Hôm nay,  

Suối Phi Khanh

07/09/200500:00:00(Xem: 10080)

Từ thời Trung học, khi học Việt sử, chúng ta đều biết giai thoại Phi Khanh-Nguyễn Trãi. Tháng 6 năm Đinh Hợi 1407, Trương Phụ sai Liễu Thăng bắt một số quan quân tướng sỹ của Việt Nam, giai về Tầu. Trong số những người bị bắt có Nguyễn Phi Khanh.
Theo sử liệu ghi chép thì Nguyễn Phi Khanh là một sỹ phu uyên bác, lầu thông kinh sử nên được quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán mời về làm ông giáo kèm dạy các cậu ấm cô chiêu trong gia tộc. Trong số học trò có cô Trần Thị Thái ngưỡng mộ thầy tới mức vượt qua tình thầy trò. Kề cận giai nhân, lại được tỏ lộ tình yêu đằm thắm làm sao Nguyễn Phi Khanh có thể cưỡng được định mệnh!; nên khi tiểu thư Trần Thị Thái có thai thì hai người sợ hãi bỏ trốn. Quan Tư Đồ cho người tìm về rồi chính thức gả con gái cho. Nguyễn Trãi là kết quả của đôi trai tài gái sắc đó.
Nguyễn Trãi lẽo đẽo theo cha trên đường Nguyễn Phi Khanh bị dẫn giải về Kim Lăng dù Nguyễn Phi Khanh nhiều lần khuyên con hãy quay về Nam tìm đường phục hận hơn là rỏ nước mắt nam nhi ủy mỵ trên đoạn đường thống hận hờn oan.
Khi đến Ải Nam Quan, bọn nhà Minh quyết liệt đuổi những người đưa tiễn thân nhân lùi về ranh giới. Nguyễn Trãi muốn dâng cha một bình nước cuối trước khi chia biệt nhưng hỡi ơi, bình nước mang theo đã cạn!!! Nguyễn Trãi ngửa mặt nhìn trời, khóc rống lên ba tiếng bi thương, lòng thành khẩn khấn nguyện: "Con đê đầu khấn lạy Chư Phật mười phương nếu nước Việt Nam còn cơ hội phục hồi tự chủ, xin ban cho con bầu nước cuối từ đất Việt thân yêu để thay nước mắt tiễn biệt cha già".
Khấn nguyện xong, quá bi phẫn, Nguyễn Trãi dậm mạnh chân xuống đất. Mầu nhiệm thay, tù nền đất khô cứng phun lên nguồn nước mát ngọt trong. Nguyễn Trãi quỳ xụp xuống cảm tạ Chư Phật rồi hứng nước thiêng đó mà dâng cha.
Giòng suối thiêng liêng từ đấy được dân địa phương gọi là Suối Phi Khanh.
Từ khi giòng suối mẹ phun nước nuôi con, mẹ Việt Nam vẫn trôi nổi cùng con dân nước Việt. Mẹ Việt Nam xả thân cùng các con bám chặt lấy đất, sống chết với ruộng vườn thôn xóm. Trải qua bao lần tranh chấp biên giới, các vị vua nước Nam quyết một mất một còn giữ từng tất đất quê mẹ; đặc biệt, hơn 18 lần dưới triều Lý, vua nước Nam đã can trường phá Tống bình Chiêm, không để một tấc đất phương Nam lọt vào tay phương Bắc.
Hỡi ơi! giữa năm 2001, đảng Cộng Sản Việt Nam đã hèn nhát, lén lút dâng đất cho quan thầy của chúng là Trung Cộng! Hèn nhát vì Cộng Sản Việt Nam đã tuân hành lời đòi hỏi vô điều kiện. Lén lút vì chỉ khi ranh giới Ải Nam Quan bị dời sâu vào nội địa Việt Nam với tên mới là "Cây số Zéro", dân chúng mới biết!.

Cây số Zéro, cái tên vô hồn, lạnh lẽo ấy nằm giữa Ải Nam Quan cũ và Cửa Hữu Nghị mới bây giờ. Cây số Zéro ấy đã cắt đôi thác Bản Giốc thuộc tỉnh Cao Bằng từng là thắng cảnh miền Bắc Việt Nam, nay, một nửa đã thuộc về Trung Quốc!!!
Cây số Zéro ấy đã cắt hang Pakbo, nơi Cộng Sản Việt Nam coi là linh địa; nay, ¾ hang Pakbo đã thuộc về Trung Quốc!!!
Cây số Zéro cũng đã phá vỡ lời mẹ ru con ngọt ngào qua hàng nhiều thế kỷ:
"Đồng đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh...."
Chùa Tam Thanh không còn nữa vì Hồng-quân đã san bằng tỉnh Lạng Sơn năm 1979 khì cần dạy đàn em CSVN một "bài học". Nàng Tô Thị có tìm về chùa ru con thì chùa đã nơi đâu"; thổn thức trong mờ ảo khói sương chỉ còn động đá đã bị đẩy lùi, thật sâu, trong lặng câm phẫn uất!
Đất đã thế, biển thì sao"
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã gửi thư chấp nhận bản tuyên bố trong đó họ đồng ý nhường cho Trung Quốc toàn bộ:
- Các hải đảo của Việt Nam trên biển Nam Hải
- Toàn bộ các đảo cách đó 12 hải lý.
Đó có phải là lý do mà gần đây nhà cầm quyền Trung Cộng đã dùng chủ quyền để công khai bắn giết các ngư phủ Việt Nam, bất chấp dư luận quốc tế hay không"
"Thiên hạ mang mang, ai người tri kỷ "" (+)
Tinh thần Nguyễn Trãi ngày nay tiễn cha bằng nước mắt chính mình vì suối thiêng đã cạn, hồn nước đã xa:
"Cơn giông tới, trời cuồng vật vã
Tin cha già gục ngã chốn rừng sâu
Lặn lội ngày đêm, mẹ tìm mộ chí
Nắm cỏ bên đường ai lấp vội cho nhau!
Bỗng hân hoan,
Hỡi trời!
Như mừng rỡ!
Cha thoát rồi, năm tháng chịu xiềng gông
Báng súng, khảo tra,
Thôi dập bầm xương thịt,
Đói lạnh rã rời,
Thôi hành hạ thân đơn.
Đàn chó dại hẳn phải tru từng hồi tức giận,
Vì nanh dài, vuốt nhọn, nọc cuồng điên,
Chúng bủa vây cắn xé ngày đêm,
Vẫn không thể khiến con người khiếp sợ.
Bản cáo trạng,
Tội danh loài man rợ,
Sử ngàn trang hằn ứa máu tươi hồng
Vận nước bao đời trôi nổi hưng vong,
Giòng sinh mệnh vẫn xuôi về nguồn cội.
Cha biết thế, hẳn yên lòng phút cuối
Chút hơi tàn gom nốt hiến Quê Hương
Trọn lời nguyền vì Tổ Quốc Giang Sơn
Lòng Đất Mẹ ấp ôm thân rã mục!
Di chúc cho con:
"Trả hờn, rửa nhục,
Với quân thù, ta có một đường thôi
Là quyết dấn thân dành lại mặt trời
Hay cam chịu đời đời tăm tối !"
Ôi trang sử xưa,
Lời nghiêm huấn Phi Khanh gương còn sáng chói
Đem thù nhà mà trả nợ non sông
Biên ải bùi ngùi phụ tử tình thâm
Lòng Nguyễn Trãi tả tơi hồn-cung-kiếm
*
Pho Kinh mở, khói nhang tụng niệm
Lệ đầm tuôn nhòa nhạt bóng Di Đà
Nợ sinh thành: nghĩa mẹ ơn cha
Nợ Tổ Quốc: mầu da tiếng nói....
Nắng xứ người mà lòng con bão nổi
Quyện trầm hương linh hiển bóng cha già
Xin run rủi cơ may cho con trẻ
Được đem thân còn lại,
Hiến san hà." (*)

Nguyễn Bỉ Ngạn
(+) ThơNguyễn Bá Trạc
(* Thơ Diệu Trân

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi nhìn lại nửa thế kỷ Phật giáo Việt Nam hiện diện trên miền đất hứa, Hoa Kỳ, ta thấy con đường chánh niệm tỉnh thức không khởi nguồn từ một dự tính định sẵn, mà từ sự kết tinh của hoàn cảnh, của tâm nguyện và của những bước chân tìm về cõi an trú giữa bao biến động. Bởi nó như một dòng suối len lỏi qua những biến động của thời cuộc, chảy về một phương trời xa lạ, rồi hòa vào biển lớn. Từ những hạt giống gieo xuống trong lặng lẽ, rồi một ngày trổ hoa giữa lòng những đô thị phương Tây, nơi mà có lúc tưởng chừng như chỉ dành cho lý trí và khoa học, cho tốc độ và tiêu thụ, cho những bộ óc không còn kiên nhẫn với những điều mơ hồ. Nhưng rồi, giữa cái đa đoan của thế giới ấy, những lời dạy về chánh niệm, về thở và cười, về sự trở về với chính mình đã nảy mầm và lan rộng như một cơn mưa đầu hạ, làm dịu đi những khô cằn của tâm hồn.
Kể từ ngày biến cố lịch sử 30/4/75, 50 năm trôi qua, đã có không biết bao nhiêu sách vở nói về cái ngày bi thương đó của dân tộc Việt Nam, nhưng có lẽ không gì trung thực và sống động cho bằng chính những bản tường trình trên báo chí vào đúng thời điểm đó từ những phóng viên chiến trường tận mắt chứng kiến thảm cảnh chưa từng có bao giờ của hàng trăm ngàn người, dân cũng như quân, liều mình xông vào cõi chết để tìm cái sống. Năm 2025, đánh dấu 50 năm biến động lịch sử đó, Việt Báo hân hạnh được đăng tải loạt bài viết của ký giả Đinh Từ Thức ghi lại chi tiết từng ngày, đôi khi từng giờ, những điều xảy ra trong mấy tuần lễ trước và sau ngày 30/4/75 để chúng ta có cơ hội cùng sống lại những giờ khắc bi thảm và kinh hoàng ấy đã xảy ra như thế nào.
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.