là dù sao vẫn còn bản sắc dân tộc, hay tự chủ dân tộc. Hoa Kỳ càng can thiệp, từ trên xuống, để tìm sự cộng tác của các chính quyền và càng quảng bá nếp sống Mỹ thì càng khiến quần chúng bên dưới tủi thân, khó chịu. Yếu tố tâm lý này là điều gì đó vẫn còn xa lạ với nhiều người Mỹ. Cho nên họ không hiểu vì sao thiện chí của họ vẫn bị nghi ngờ, hoặc chối từ.
Vấn đề ấy lại càng nghiêm trọng hơn khi ta trở lại vai trò của truyền thông, của những nơi tạo ra dư luận. Truyền thông Mỹ có tự do nhất thế giới nhưng lại thuộc loại kém văn hóa hay nghèo tâm lý đến bất ngờ. Sau đây là ba thí dụ gần và xa nhưng rất thời sự.

Thứ nhất, trong vụ Katrina vừa qua, mọi người đều biết là đa số nạn nhân là người da đen, nhưng không do chánh sách kỳ thị màu da của xã hội hay chính quyền sở tại (New Orleans hay tiểu bang Louisiana). Giới chính trị có thể khai thác chuyện ấy vì mục tiêu chính trị cục bộ của họ, nhưng truyền thông Mỹ lại không trình bày sự việc cho chính xác, họ chạy theo tin và đăng tải những lời phát biểu và bình luận thiên lệch mà giật gân đối với dư luận Mỹ.
Nhưng, từ Trung Đông hay Đông Nam Á nhìn qua, người dân Hồi giáo có ấn tượng gì"
Họ nghĩ rằng ngay tại Mỹ, dân da đen còn bị bóc lột, bị khai thác, bị bỏ rơi, nói gì đến thân phận Hồi giáo của họ, ở những nơi xa xăm ngoài nước Mỹ! Đâm ra, lời đề cao quyền tự do và cơ hội thăng tiến trong xã hội Mỹ chỉ là tuyên truyền láo khoét! Binh lính Mỹ đang mất mạng để bình định và phát huy dân chủ cho các nước Hồi giáo, nhưng lại bị đồng bào mình đâm sau lưng, với sự khuếch đại của truyền thông. Đó là thí dụ thứ nhất.
Thí dụ thứ hai là trong cuộc tranh luận về quyền tự do dân sự và vai trò của tôn giáo trong chính trị, phe hữu của Mỹ nhấn mạnh đến Thiên Chúa và kỷ cương, phe tả thì đòi quyền tự do cá nhân chống lại mọi ràng buộc tư tưởng, kể cả tôn giáo. Cuộc tranh luận rất lành mạnh này được thế giới Hồi giáo bên ngoài phán đoán ra sao" Phe khủng bố thì cho rằng chính quyền Bush là công cụ của Thiên Chúa giáo, Hoa Kỳ là đầu sỏ của "Thập tự quân" (như al-Zarqawi nhắc tới ngày 14 vừa qua. Ngược lại dân Hồi giáo nói chung thì thấy nước Mỹ quá tự do phóng túng, tự do phá thai và đồng tính và chẳng còn kỷ cương gì hết! Phe nào cũng tìm thấy ngay trong truyền thông Mỹ những lý lẽ bênh vực lập luận của mình. Những lập trường cực đoan trong cả hai phe tả hữu của Mỹ không hề tiêu biểu cho xã hội này, nhưng chiếm một vị trí quan trọng trên màn ảnh và trang báo Mỹ. Trận chiến tư tưởng của ông Bush bị chọc thủng từ sau lưng vì lối loan tin như vậy.
Thí dụ thứ ba, sát sườn với chuyện khủng bố, là lời tuyên bố hôm 14 của lãnh tụ khủng bố al-Qaeda tại Iraq là Abu Musab al-Zarqawi. Sau một loạt hành vi khủng bố đẫm máu tại Iraq khiến 152 người chết, 500 người bị thương, al-Zarqawi tung ra băng ghi âm tuyên chiến với cộng đồng sắc tộc Shia.
Truyền thông Mỹ lập tức loan tin theo tinh thần là al-Zarqawi đã thống hợp được các khuynh hướng Sunni để trực diện khai chiến với dân Shia trên toàn lãnh thổ Iraq. Sự thật có khi chẳng đơn giản và đen tối như vậy, mà người ta không nhìn ra.
Tại Iraq, bạo động vẫn xảy ra trong khu vực sinh hoạt của tộc Sunni, xuất phát từ ba phe là 1) tàn dư của chế độ Saddam Hussien, 2) xu hướng dân tộc, chống Mỹ can thiệp vào Iraq, 3) các nhóm khủng bố ngoại nhập tự xưng Thánh chiến, do al-Zarqawi điều động. Nếu hai phe đầu ưa dùng phương pháp quân sự thì phe Thánh chiến lại sở trường lối đánh bom tự sát.
Tình hình tại chỗ trong ba tháng qua cho thấy sự rời rạc của hai phe đầu tiên, đi cùng những tính toán của các lãnh tụ Sunni, xem có nên hợp tác và mặc cả với hai sắc tộc còn lại về bản Hiến pháp và tương lai Iraq hay không. Còn lại, chỉ có phe khủng bố ra tay, ngày một ít hơn: suốt ba tháng qua, khủng bố đã 39 lần đánh bom tự sát trong tháng Bảy, 22 lần trong tháng Tám và chỉ có hai lần, rất khốc hại, trong hai tuần đầu của tháng Chín.
Từ việc kiểm điểm này, những kết luận có thể nêu ra là 1) khối Sunni không thống nhất chống Mỹ và chính quyền lâm thời tại Baghdad, 2) phe khủng bố Thánh chiến do al-Zarqawi chỉ huy còn tung hoành với nhịp độ thấp hơn, 3) nhưng với cường độ sát hại cao hơn vì chọn mục tiêu kỹ lưỡng hơn.
Nếu kết hợp điều ấy với tin tức dồn dập về chiến dịch tảo thanh của Liên quân và chính quyền Iraq tại hậu cứ Tall Afar của khủng bố, khiến gần 200 đặc công đã bị loại khỏi vòng chiến, ta có thể kết luận tiếp là al-Zarqawi đang bị đẩy vào thế thủ. Nghĩa là ngược với ấn tượng do truyền thông loan tải là al-Zarqawi thống hợp nỗ lực đấu tranh của cộng đồng Sunni.
Và quan trọng nhất, khi tay khủng bố này hăm dọa các lãnh tụ Sunni là không nên hợp tác với Mỹ, rồi tuyên chiến với dân Shia và đặc công khủng bố của y còn tấn công các văn phòng của Giáo sĩ Muqtada al-Sadr người Shia, giết hại năm người, làm 14 người bị thương, thì ta phải kết luận khác: al-Zarqawi đang tự cô lập trong cộng đồng Sunni, hậu cứ hoạt động cuối cùng của y, và gây căm phẫn cho cộng đồng Shia. Vì sự an toàn của mình, cộng đồng Shia càng hợp tác chặt chẽ hơn với chính quyền và càng bớt chống Mỹ.
Trong trận chiến về tư tưởng, khủng bố "Thánh chiến" đang lui vào thế thủ và mất dần quần chúng. Điều ấy mới giải thích vì sao al-Zarqawi phải tập trung phương tiện, ra tay ít hơn nhưng giết hại nhiều hơn.
Tin tức của truyền thông đại chúng Mỹ không cho ta kết luận ấy! Trong cuộc chiến nhằm tranh thủ quần chúng mà đối phương lại mất quần chúng và tự cô lập thì mình không thể nói là thua được.
Hãy nghĩ rộng ra trận chiến giữa Hoa Kỳ và al-Qaeda: Osama bin Laden muốn huy động thế giới Hồi giáo nổi lên chống Mỹ và lật đổ các chính quyền Hồi giáo ôn hòa. Bốn năm sau, mạng lưới này không tấn công nổi vào lãnh thổ Mỹ và ngay tại vùng đất Mỹ đang gặp khó khăn nhất là Iraq, al-Qaeda đang lui vào thế thủ. Truyền thông Mỹ chỉ loan tin là Baghdad bị đánh bom hai ngày liên tục mà không trình bày nội vụ cho rõ ràng mạch lạc hơn.
Như vậy, làm sao họ có thể hiểu được nội dung thông điệp của Bush: đây là một trận chiến về tư tưởng.
Nhìn về dài thì trên mặt trận tư tưởng này, phe khủng bố cuồng tín có những lý luận rất nghèo nàn và phải hỗ trợ bằng hành động sát nhân. Phe ôn hòa có ưu thế hơn, khi đề nghị hoặc bị ép phải tiến hành những cải cách có lợi cho người dân, cho phụ nữ, miễn là tránh khỏi nhược điểm chết người là bị đồng hóa với "tay sai của Mỹ". Trong tương quan ấy, phe ôn hòa không phải là không có lợi thế.
Chính quyền Hoa Kỳ có thể đã hiểu ra điều ấy khi ông Bush chỉ định một cố vấn thân tín nhất, một phụ nữ, vào vai trò Thứ trưởng Ngoại giao thực chất là đặc trách về thông tin tuyên truyền. Nhưng, cuộc chiến về tư tưởng này mới chỉ mở màn, bà Karen Hughes mới tuyên thệ nhậm chức mươi hôm trước, trong khi truyền thông và chính giới Mỹ thì vẫn nhìn theo nếp cũ, với những sai lầm cũ.
Thí dụ như khi Thủ tướng tân cử của Iraq qua Mỹ năm ngoái cũng nhân Đại hội đồng Liên hiệp quốc thì đã bị phe Nghị sĩ John Kerry gọi là "tay sai của Mỹ", y hệt như lý luận của quân khủng bố. Thành thử, trận chiến tư tưởng mà ông Bush nói đến có khi sẽ phải khởi sự ngay ở nhà, trong xã hội Mỹ.
May ra, một thế hệ nữa, thế giới mới hết khó chịu về nước Mỹ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.