Hôm nay,  

Influence 1

22/05/200400:00:00(Xem: 5985)

Ảnh Hưởng [Bài đọc tại Đại Học Turin]
Salman Rushdie
Tiểu thyết gia, và còn là thi sĩ người Úc, David Malouf nói với chúng ta rằng, "kẻ thù đích thực của viết, là nói". Ông đặc biệt cảnh báo những hiểm nguy, không phải mồm miệng "đỡ" chân tay, mà là cái miệng "hại" cái tay, nghĩa là bù lu bù loa trong khi rị mọ viết. Khi viết, tốt nhất bạn nên mím chặt miệng lại, như vậy mấy con chữ mới theo nhau mà ra, không phải từ miệng, lẽ tất nhiên, mà từ mấy kẽ tay. Bạn xây con đập trên sông lời, the river of words, và tạo ra thuỷ điện văn chương, the hydroelectricity of literature.
Do vậy, tôi đề nghị với các bạn, tôi sẽ nói, không phải về viết, mà những gì tôi đã đọc, và đặc biệt những mầy mò trong cõi văn Ý, (và tôi phải nói thêm, phim ảnh Ý), nhờ vậy mà hiểu được làm sao viết, và viết cái gì .
Rõ hơn, tôi muốn nói về ảnh hưởng.
"Ảnh hưởng". Từ này, tự thân, nói lên một điều gì trơn chảy, một cái gì "tuồn vô". Đúng là vậy, và đây là do tôi vẫn thường nhìn thế giới của sự tưởng tượng, không phải như đại lục, mà là biển cả. Bồng bềnh phiêu bạt, sợ hãi đấy, nhưng thật là tự do, không biết đâu là bến, là bờ, trên ngàn ngàn biển lạ, và nhà văn, với hai bàn tay trần, cố nắm bắt chức năng kỳ ảo của sự biến hoá. Như một nhân vật trong một câu chuyện thần tiên, tuồn rơm rạ qua kẽ tay, và biến chúng thành vàng, nhà văn, trải biển cả qua kẽ tay, cho tới khi nó biến thành đất liền, rõ hơn, cho tới khi, bất thình lình, quanh anh ta, mới đó còn là "trơn tuột", đột nhiên biến thành "cưng cứng", nghĩa là một hình dáng, một vật thể bỗng hiện ra ở một nơi trước kia vẫn chỉ là hư vô, là vô hình vô dạng: dưng không trồi lên sự thực, thì cứ nói như vậy, nghĩa là, bỗng nhiên, dưới chân anh ta, là đất cát, thay vì biển cả. (Và nếu anh ta thất bại, thì có nghĩa là anh ta chết đuối, chứ còn gì nữa. Câu chuyện ngụ ngôn này "tuyệt" không thể chê vào đâu được).
Nhà văn trẻ, có thể ngần ngại, có thể ham hố, có khi còn ôm cả hai, bèn ngó ngược ngó xuôi, bớ người ta, giúp tôi [cứu tôi] viết với; và nhìn thấy, mịt mù trong cõi trên trời, dưới biển mênh mông, hình như có cái gì chăng chắc, cưng cứng, giống như những sợi dây thừng, của những người bơi lội, những tay phù thuỷ đã từng bơi theo kiểu này, trước anh ta. Vâng, anh ta có thể sử dụng những cái "tuồn vô" đó. Như những cái phao, anh ta ôm lấy nó, xây dựng tác phẩm, của chính mình, quanh nó. Vào lúc này, anh ta hiểu rằng, anh ta sẽ sống sót. Hăm hở, chàng bèn bắt đầu!
Một trong những cái thú "thú vị nhất", của trò "ảnh hưởng" văn chương, là, những dòng ý thức của những người khác đó [của những "ông thầy"] chúng có thể tuồn vô nhà văn [đệ tử] từ bất cứ nơi nao. Thường xẩy ra, là, chúng sử dụng du lịch đường dài, nghĩa là chúng tới với bạn từ xa thật xa, chúng đi tìm bạn, tìm cái người có thể sử dụng chúng.

[Kinh nghiệm riêng: Ông thầy của Gấu tôi, như đã nhiều lần nhắc tới, là nhà văn Mẽo, William Faulkner. Nhưng không phải ông này đi kiếm Gấu, mà Gấu cũng không biết tới ông này, nếu không có người giới thiệu. Một cách nào đó, có thể nói, người giới thiệu Faulkner với Gấu là nhà thơ Thanh Tâm Tuyền.
Nhà thơ đàn anh dậy vị chi có hai, nhưng đúng là hai tuyệt chiêu. Chiêu thứ nhất, ông phán, đừng sợ sai, sai thì sửa, và viện dẫn kinh nghiệm đọc và viết của Nguyễn Đình Thi, khi thằng em tập tành đọc, dịch và viết. Chiêu thứ hai, liên quan tới việc tìm thầy học đạo.
Ông khuyên, cậu thấy đấy, sách vở như rừng, biết đọc cuốn nào, ông bà nhà văn nào... Nhưng rừng thì rừng, có thứ rừng nhiệt đới, hợp với tạng của mình. Văn chương, hằng hà sa số như thế, nhưng để ý, có những dòng, những luồng. Trước hết, phải đọc, đọc thật nhiều, và cũng đừng phân chia, đừng đánh giá, cứ đọc, đọc, đọc, và tới một ngày nào đó, thấm, và đột nhiên nhận ra, ông nào là thầy của mình, theo nghĩa, dòng văn nào, hay nói theo Rushdie, sợi dây thừng nào hợp với mình. Tuy Gấu tôi tự mình kiếm ra ông thầy William Faulkner, nhưng là qua sự chỉ đường mách lối của ông anh. Hai tuyệt chiêu ông dậy đúng là hai sợi dây cứu mạng cho một thằng bé, chưa hề tập bơi, ở trong cái biển cả văn học mà Rushdie ví von].

Tại Nam Mỹ, tôi ngạc nhiên vì chuyện những nhà văn Mỹ châu La tinh tỏ ra rất thân quen với nhà văn Nobel văn chương Bengali, Rabindranath Tagore. Nhà biên tập Victoria Ocampo, vốn đã gặp và rất ái mộ Tagore, sau đó tìm mọi cách cho tác phẩm của ông được dịch thật tới nơi tới chốn, và được xuất bản rộng rãi trên toàn lục địa của bà, kết cục, ảnh hưởng của Tagore có lẽ còn lớn hơn ở ngay chính quê hương của ông, nơi mà những bản dịch từ tiếng Bengali ra rất nhiều ngôn ngữ khác của Ấn Độ, thường rất tồi, và cái thiên tài của con người vĩ đại này, "đồng bào" của ông đành phải hồ hởi chấp nhận, và tin cậy, rằng nó là như thế đấy!
Một thí dụ khác là nhà văn người Mỹ, William Faulkner. Nhà văn lớn lao này vốn không được người Mẽo của ông đọc, vào những ngày này. [Nên nhớ, người Pháp, và sau đó, là thế giới - trong cái cộng đồng thế giới có Gấu tôi - đã khám phá ra Faulkner, và trao ông giải thưởng Nobel văn chương. Ngay cả khi ông được Nobel, tờ Nữu Ước thời báo còn cảnh cáo người đọc, đừng tưởng ở nước Mẽo đâu đâu cũng xẩy ra nạn kỳ thị da đen, và nạn loạn luân, như được miêu tả ở trong những tác phẩm của Faulkner]. Chắc chắn rồi, có một hai ông nhà văn Mẽo đương thời tự nhận họ ảnh hưởng Faulkner, và coi ông ta là thầy. Một lần, tôi hỏi một nhà văn cũng thuộc loại bảnh của miền nam nước Mỹ, Eudora Welty, rằng liệu Faulkner có giúp bà tí ti nào không, bà trả lời, không là không, một tí cũng không. "Cứ như thể có một ngọn núi to tổ bố ngay ở bên hàng xóm. Thật cũng tốt, rằng ngọn núi sừng sững ngay kế bên như thế, nhưng "nó" chẳng giúp đỡ được gì trong việc viết lách". Ôi chao, trong khi đó, ở bên ngoài nước Mẽo - ở Ấn Độ, Phi Châu, và ngay cả ở Mỹ châu La tinh - với những nhà văn địa phương, Faulkner là nhà văn “năm bơ oăn” của Mẽo, một cái giếng sâu đầy hứng khởi, múc hoài còn hoài. Người cầm tay bạn, dậy, bảo, ban cho bạn khả năng viết. Người mở cửa mời bạn vào trong cõi văn chương.

[Lạ một điều Rushdie không nhắc tới nước Pháp, trong khi đây mới là quốc gia khám phá ra Faulkner. Không hiểu ông có đọc những bài viết tuyệt vời, thí dụ của Sartre, của Malraux, hay của Camus... về Faulkner, có nghe tới Maurice Edgar Coindreau, chuyên gia dịch Faulkner, hay có đọc nhà văn Nobel Pháp, Claude Simon, một "đệ tử" của Faulkner, những câu văn "cul-de-sac" (ngõ cụt, tuyệt lộ) trong Những Con Đường Flandres của ông, là từ Faulkner mà ra.]

Từ sự kiện, có cái chuyện ảnh hưởng xuyên qua rào cản văn hóa, ngôn ngữ, chúng ta có thể suy ra một điều, về bản chất của văn chương: rằng (hãy cho phép tôi tạm quên đi cái ẩn dụ nước nôi trơn tuột ở trên), những cuốn sách có thể sinh ra từ những bào tử, được gió mang đi khắp nơi, hay là từ những gốc rễ đặc biệt, mang tính địa phương, vốn bám chặt lấy từng tác giả. [Gấu tôi tự hỏi làm sao cái chất miền nam của Faulkner lại có ở trong những truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư chẳng hạn, và Rushdie bèn trả lời], có những họ hàng quốc tế của những từ ngữ, cũng như những bộ lạc rất thân quen gần gụi, về đất cát, và về máu mủ. Đôi khi - thí dụ như trường hợp ảnh hưởng của James Joyce lên chính tác phẩm của Samuel Beckett [hai người đều là dân Ái Nhĩ Lan], rồi tiếp liền đó, là ảnh hưởng của Beckett lên tác phẩm của Harold Pinter với cùng một mức độ như của Joyce lên Beckett - chúng ta có cảm tưởng về một triều đại vua chúa tiếp nối nhau, hay một ngọn đuốc chuyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, thật rõ ràng, và cũng thật mãnh liệt. Trong những trường hợp khác, những nối kết quen quen như thế tuy không hiển nhiên bằng, nhưng chưa chắc đã kém phần mãnh liệt.
Lần đầu tiên đọc tiểu thuyết Jane Austen, từ một xứ sở, thời đại thật là xa vời so với nền học vấn, sự dạy dỗ và nơi chốn trưởng thành của tôi, là thành phố lớn Bombay giữa thế kỷ 20, điều làm tôi sửng sốt, là tại làm sao, bằng cách nào, những nhân vật nữ của bà lại Ấn Độ, lại đương thời đến như thế; cứ như tôi có thể "sờ" thấy họ. Những người đàn bà thông minh, sôi nổi, lưỡi nhọn hoắt, lúc nào cũng như muốn xổ lồng, muốn bay bổng, nhưng bị "cấm cung" ["huis clos", tiếng Pháp trong nguyên bản] bởi thói đời chật hẹp, vùng vẫy chi đâu thì cũng chỉ trong bốn bức tường của những cuộc khiêu vũ gia đình, nhằm săn cho được một ông chồng; những nhân vật như thế, người ta có thể gặp ở bất cứ đâu đâu, trong xã hội trưởng giả Ấn Độ. Ảnh hưởng của Jane Austen trên cuốn Sáng Ngày, Clear Light of the Day, của Anita Desai và trên Một Cậu Trai Dễ Bảo, A Suitable Boy, của Vikram Seth,là thật hiển nhiên.
Charles Dickens cũng làm tôi ngạc nhiên liền tức thì, như là một nhà văn Ấn Độ chính hiệu con nai vàng. Thành phố Luân Đôn mà ông miêu tả, gớm ghiếc, tởm lợm, đầy những tên trộm cắp, lường đảo và những kẻ đồng lõa, một thành phố, nơi cái tốt, cái đẹp thường xuyên bị trấn áp, đe dọa bởi những trò lưu manh lường gạt; đối với tôi, nó chẳng khác gì bộ mặt phản chiếu của những thành phố nhung nhúc, ngập ngụa ở Ấn Độ, nơi đám cao sang, những nhân vật sáng giá ngự trị ở trên những tòa nhà cao ngất, trong khi ở dưới chân tòa nhà, đám đông đồng bào khốn khổ của chúng cố giành giựt sự sống trong những con phố bát nháo. Trong những cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi, tôi đã cố gắng làm sao ăn mày ăn nhặt được một tí [nguyên văn: tạo cho mình hứng khởi từ] thiên tài của Dickens. Và nhất là, từ cái điều mà với tôi là sự cách tân thiệt sự tiểu thuyết ở nơi ông: làm thế nào pha trộn, nhào nặn thành một thực thể duy nhất, một bên là nền thực tại, trần truồng, thô, bạo, cứng, và một bên là bộ mặt phô ra, đầy tính liêu trai chí dị, hồn ma bóng quế, quái đản, ma mị, phi thực.
Ở Dickens, những chi tiết về nơi chốn và những tập tục xã hội đều như được chạm trổ, bằng một ngọn bút nhọn hoắt, của một chủ nghĩa hiện thực tàn nhẫn, bằng một sự chính xác chi ly, rất ư tự nhiên, tựa như trời sinh ra là phải như thế. Trên cái nền hiện thực này, ông bầy ra những nhân vật ngoại khổ của ông, những nhân vật mà chúng ta chẳng có một cách chọn lựa nào khác, là tin vào chúng, bởi vì chúng ta không thể nào không tin, cái thế giới mà chúng sống ở trong đó. Vì vậy, tôi đã cố gắng làm điều này, ở trong cuốn tiểu thuyết Những Đứa Con Giờ Tí của tôi: Trên cái nền xã hội và lịch sử được quan sát một cách thật là chi ly - hay nói một cách khác - trên cái hạ tầng cơ sở của một nước Ấn Độ "thực", tôi nhét vào đó, ý niệm "không thực" của tôi, về những đứa trẻ sinh vào đúng giờ tí, tức là nửa đêm, thời điểm Ấn Độ tuyên bố độc lập; được ban cho những quyền lực thần kỳ, do đẻ vào đúng giờ linh, những đứa trẻ một cách nào đó, chính là sự nhập thế, của cả hai, những hy vọng và những sai sót của cuộc cách mạng.
Trong khung quyền thế là chủ nghĩa hiện thực của mình, Dickens làm cho chúng ta tin, một ý tưởng hoàn toàn "Siêu thực", về một ban bộ trong chính quyền, Văn phòng Circonlocution, được nặn ra để làm sao cho, chẳng có gì xẩy ra, hay là trường hợp rất ư Phi lý, theo kiểu Ionesco, là vụ kiện "Jarndyce chống lại Jarndyce", một vụ kiện mà bản chất của nó là chẳng bao giờ đạt tới một kết luận; hay hình ảnh "hiện thực huyền ảo" của những đống bụi, ở trong Người Bạn Chung Của Chúng Ta - những biểu tượng vật lý về một xã hội sống trong cái bóng của những cứt đái, những phế thải của chính nó. Tiện thể, tôi xin nói thêm, hình ảnh này chắc chắn đã ảnh hưởng lên một tác phẩm Mẽo nổi tiếng, xuất bản gần đây, mà ẩn dụ trung tâm của nó là sự tích tụ những cứt đái, đồ phế thải của xứ Cờ Huê, tác phẩm Thế Giới Chìm (Underworld, bản tiếng Pháp dịch là Ngoại Thiên, Outremonde), của Don DeLillo.
Nếu ảnh hưởng hiện diện ở bất cứ nơi nơi, trong văn học, nếu thế, thì chúng ta cần phải nhấn mạnh một điều, rằng nó, ảnh hưởng, luôn luôn chỉ là thứ yếu, ở trong một tác phẩm có chất lượng. Một khi ảnh hưởng quá lộ liễu, thô thiển, nó làm người đọc tức cười, nếu không muốn nói, thương hại. Tôi đã từng nhận được, từ một mầm non văn nghệ, một truyện ngắn, mở ra như thế này: "Một buổi sáng, bà K. thức giấc, thấy mình biến thành một cái máy giặt đồ." Người ta không thể tưởng tượng ra nổi, Kafka sẽ nghĩ thế nào, về lòng tưởng mộ ông, của hậu thế, qua ảnh hưởng ngu xuẩn tới mức thảm hại như vậy.

Có lẽ bởi vì văn chương hạng nhì là thứ thường rất dễ bị xào, luộc, đánh cắp nhãn, và bởi vì có rất nhiều tác phẩm chỉ vươn tới đỉnh cao của chúng, là hạng nhì, thành thử người đời thường dùng nó - ý tưởng về ảnh hưởng - để buộc tội, hoặc chê bai tác phẩm của nhà văn. Vả chăng, biên giới giữa ảnh hưởng và bắt chước, mô phỏng [imitation], và ngay cả giữa ảnh hưởng và đạo văn, càng về những ngày sau này càng trở nên mờ nhạt. Cách đây hai năm, nhà văn nổi tiếng người Anh, Graham Swift đã bị một nhà khoa bảng hắc ám [obcure] người Úc ban cho cái tội rất gần với tội đạo văn, trong cuốn được giải Booker của ông là “The Last Orders” [nghĩa đen: những mệnh lệnh chót; “order” thường được sử dụng khi gọi món ăn, bản tiếng Pháp dịch là Chầu Đãi Chót, La Dernière Tournée, Gấu tôi chưa đọc cuốn sách nên không dám dịch ẩu cái tựa sách], rằng cấu trúc đa giọng trong cuốn này, “chủ yếu mà nói, là đã vay mượn” từ cuốn “Trong khi tôi hấp hối”, “As I Lay Dying”, của William Faulkner. Báo chí Anh bèn mượn gió bẻ măng, biến câu chuyện thành một xì-căng-đan văn học, biến Swift thành một tay đạo văn chính hiệu con nai vàng, biến những người chống đỡ bảo vệ ông thành những kẻ đã tỏ ra “nhân nhượng” đối với ông, mặc dù, và có lẽ, chính Swift đã nói ra, ông ảnh hưởng Faulkner, luôn cả chuyện, giọng kể ở trong hai cuốn, tuy không hoàn toàn giống nhau y chang, nhưng đọc cuốn này là gợi nhớ tới cuốn kia. Sau cùng, những sự thực đơn giản như thế khiến vụ xì-căng-đan xì hơi, nhưng cũng chỉ sau khi Swift đã phải chịu đựng những cú đòn hội chợ của đám báo chí.
(còn tiếp)
NQT dịch và giới thiệu
http://www.tanvien.net

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.