Hôm nay,  

Mặt Trận Tư Tưởng

16/09/200500:00:00(Xem: 6077)
- Thế kỷ này còn rất trẻ, mới lên năm. Cuộc chiến tư tưởng chống khủng bố Hồi giáo còn trẻ hơn nữa, mới được hai ngày.
Trước Đại hội đồng Liên hiệp quốc trong phiên khoáng đại ngày hôm Thứ Tư 14, Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush đã có một bài diễn văn quan trọng.
Bài diễn văn dài hơn 3.000 chữ, đọc gần nửa tiếng, rất đáng chú ý không ở phần đầu, khi Tổng thống Mỹ phải cám ơn 115 quốc gia và gần một tá tổ chức quốc tế đã đề nghị giúp đỡ Hoa Kỳ sau vụ Katrina, mà ở phần cuối, khi ông nói về tư tưởng và dân chủ trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu.
Ai cũng có thể đồng ý với ông là không thể thắng khủng bố chỉ bằng phương tiện quân sự mà phải chiến thắng trên trận tuyến tư tưởng. Vấn đề là chính quyền của ông và cả xã hội Hoa Kỳ, trước tiên là truyền thông và chính giới Mỹ, quan niệm thế nào về mặt trận tư tưởng ấy" Và nếu có hiểu ra kích thước vấn đề thì có thể kiên trì đấu tranh trong một thế hệ hay không"
Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ là quốc gia rất trẻ, có may mắn là được địa dư bảo vệ nhờ hai đại dương, và được sáng lập bởi những nhân vật xuất chúng, khi họ đề cao tự do và thượng đế, đồng thời giới hạn quyền lực của nhà nước bằng luật pháp công minh. Những yếu tố đặc thù ấy khiến Hoa Kỳ có hai thế kỷ yên bình để phát triển cực nhanh trên một lục địa phì nhiêu bát ngát, trở thành tụ điểm thu hút di dân trên toàn cầu.
Ưu điểm ấy cũng khiến dân Mỹ hồn nhiên tin tưởng vào những giá trị tinh thần của mình mà lầm tưởng rằng mọi quốc gia hay dân tộc trên thế giới đều muốn được như Hoa Kỳ.
Niềm tin ấy là nhược điểm tai hại trong cuộc chiến chống xu hướng cực đoan và vô nhân đạo nhất của Hồi giáo, nhân danh "Thánh chiến" và Thượng đế mà mở ra phong trào khủng bố.
Y như trong nửa thế kỷ Chiến tranh lạnh, suốt ba năm đầu của cuộc chiến chống khủng bố nhân danh Thánh chiến, hệ thống thông tin và tuyên truyền Mỹ cứ cố đề cao tinh thần tự do và bao dung của xã hội Mỹ (hay của "Thế giới Tự do" như tên một tạp chí tuyên truyền của Mỹ thời xưa). Người ta còn trưng bày hình ảnh sinh hoạt thoải mái của dân Hồi giáo trong xã hội Mỹ, tưởng rằng điều ấy có sức thuyết phục rất cao đối với quân khủng bố, hay ít nhất là đối với quần chúng Hồi giáo nói chung. Người Mỹ muốn chứng minh rằng nước Mỹ không kỳ thị, dân Mỹ cởi mở đón nhận người Hồi giáo - hay bất cứ sắc dân nào khác - và tôn trọng tín ngưỡng hay văn hóa của họ.
Đấy là một nhược điểm chết người mà nhiều giới chức ngoại giao Mỹ không hiểu, và dường như truyền thông Mỹ vẫn chưa hiểu vì chỉ quan tâm đến những gì xảy ra trong xã hội Mỹ.
Vấn đề then chốt là trong quốc gia hay xã hội họ đang sinh sống, những người bị áp bức phải có ý thức và nỗ lực đấu tranh ngay ở tại chỗ để tự giải phóng khỏi ách độc tài hay ngu dân của chính trị hay tôn giáo.
Xuyên qua hệ thống thông tin chính thức do chính quyền (Hành pháp và Quốc hội) tài trợ, lối tuyên truyền của Mỹ gây phản tác dụng: hãy cố vượt biên đến Mỹ là sẽ có tất cả, tự do tín ngưỡng, dân chủ chính trị và phồn vinh kinh tế. Nếu chưa vượt biên được thì hãy làm cho xã hội mình cũng cởi mở tự do như xã hội Mỹ!
Vì vậy, các phần tử khôn ngoan trong xã hội bị đàn áp mới gặp sự chọn lựa: hợp tác với tội ác hay tìm đường đi Mỹ, hoặc cho con em sang Mỹ… Những người còn lại thì chỉ thở dài nhìn qua Hoa Kỳ với câu "bên kia sông là ánh mặt trời". Đấy là lý do vì sao Hoa Kỳ yểm trợ các nước mà vẫn không được cảm tình của thiên hạ. Đối với quân khủng bố, hay bọn độc tài, lối tuyên truyền ấy tạo lợi thế rất lớn cho họ vì tạo ra chủ nghĩa phục Mỹ và tinh thần ghét Mỹ.
Chúng ta phải đặt ngược lại vấn đề: trong trận chiến tư tưởng này, đâu là chiến trường và ai là chiến hữu"
Người Mỹ lầm tưởng rằng đây là trận chiến giữa Hồi giáo cực đoan và các giá trị tinh thần của nền dân chủ Tây phương mà Hoa Kỳ là lãnh đạo hay đại diện.
Đây là một sai lầm vì bệnh chủ quan, suy bụng ta ra bụng người, vì cái thói lý luận từ trường hợp của mình ra chuyện thiên hạ. Trong trận chiến này, Hoa Kỳ và Tây phương chỉ nằm ở vùng ngoại vi. Chiến trường là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai xu hướng Hồi giáo, một là xu hướng ôn hòa, có thể là cách tân, đổi mới, hai là một thiểu số cực đoan, cuồng tín và hiếu sát.
Tất nhiên, Hoa Kỳ và các nước dân chủ muốn giúp đỡ xu hướng ôn hòa và đổi mới, nhưng, cái giá phải trả, hay hệ quả phải gỡ cho ra, là xu hướng ấy sẽ bị đối phương kết án là phản đạo, phản quốc, tay sai của Mỹ, trước sự hoài nghi hay cả tin của quần chúng.
Từ khi Hoa Kỳ mở cuộc chiến, hầu hết các nước Hồi giáo ôn hòa đều kín đáo hay công khai hợp tác với Mỹ để diệt trừ khủng bố. Đây là một thắng lợi ngoại giao với cái giá phải trả mà dân Mỹ và cả truyền thông, nhất là truyền thông, lại nhìn không ra: quần chúng Hồi giáo ở dưới e sợ quân khủng bố nhưng không tin và không phục chính quyền của mình vì sự hợp tác ấy! Nhất là khi sự hợp tác ấy lại bị chính giới và truyền thông Mỹ miệt thị, coi thường!
Đối tượng tranh thủ vì vậy không phải là các lãnh tụ, quốc vương hay trưởng lão đang lãnh đạo các nước Hồi giáo, mà là người dân Hồi giáo chân chất ở bên dưới.
Một tiền lệ đã từng xảy ra và nay vẫn còn là thời sự: Hoa Kỳ viện trợ rất nhiều cho các nước Trung Nam Mỹ mà vẫn bị nghi ngờ, thù ghét mỗi khi can thiệp vào châu lục này, dù với thiện chí. Trong khi loại lãnh tụ độc tài và gian xảo như Fidel Castro của Cuba hay Hugo Chavez của Venezuela lại vẫn được quần chúng của họ tha thứ vì là "anh hùng chống Mỹ".
Vấn đề ở đây không phải là người dân các nước trên thế giới ưa thích độc tài hay khủng bố, vấn đề là họ không muốn có cảm giác như bị sai khiến, bị mua chuộc hay bị kiểm soát. Khi không còn gì cả, từ tài sản đến quyền tự do, người ta thường tự an ủi là dù sao vẫn còn bản sắc dân tộc, hay tự chủ dân tộc. Hoa Kỳ càng can thiệp, từ trên xuống, để tìm sự cộng tác của các chính quyền và càng quảng bá nếp sống Mỹ thì càng khiến quần chúng bên dưới tủi thân, khó chịu. Yếu tố tâm lý này là điều gì đó vẫn còn xa lạ với nhiều người Mỹ. Cho nên họ không hiểu vì sao thiện chí của họ vẫn bị nghi ngờ, hoặc chối từ.
Vấn đề ấy lại càng nghiêm trọng hơn khi ta trở lại vai trò của truyền thông, của những nơi tạo ra dư luận. Truyền thông Mỹ có tự do nhất thế giới nhưng lại thuộc loại kém văn hóa hay nghèo tâm lý đến bất ngờ. Sau đây là ba thí dụ gần và xa nhưng rất thời sự.

Thứ nhất, trong vụ Katrina vừa qua, mọi người đều biết là đa số nạn nhân là người da đen, nhưng không do chánh sách kỳ thị màu da của xã hội hay chính quyền sở tại (New Orleans hay tiểu bang Louisiana). Giới chính trị có thể khai thác chuyện ấy vì mục tiêu chính trị cục bộ của họ, nhưng truyền thông Mỹ lại không trình bày sự việc cho chính xác, họ chạy theo tin và đăng tải những lời phát biểu và bình luận thiên lệch mà giật gân đối với dư luận Mỹ.
Nhưng, từ Trung Đông hay Đông Nam Á nhìn qua, người dân Hồi giáo có ấn tượng gì"
Họ nghĩ rằng ngay tại Mỹ, dân da đen còn bị bóc lột, bị khai thác, bị bỏ rơi, nói gì đến thân phận Hồi giáo của họ, ở những nơi xa xăm ngoài nước Mỹ! Đâm ra, lời đề cao quyền tự do và cơ hội thăng tiến trong xã hội Mỹ chỉ là tuyên truyền láo khoét! Binh lính Mỹ đang mất mạng để bình định và phát huy dân chủ cho các nước Hồi giáo, nhưng lại bị đồng bào mình đâm sau lưng, với sự khuếch đại của truyền thông. Đó là thí dụ thứ nhất.
Thí dụ thứ hai là trong cuộc tranh luận về quyền tự do dân sự và vai trò của tôn giáo trong chính trị, phe hữu của Mỹ nhấn mạnh đến Thiên Chúa và kỷ cương, phe tả thì đòi quyền tự do cá nhân chống lại mọi ràng buộc tư tưởng, kể cả tôn giáo. Cuộc tranh luận rất lành mạnh này được thế giới Hồi giáo bên ngoài phán đoán ra sao" Phe khủng bố thì cho rằng chính quyền Bush là công cụ của Thiên Chúa giáo, Hoa Kỳ là đầu sỏ của "Thập tự quân" (như al-Zarqawi nhắc tới ngày 14 vừa qua. Ngược lại dân Hồi giáo nói chung thì thấy nước Mỹ quá tự do phóng túng, tự do phá thai và đồng tính và chẳng còn kỷ cương gì hết! Phe nào cũng tìm thấy ngay trong truyền thông Mỹ những lý lẽ bênh vực lập luận của mình. Những lập trường cực đoan trong cả hai phe tả hữu của Mỹ không hề tiêu biểu cho xã hội này, nhưng chiếm một vị trí quan trọng trên màn ảnh và trang báo Mỹ. Trận chiến tư tưởng của ông Bush bị chọc thủng từ sau lưng vì lối loan tin như vậy.
Thí dụ thứ ba, sát sườn với chuyện khủng bố, là lời tuyên bố hôm 14 của lãnh tụ khủng bố al-Qaeda tại Iraq là Abu Musab al-Zarqawi. Sau một loạt hành vi khủng bố đẫm máu tại Iraq khiến 152 người chết, 500 người bị thương, al-Zarqawi tung ra băng ghi âm tuyên chiến với cộng đồng sắc tộc Shia.
Truyền thông Mỹ lập tức loan tin theo tinh thần là al-Zarqawi đã thống hợp được các khuynh hướng Sunni để trực diện khai chiến với dân Shia trên toàn lãnh thổ Iraq. Sự thật có khi chẳng đơn giản và đen tối như vậy, mà người ta không nhìn ra.
Tại Iraq, bạo động vẫn xảy ra trong khu vực sinh hoạt của tộc Sunni, xuất phát từ ba phe là 1) tàn dư của chế độ Saddam Hussien, 2) xu hướng dân tộc, chống Mỹ can thiệp vào Iraq, 3) các nhóm khủng bố ngoại nhập tự xưng Thánh chiến, do al-Zarqawi điều động. Nếu hai phe đầu ưa dùng phương pháp quân sự thì phe Thánh chiến lại sở trường lối đánh bom tự sát.
Tình hình tại chỗ trong ba tháng qua cho thấy sự rời rạc của hai phe đầu tiên, đi cùng những tính toán của các lãnh tụ Sunni, xem có nên hợp tác và mặc cả với hai sắc tộc còn lại về bản Hiến pháp và tương lai Iraq hay không. Còn lại, chỉ có phe khủng bố ra tay, ngày một ít hơn: suốt ba tháng qua, khủng bố đã 39 lần đánh bom tự sát trong tháng Bảy, 22 lần trong tháng Tám và chỉ có hai lần, rất khốc hại, trong hai tuần đầu của tháng Chín.
Từ việc kiểm điểm này, những kết luận có thể nêu ra là 1) khối Sunni không thống nhất chống Mỹ và chính quyền lâm thời tại Baghdad, 2) phe khủng bố Thánh chiến do al-Zarqawi chỉ huy còn tung hoành với nhịp độ thấp hơn, 3) nhưng với cường độ sát hại cao hơn vì chọn mục tiêu kỹ lưỡng hơn.
Nếu kết hợp điều ấy với tin tức dồn dập về chiến dịch tảo thanh của Liên quân và chính quyền Iraq tại hậu cứ Tall Afar của khủng bố, khiến gần 200 đặc công đã bị loại khỏi vòng chiến, ta có thể kết luận tiếp là al-Zarqawi đang bị đẩy vào thế thủ. Nghĩa là ngược với ấn tượng do truyền thông loan tải là al-Zarqawi thống hợp nỗ lực đấu tranh của cộng đồng Sunni.
Và quan trọng nhất, khi tay khủng bố này hăm dọa các lãnh tụ Sunni là không nên hợp tác với Mỹ, rồi tuyên chiến với dân Shia và đặc công khủng bố của y còn tấn công các văn phòng của Giáo sĩ Muqtada al-Sadr người Shia, giết hại năm người, làm 14 người bị thương, thì ta phải kết luận khác: al-Zarqawi đang tự cô lập trong cộng đồng Sunni, hậu cứ hoạt động cuối cùng của y, và gây căm phẫn cho cộng đồng Shia. Vì sự an toàn của mình, cộng đồng Shia càng hợp tác chặt chẽ hơn với chính quyền và càng bớt chống Mỹ.
Trong trận chiến về tư tưởng, khủng bố "Thánh chiến" đang lui vào thế thủ và mất dần quần chúng. Điều ấy mới giải thích vì sao al-Zarqawi phải tập trung phương tiện, ra tay ít hơn nhưng giết hại nhiều hơn.
Tin tức của truyền thông đại chúng Mỹ không cho ta kết luận ấy! Trong cuộc chiến nhằm tranh thủ quần chúng mà đối phương lại mất quần chúng và tự cô lập thì mình không thể nói là thua được.
Hãy nghĩ rộng ra trận chiến giữa Hoa Kỳ và al-Qaeda: Osama bin Laden muốn huy động thế giới Hồi giáo nổi lên chống Mỹ và lật đổ các chính quyền Hồi giáo ôn hòa. Bốn năm sau, mạng lưới này không tấn công nổi vào lãnh thổ Mỹ và ngay tại vùng đất Mỹ đang gặp khó khăn nhất là Iraq, al-Qaeda đang lui vào thế thủ. Truyền thông Mỹ chỉ loan tin là Baghdad bị đánh bom hai ngày liên tục mà không trình bày nội vụ cho rõ ràng mạch lạc hơn.
Như vậy, làm sao họ có thể hiểu được nội dung thông điệp của Bush: đây là một trận chiến về tư tưởng.
Nhìn về dài thì trên mặt trận tư tưởng này, phe khủng bố cuồng tín có những lý luận rất nghèo nàn và phải hỗ trợ bằng hành động sát nhân. Phe ôn hòa có ưu thế hơn, khi đề nghị hoặc bị ép phải tiến hành những cải cách có lợi cho người dân, cho phụ nữ, miễn là tránh khỏi nhược điểm chết người là bị đồng hóa với "tay sai của Mỹ". Trong tương quan ấy, phe ôn hòa không phải là không có lợi thế.
Chính quyền Hoa Kỳ có thể đã hiểu ra điều ấy khi ông Bush chỉ định một cố vấn thân tín nhất, một phụ nữ, vào vai trò Thứ trưởng Ngoại giao thực chất là đặc trách về thông tin tuyên truyền. Nhưng, cuộc chiến về tư tưởng này mới chỉ mở màn, bà Karen Hughes mới tuyên thệ nhậm chức mươi hôm trước, trong khi truyền thông và chính giới Mỹ thì vẫn nhìn theo nếp cũ, với những sai lầm cũ.
Thí dụ như khi Thủ tướng tân cử của Iraq qua Mỹ năm ngoái cũng nhân Đại hội đồng Liên hiệp quốc thì đã bị phe Nghị sĩ John Kerry gọi là "tay sai của Mỹ", y hệt như lý luận của quân khủng bố. Thành thử, trận chiến tư tưởng mà ông Bush nói đến có khi sẽ phải khởi sự ngay ở nhà, trong xã hội Mỹ.
May ra, một thế hệ nữa, thế giới mới hết khó chịu về nước Mỹ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
Vào những ngày cuối tháng Tám của năm 2025, tôi cùng hai đồng nghiệp đã quyết định từ bỏ chức vụ tại Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC). Chúng tôi ra đi vì không thể tiếp tục im lặng khi chứng kiến tính liêm chính khoa học ngày một xói mòn, còn cơ sở hạ tầng y tế công cộng của quốc gia cứ dần rệu rã dưới sự lãnh đạo của Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Bộ Y tế và Nhân sinh (HHS). Khi đó, chúng tôi đã khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội, các tổ chức chuyên ngành và các bên liên quan trong lĩnh vực y tế công cộng hãy can thiệp trước khi xảy ra những thiệt hại không thể cứu vãn. Tôi rời đi với niềm tin mọi thứ rồi sẽ được chấn chỉnh.
Khi nhìn bản đồ thế giới và duyệt xét lịch sử hình thành, chúng ta nhận thấy có rất nhiều điểm tương đồng giữa Canada và Úc Đại Lợi.
Người Việt miền Nam từng trải qua một bài học cay đắng: sau 1975, những lời nói về “thống nhất” và “hàn gắn” không bao giờ đi cùng sự nhìn nhận. Không một lời chính thức nào nhắc đến các trại cải tạo, những cuộc tước đoạt, hay những đời sống bị đảo lộn dưới tay những người nhân danh chiến thắng. Không có sự thật, hòa giải chỉ là chiếc khẩu hiệu rỗng. Câu chuyện nước Mỹ hôm nay, khi chính quyền muốn làm mờ các chứng tích về chế độ nô lệ, cho thấy một điều quen thuộc: không quốc gia nào trưởng thành bằng cách giấu đi phần tối. Sự thật không tự biến mất chỉ vì người ta muốn quên.
Hai mươi năm trước, Thống đốc Jeb Bush ký đạo luật “stand your ground” (đứng vững tại chỗ), được giới ủng hộ xem là một biện pháp chống tội phạm dựa trên “lý lẽ thường tình”. Lời hứa khi ấy: bảo vệ người dân tuân thủ pháp luật khi họ dùng vũ lực để tự vệ. Sau vụ George Zimmerman được tha trong cái chết của Trayvon Martin, đồng bảo trợ dự luật, dân biểu Dennis Baxley, vẫn bảo rằng “trao quyền” cho người dân sẽ giúp chặn bạo lực.
“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56 Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại. Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.
Một nhóm sử gia, thủ thư và tình nguyện viên đang gấp rút chạy đua với thời gian – và với chính quyền Trump – để giữ lại những mảnh ký ức của nước Mỹ.Từ hình ảnh người nô lệ bị đánh đập, các trại giam người Mỹ gốc Nhật trong Thế Chiến II, đến những bảng chỉ dẫn về biến đổi khí hậu ở công viên quốc gia, tất cả đều có thể sớm biến mất khỏi tầm mắt công chúng. Trong vài tháng gần đây, hơn một ngàn sáu trăm người – giáo sư, sinh viên, nhà khoa học, thủ thư – đã âm thầm chụp lại từng góc trưng bày, từng bảng giải thích, để lập ra một kho lưu trữ riêng tư. Họ gọi đó là “bản ghi của công dân” – một bộ sưu tập độc lập nhằm bảo tồn những gì đang tồn tại, trước khi bị xoá bỏ bởi lệnh mới của chính quyền.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.