Hôm nay,  

Nói Để Đi Lên

28/10/199900:00:00(Xem: 5402)
Los Angeles – Khám phá ra mình đã bị nhiễm HIV, siêu vi khuẩn gây ra bệnh AIDS, cõ lẽ không vui gì. Nhưng ngày nay, say 18 năm bênh lan tràn, thực ra có nhiều lý do để đi thử HIV.

Trước hết, vì HIV cần một thời gian dài để làm yếu hệ thống kháng độc của một người, bạn sẽ đương nhiên có càng nhiều hy vọng sống còn nếu khởi sự điều trị càng sớm. Ngày nay, tuy nhiên bạn không những chỉ nghĩ đến vấn đề sống còn mà còn có thể sống một cuộc đời rất bình thường, nhờ có rất nhiều loại thuốc kháng HIV có sẵn bây giờ. Chiến lược hiện thời là tấn công HIV cùng một lúc với một hỗn hợp gồm nhiều thuốc khác nhau – chính thức được gọi là “ phối hộp điêu trị “ – và chính sách này đã có hiệu lực mạnh đến nỗi nhiều AIDS bệnh nhân đã trở lại làm việc sau khi đã nghỉ đi làm nhiều năm

Hơn nữa, với thuốc điêu trị mới ra gần như đều, ngày nay những người mới bị nhiễm HIV có thể sống đủ lâu để được chữa khỏi thực sự – dĩ nhiên với điều kiện là họ dùng thuốc men để kiểm soát HIV trong lúc đó.

Những lý do kể trên , dẫn tới sự kiện hiển nhiên là cần đi thử HIV . Bạn chỉ bắt đầu điêu trị khi bạn biết mình đã bị nhiễm HIV, và cách duy nhất để biết điều đó là cho thử HIV.
Biết rằng nhiều người không thích đi thử – chưa kể tới lúc biết kết quả bị nhiễm HIV – thủ tục thử nghiệm HIV đã được tổ chúc một cách dễ dàng và thoải mái. Bạn có thể di thử tại một trung tâm vô danh hoặc kín dạo. Tại trung tâm vô danh, người ta sẽ cho bạn một mật mã và đó lá cách duy nhất để nhận định bạn . Tại trung tâm kín đáo, bạn sẻ phải ký một mẫu cho phép thử nghiệm.

Tên bạn sẽ được dính vào kết quả, tuy nhiên hồ sơ y khoa chỉ được phóng thích nếy bạn cho phép . Nội dung của sự thử nghiệm gồm ø tìm xem cơ thể bạn có tiết ra kháng tố HIV néu bạn bị nhiễm và thử máu căn bẳn, hoặc có thể dùng nước miếng để thử mà tuyệt đối không hề đau đớn. Bạn sẽ được hưỡng dẫn trong lúc đó mặc dầu kết quả thử nghiệm

Về phần tôi , kết quả thử nghiệm khác nhau nhiều, nhưng đó là vào ngày 15, tháng 3 , 1986 – cách đây 13 năm – và từ lúc đó đã có nhiều thay đổi.
Để khởi đầu , người mà đã nói với tôi rằng tôi đã bị nhiễm HIV qủa thật không được huấn luyện đủ để làm việc đó. Ngoài ra, thuốc điều trị cũng chẳng có và tôi cũng không được chỉ dẫn tới Bác sỹ hoặc tổ chức AIDS nào. May thay, tôi đã có Bác Sỹ cá nhân và tôi đã biết về cơ quan AIDS ở vùng tôi – nhưng tôi đã tự kiếm lấy những điều đó.

Do đó, về phần tôi, từ lúc tôi biết tôi bị nhiễm HIV , và sau đó gần một năm trời , chẳng khác nào tôi đã sống dưới nước . Giống như một người bị nước trong tai sau khi bơi, tôi nghe thấy tiếng tim tôi đập rõ hơn lá tiếng động bên ngoài, và hơn nũa, như một người di chuyển trong nước, dù làm bất cứ việc gì tôi cần phải dùng hết sức mà lúc đó tôi không hề biết tới.

Thực ra, tôi đã hành động khác hẳn điều tôi đã tưởng tượng. Trong năm đầu đó, tôi đụng đầu khắp nơi : nào là đi làm, chỉ huy một tổ chức riêng, đi ăn tối với bạn bè, đi ngủ, rồi cứ thế tiếp tục, Nhìn ngược trở lại, tôi không hiểu sao tôi chưa rụng thành từng mảnh. Dĩ nhiên, khi bạn ở trong nước, chính nước giữ bạn khỏi rụng thành từng mảnh – nhưng thật ra rất khó tiến chân trong nước.

Chẳng khác nào, tôi nhắm mắt lại rồi sau đó một lúc mở măt ra, thì tôi nhận thấy mọi vật trong vũ trụ đã lệch sáu đốt qua bên phải. Mọi vật vẫn như cũ, ấy thế mà tôi thấy khác nhau. Tuy nhiên, tôi là người duy nhất trên trái đất này mà đã nhận định sự “ lệch “ đó, vá tôi cũng không thể kể cho ai nghe. Ai cũng cho rằng tôi hoàn toàn khùng.

Trong vòng vài năm, tư tưởng cuối cùng trước khi tôi lim dim đi ngủ, là tôi bị nhiễm HIV và cũng là điều tôi nghĩ tới sáng sớm hôm sau. Giống như giọt nước rơi từ vòi sẽ được nghe rõ hơn khi về đêm, tư tưởng bị nhiễm HIV chỉ xuất hiện khi ngày đã yên lặng và mọi gia dình sửa soạn đi ngủ. Ngay sau khi tôi hay tin HIV, tôi đã đi chôn một người bạn chết vì bệnh AIDS mà không để lại tờ di chúc.


Bạn bè anh ta và tôi cảm thấy chúng tôi đã thi hành những điều cuối cùng theo ý anh ta đã muốn, nhưng vì không có tờ di chúc, chúng tôi không dám chắc. Sau khi biết kết quả thử nghiệm, một trong những ý tưởng đầu tiên của tôi là, với tuổi 31,tôi cần tạo một tờ di chúc ngay giờ. Yù tưởng thứ nhì của tôi là tôi sẽ không nói cho ba mẹ tôi hay; đây là năm 1986, không có thuốc điều trị, và họ chỉ có thể, và có lẽ sẽ lo lắng. Nếu họ hỏi hoặc nếu tôi bị bệnh, tôi sẽ nói – nếu không tôi sẽ kín miệng. Nói để làm gì "

Trong khoảng thời gian lâu, tôi không giám kể cho gia đình. Vào năm 1986, dân chúng tiểu bang California bầu dự luật, ngoài những mục khác, cho phép kiểm dịch bệnh nhân AIDS. Ngay từ năm 1986, chúng ta đã biết rằng bệnh AIDS không thể truyền bằng “ tiếp xúc bình thường “được . Tôi phản đối dự luật và diễn thuyết tại nhiều buổi quyên tiền cho “ No on 64”. Để sửa soạn tinh thần cha mẹ ngày tôi kể về tình trạng của tôi, tôi tập rượt đoc diễn văn gồm nhiều chi tiết liên quan tới AIDS trước mặt họ khi tôi lại dùng cơm tối với gia đình. Tôi lẳng lặng cầu nguyện sự “sửa soạn “ đó sẽ có hiệu lực.

Ba tôi có đọc một bài viết về cách tránh bị nhiễm HIV. Một ngày nào đó, trong lúc tôi thăm gia đình ,khi không Ba tôi đề cập tới bài báo đó và hỏi tôi một cách trắng trợn tôi có HIV không " Giây phút mà tôi kinh sợ đã điểm. Ngay lúc tôi nói “ Mẹ,nên lại gần đây”, ba me tôi đã hiểu . Cho nên , tôi chưa kiệp trả lới thì cả hai người đã bắt đầu khóc. Đầu tôi choáng váng ví phản ứng mãnh liệt đó, và tôi thề rằng sẽ cố gắng tránh mang vấn đề này ra, điều mà tôi đã giữ trong vài năm. Tuy nhiên, mấy năm gần đây,tôi đã có thể nói chuyện tự nhiên hơn về AIDS mà không làm buồn họ. Họ hiểu rằng bị nhiễm HIV không nhất định là án tử hình.

Tôi bắt đầu tìm xem có dấu hiệu nào của bệnh, và không thấy gì. Có một hôm, tôi tự hỏi tôi cảm thấy ra sao – và tôi tự trả lời “ Khá, rất khá “. Kế đó, tôi tự hỏi ngày trước đó, tôi cảm thấy thế nào, với cùng câu trả lời. Và ngày trước nữa, cứ thế. Khi tôi đi ngược lại giòng thời gian, cho tới ngày trước năm 1986, ngày mà tôi biết bị nhiễm HIV ,tôi bỗng nhiên nhận định rằng sự kiện tôi đã sống khá lâu có nghĩa là tôi sẽ sống khoẽ lâu hơn nữa. Khà ! Khà ! tôi sẽ tiếp tục sống, có lẽ không lâu bằng nếu tôi không có HIV, nhưng chắc chắn không còn nguy hiểm chết một ngày gần đây. Chính điều đó làm tôi hết chán đời , bi quan, và khi tôi chán nản, tôi cảm thấy như hơi khùng.

Một trong những “ bí quyết “ của tôi là tôi đã hết sức sống một cuộc đời bình thường , và không bao giờ – hoặc ít nhất cố không bao giờ -- tự cho mình là một “bệnh nhân AIDS”. Nói như vậy ,không có nghĩa là tôi chẳng có nhiều đêm mất ngủ, nhưng nói chung, tôi luôn luôn nghĩ đi lên, tới sự sống thay vì sự chết.

Nhờ ơn Thượng Đế, ngày nay, mọi việc õ khác hẳn. Không những chúng ta có một hệ thống thử nghiệm, mà còn có nhiều thuốc và cơ quan về AIDS để lựa chọn. Bởi vì tôi bị nhiễm HIV cách đây quá lâu, tôi rất được may mắn sống còn tới ngày nay. Nhưng hiện nay, bạn không cần may mắn để tiếp tục sống với HIV, bạn chỉ cần có can đảm đi thử nghiệm.

Muốn biết mọi chi tiết về ngăn ngừa và thử nghiệm HIV/AIDS, xin gọi số đặc biệt California AIDS (800) 346-AIDS (2437) hoặc APAIT số (213) 553-1830


(GHI CHÚ: Trên là bài thứ nhì trong loạt bài chống bệnh AIDS, viết bởi Rob Lai từ Los Angeles, một hội viên hoạt động thuộc ban Giám đốc của Asian Pacific AIDS Intervention Team (APAIT) và một trong những thuyết trình viên cho Văn Phòng AIDS sống cò. Oâng ta cũng tham dự vào chương trình thông báo và thử nghiệm HIV thuộc Bộ Y-Tế tiểu bang California)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.