Hôm nay,  

Cô Đã Trở Về

19/02/200500:00:00(Xem: 6938)
Tôi khai bút sớm vào một buổi chiều hoàng hôn 30 Tết. Nhìn cây mai vàng trước sân chùa năm nay lá nhiều hoa ít, nụ lưa thưa đứng một mình đìu hiu buồn không chịu nở. Chắc mai nhớ bạn là cành đào năm ngoái hoa đỏ thắm hồng trồng cạnh hàng rào, năm nay cây đào đã bị bứt gốc, chặt đi từ lúc nào. Những chậu lan, chậu cúc đâu còn đứng sắp hàng chào đón khách thập phương hai bên lối đi. Khu vườn nhỏ vắng hoa như vắng bàn tay chăm sóc của sư cô. Chỉ có tượng Phật Bà Quan Âm từ bi còn đó để hàng ngày chứng kiến và lắng nghe những niềm đau nỗi khổ của người thế gian.
Cây cỏ hình như cũng khoác một vẻ u sầu, ủ rũ với chủ nhân - Sư cô Như Ngọc - viện chủ chùa A Di Đà. Cô đang ốm nặng. Tôi đang viết về một sư cô đang chiến đấu với tử thần từng giây từng phút vào những ngày cuối năm, khi những tia nắng chiều hoàng hôn sắp tắt, cái lạnh cuối đông đang se sắt lòng người, thấm dần trong làn da, thớ thịt và mọi người ai ai cũng vội vã trở về mái nhà êm ấm chuẩn bị đón giao thừa.
Tôi và chị Hoa Thiện đăng ký…trực chùa vào ngày 30 tết. Cùng với sư cô Hoa Đạo và các Phật tử, mỗi người một tay lo chuẩn bị cúng Ngọ, cúng vong, dọn dẹp, trang trí bông đèn, hoa trái trên bàn thờ Phật, bàn thờ Tổ,v.v… Chùa A Di Đà đã có một khuôn mặt mới, sạch sẽ, khang trang chờ đón Cô trở về…
Đây không phải là một bệnh nhân bình thường, Cô là một nữ tu, một khuôn mặt quen thuộc trong hàng giáo phẩm Phật Giáo tại Orange County, một cái tên không xa lạ với những Phật tử thường xuyên đi chùa, một người phụ nữ hình như được sinh ra để làm việc xã hội không kém gì nam giới, một sư cô làm Phật sự quên mình, không ngơi nghỉ, một trái tim dễ xúc động bằng những giọt nước mắt trước những sự mất mát lớn, một tâm hồn văn học, một cây viết thường xuyên cho tờ Phật Giáo Việt Nam….
Tôi không nhớ rõ tôi có duyên với sư cô và chùa A Di Đà vào năm nào. Chỉ nhớ trong một chuyến đi Lộc Uyển, tôi mượn chị Lệ Hoa $20 mua chiếc áo tràng. Tôi hỏi địa chỉ để trả tiền chị, chị dặn dò đến chùa A Di Đà vào mỗi tối thứ Năm có tụng kinh, chị có mặt đều đặn ở đó. Chị Lệ Hoa là nhịp cầu nối liền giữa tôi và ngôi chùa.
Ngày đó, chùa A Di Đà còn nhỏ hẹp, sơ sài và bừa bộn lắm. Các bác Phật tử thuần thành và nòng cốt khoảng hơn 10 người, đa số là các bác lớn tuổi như bác Mười, bác Hòa, bác Sáu, bác Diệu Tuệ, bác Hoa Đạo…lứa tuổi sồn sồn có chị Hoa Thiện, chị Yến, chị Lệ Hoa, trẻ hơn có Mỹ Anh, Mỹ Hương,… Chùa nhỏ mà vui, không câu nệ, không hình thức, ai cũng lấy cái tình người và tâm đạo đối đãi với nhau. Sau buổi tụng kinh là một màn ăn uống ì sèo, hôm thì cháo khuya, hôm thì bún riêu, thức ăn trong chùa lúc nào cũng dư thừa cho Phật tử nào lỡ bước đến chùa, sư cô lúc nào cũng chu đáo đầy đặn cho những bữa ăn như thế.
Hồi đó, hai chữ hồi đó mới đây mà ngỡ như xa lắm. Các bác còn khỏe, trái tim của chị Lệ Hoa còn đập bình thường đều đặn nên chị tình nguyện làm tài xế đưa đón các bác. Bây giờ, cái vô thường đến mỗi giây, mỗi phút với tất cả mọi người, bác thì đi xa với con, bác thì đau yếu không đến được, bác thì không ai đưa đón, nhân sự càng ngày càng rơi rụng dần. Đó cũng là lúc chùa có thêm nhiều Phật tử mới, sư cô sửa sang lại chánh điện, phòng khách, garage, landscape, ngôi chùa rộng hơn và có một mặt tiền khang trang hơn. Sư cô làm Phật tử tích cực hơn, các thầy, sư cô từ xa về giảng pháp trong những ngày vía lớn, gia đình Phật tử Thiên Ân có chỗ rộng rãi thoải mái hơn để sinh hoạt. Quen thuộc và nổi bật nhất vẫn là hình ảnh cô lúc nào cũng rộn ràng, nhanh nhẹn, tại nhà bếp, cô lo những bữa ăn cho Ôn và các Thầy, tại phòng khách, cô tiếp đón, dặn dò các Phật tử…Trước những công việc Phật sự như thế, ai cũng đều nhắc nhở cô những bữa ăn bị…bỏ quên. Rất ít khi cô có một bữa ăn trọn vẹn, đầy đủ, chu đáo cho cô vì lúc nào cô cũng bận rộn, chạy đua với thời gian, công việc và lo cho người khác.
Tôi được tham dự nhiều chuyến đi Tour hành hương với cô. Có những chuyến đi sáng chiều về trong ngày như tour hành hương thập tự đầu năm, có những chuyến kéo dài một tuần như những chuyến thăm các chùa Bắc Cali Vancouver, các chuyến dự lễ lội Quan Âm ở Texas,v.v…Hình ảnh cô như một nữ tướng ngồi ở ghế đầu tiên sau người tài xế, hướng dẫn, một đoàn quân đa số là các bác lớn tuổi tham dự một cuộc hành quân mà ngày trở về Cali ai nay đều bơ phờ, mệt mỏi sau một chuyến đi dài. Mệt mà vui vì có quá nhiều kỷ niệm vui với cô trong chuyến hành hương.

Tôi nhớ mãi có một lần trong chuyến hành hương thăm Yosemite, trên đường về phải vượt qua các đoạn đường núi quanh co, ngoằn ngoèo, độ dốc càng ngày càng cao, trời tối sầm, mịt mù sương khói, tuyết rơi lả tả ngoài trời, cô nhắc nhở mọi người giữ chánh niệm, chỉ yên lặng và tụng kinh. Ông tài xế nhiều lần muốn ngừng xe để gắn lại sợi giây xích trong bánh xe nhưng tuyết rơi dầy quá, ông tiếp tục lái vượt qua các đoạn đường trơn trượt và dốc cao. Mãi đến khi trời tối, ghé vào tiệm Mac Donald nghỉ ngơi, tôi nói về những cái bánh xe không gắn những sợi giây xích an toàn, cô nhìn tôi mỉm cười nói : "Diệu Loan yên tâm đi mình đi hành hương luôn luôn có long thần hộ pháp và Phật Bà Quan Âm phù hộ độ trì, mình được mọi sự bình an". Cô có một niềm tin tuyệt đối vào sự linh thiêng và cảm ứng của Phật Bà Quan Âm, niềm tin ấy sáng ngời và long lanh trong ánh mắt cô. Cô rất bình tĩnh và cứng cỏi trong những trường hợp như vậy trong khi tôi ngồi trên xe mà hồi hộp tim đập mạnh, chỉ biết nhắm mắt và niệm thầm Quan Thế Âm Bồ Tát theo lời hướng dẫn của cô.
Cô rất ít khi ngồi yên vì bản tính của cô là type người tạm gọi là dynamic, ưa hoạt động. Cô lái xe băng băng với cái xe cà rịch cà tàng trước đây bao phen đã làm cho cô lỡ việc. Với cái xe mới, Cô lặn lội lên Los chăm lo sức khỏe cho ôn, cô đi thăm người bệnh, người chết, cô đi tụng niệm cầu an, cầu siêu. Khi thấy cô đi bác sĩ, ai nhắc nhở đến sức khỏe, cô mỉm cười cô biết mà, cô lo được chỉ vài viên thuốc Contact, cô khỏe lại, vẫn làm việc xông xáo, đề lại, tổ chức, sắp xếp công kia việc nọ… Bệnh tật hình như cũng "chừa" cô ra, hay…sợ cô" Các Phật tử nhắc nhở cô về các bữa ăn, thuốc men, thời tiết. Cô cười cười "Không sao đâu!" Cô khỏe thật thế rồi một ngày nọ Cô phải vào bệnh viện.
Các Phật tử thân cận đã đưa Cô vào bệnh viện Fountain Valley. Lần này, Cô không thể từ chối được vì cô không còn sức để chống đỡ được nữa. Bệnh thổ tả làm cho cô gầy sút người vì tuần lễ cô có ăn uống được gì đâu. Cô lại ăn chay. Trong người cô được nuôi dưỡng bằng giây nước biển. Các bác sĩ thử máu, làm test liên tục vẫn chưa tìm được bệnh. Cô nằm thiêm thiếp trong cơn mê, có lúc cô tỉnh, Cô nhận ra Ôn và các Phật tử, nước mắt cô long lanh chảy dài trên đôi má hóp. Tôi và các chị Phật tử vào thăm, côn còn tỉnh và tâm sự: "Lúc này nằm trên giường bệnh mới thấy không có sức khỏe thì không làm gì được cả." Chùa A Di Đà cần cô trở về để sửa soạn đón Tết Ất Dậu, các tour hành hương đang cần cô hướng dẫn. Các Phật tử an ủi cô và động viên cô tịnh dưỡng, chùa đã có mọi người lo từ A đến Z, mọi người nhắc cô niệm Phật, các Thầy, các Sư Cô và Phật tử tụng kinh hàng tối cầu an cho cô.
Cô nằm thiêm thiếp trong cơn mê. Bệnh cô càng ngày càng trở nặng, các bác sĩ vẫn chưa xác định được đó là bệnh gì dù đã hơn 10 ngày. Trong phòng chăm sóc đặc biệt, trên người cô là các sợi dây nước biển, ống thở, ống đổ thức ăn, ống tiếp máu…Các Thầy, các Sư cô và Phật tử vào thăm cô không tránh khỏi những giọt nước mắt cảm thương. Các bác sĩ đã tìm ra được bệnh và quyết định tiếp máu đồng thời dùng chemotherapy, trị liệu bằng hóa chất sau khi đã xác định được bệnh của cô.
Khi tôi viết những dòng này, sư cô đã mở mắt và tỉnh lại đôi chút. Cô đã bập bẹ các chữ "A Di Đà Phật" mặc dù chữ Phật còn ngọng nghịu, khó khăn trên đôi môi cô. Cô tỉnh lại là một niềm vui lớn cho tất cả các Phật tử quan tâm đến sức khỏe của cô từ trước tết cho đến bây giờ. Mạng sống của tất cả chúng ta đều vô thường, cũng như ai cũng trải qua cầu sinh tử. Cô đang chiến đấu với tử thần và từ cõi chết, cô đã trở về. Cô ơi, năm nay cô 62 tuổi đời, có một bài hát nổi tiếng của thế gian "Sáu mươi năm cuộc đời", 60 là một con số mà mỗi chúng ta phải quan tâm và chịu nhận, còn thừa lại là phần "bonus" của cuộc đời cho chúng ta đó. Cô đang được hồi sinh và từ từ sẽ hồi phục nhưng cô còn đủ và kịp thời gian để chuẩn bị cho mình một sinh hoạt mới, thói quen mới như cô phải…"nice" với sức khỏe của mình, cô phải "ke" các bữa ăn, cô phải bớt làm việc và nếu làm việc thì chỉ làm việc vừa sức, đừng "abuse" sức khỏe nữa, bởi vì nếu thân không khỏe thì không có phương tiện để mình tu mặc dù biết rằng một ngày nào đó cái thân rồi cũng vô thường.
Mỗi tối, các Thầy, các sư cô, các Phật tử đều ít nhiều dành những lời kinh cầu an cho cô nhân dịp đầu năm. Cô đã trở về, nói đúng hơn thần thức của cô đã trở về sau những ngày lang thang đâu đó. Cô có nhớ gì không trong "chuyến đi" này" Những kinh nghiệm của cô, khi nào cô khỏe, cô nhớ lại và kể cho các Phật tử nghe cô đã đi đâu, gặp ai, làm gì, thấy gì trong những ngày mê man ấy" Dù sao đi nữa…Cô đã trở về. Cuộc chiến đấu với bệnh tật rồi liên tục và quyết liệt nhưng Diệu Lan tin rằng Cô là một phụ nữ đầy nghị lực, cô sẽ không lùi bước trước căn bệnh dù có hiểm nghèo. Chung quanh cô và trên hết, những tiếng kinh cầu nguyện "Nam mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát" của các Phật tử luôn luôn bên cạnh cô sẽ vang lên hàng đêm trong các thời công phu tối: - Cô đã trở về.
Kính tặng Sư Cô Như Ngọc
Viện chủ Chùa A Di Đà
Cali ngày 14 tháng 2 năm 2005
Diệu Lan

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người nhập cư Việt Nam được biết đến với “đạo đức làm việc” mạnh mẽ của họ. Họ sẵn sàng bỏ ra nhiều giờ và hy sinh để đạt được mục tiêu của mình. Tính cần cù này đã giúp họ thành công trong nhiều lĩnh vực, bao gồm kinh doanh, giáo dục và các ngành nghề khác...
Sau một vài năm ở Mỹ và đã quen hơn với vùng đất mới của họ, những người nhập cư Việt Nam đã chuyển đến các khu vực đô thị lớn để tạo ra các “biệt khu dân tộc” (ethnic enclaves) với những người Mỹ gốc Á khác...
Từ đợt đầu di tản sau biến cố 30/4/1975, chừng 125,000 người. Vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, khi bộ đội miền Bắc tiến vào Sài Gòn, Hoa Kỳ đã ra lệnh sơ tán ngay lập tức nhân viên Hoa Kỳ và hàng nghìn quan chức quân sự và ngoại giao của miền Nam Việt Nam. Các kênh truyền hình tin tức Mỹ đã phát đi những hình ảnh đau lòng về cuộc không vận hỗn loạn, trong đó có đám đông công dân miền Nam Việt Nam tuyệt vọng tràn ngập ngoài cổng Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Làn sóng đầu tiên đến vào năm 1975 như một phần của 140.000 người của Đông Dương được sơ tán ban đầu qua lệnh của Tổng thống Gerald Ford. Những người tị nạn đó, hầu hết đều có trình độ học vấn và nói được một ít tiếng Anh, đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt từ công chúng Mỹ mong muốn được xóa bỏ ít nhiều mặc cảm tội lỗi về việc quân đội Mỹ đột ngột rời khỏi miền Nam Việt Nam. Đến năm 1978, kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái và sự chào đón nồng nhiệt này không còn nữa (1).
Giữa những hình ảnh cánh đồng hoa anh túc và những chiến hào sũng nước trong ký ức chung về Thế Chiến I, ít ai để ý đến sự hiện diện của các trại tù binh chiến tranh ở vùng đảo British Isles. Nhưng trong suốt cuộc chiến, Anh đã giam giữ gần 116,000 người trong các trại tù binh trên khắp đất nước, từ Cung điện Alexandra ở London đến một trang trại cũ trên Đảo Isle of Man. Trong số đó có một võ sĩ đấm bốc và nghệ sĩ biểu diễn xiếc người Đức tên là Joseph Pilates.
Cựu Trung tướng Phạm Quốc Thuần đã qua đời vào lúc 8 giờ sáng ngày Thứ Sáu 18-8-2023 tại Fountain Valley, California, hưởng thọ 98 tuổi. Ông sinh ngày 31-8-1926 tại Hà Đông. Trung tướng Phạm Quốc Thuần giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Bộ Binh (Thủ Đức) ngày 20-8-1969...
Bát Nhã Tâm Kinh của Phật học có câu “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Từ “sắc” trong câu kinh dùng để chỉ vật chất và những gì có hình tướng. Còn “không” là cái không bao giờ xẩy ra. Từ “không” được nhắc đến nhiều trong đạo Phật chính là “Chân Không Diệu Hữu”. Như vậy, “sắc tức thị không, không tức thị sắc” là nói đến “thật tướng” của vạn pháp và đấy chính là “vô tướng”, từ “cái không” do nhân duyên hợp lại thành “cái có”. Và, ngược lại, từ “cái có” tất yếu trở về “cái không”. Chu kỳ ấy là bất diệt, cứ tiếp nối nhau đến vô tận. Đó là cách tiếp cận theo triết học tôn giáo hay siêu hình học. Nhìn từ nhãn quan vật lý học, “cái có” có thể đến từ “cái không” được không? Theo thuyết Big Bang thì có vẻ là như thế. Vật chất tồn tại như ta nhìn thấy – hàng tỉ tỉ dải thiên hà, mỗi thiên hà có hàng tỉ tỉ ngôi sao, mỗi ngôi sao là một hệ thái dương có thể có nhiều hành tinh, mỗi hành tinh là một thế giới như quả đất chúng ta đang sinh sống – đến từ “cái không có gì”,
Nhân Lễ Tưởng Niệm Nhị vị Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy và Nguyễn Văn Bông được tổ chức ngày hôm nay 13/08/2023 tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng tiểu bang Victoria-Úc, Ban Tổ Chức có nhờ tôi chia sẻ đề tài “Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy nhà hoạt động chính trị chân chính”, dưới đây là một số điều tôi được biết về cuộc đời chính trị của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.
✱ Đs Anh/Đs Lodge: Đề xuất của Hồ Chí Minh về một hiệp định đình chiến - Nhu đã đáp lại rằng đề xuất này "không thực tế" nhưng có thể trở thành thực tế trong ba hoặc bốn tháng tới và đang được nghiên cứu. ✱ Báo Espresso, Italia: Ông Nhu sẵn lòng từ bỏ viện trợ Mỹ nếu đó là cái giá phải trả để loại bỏ sự hiện diện của người Mỹ - Nhu cho biết Việt Nam có thể tồn tại mà không cần người Mỹ - Ông Nhu phản ứng phẫn nộ khi người Mỹ muốn ông rời khỏi đất nước. ✱ Nhà báo M.West,Úc: Ông Nhu nói rằng ông muốn tất cả, lặp lại, tất cả các cố vấn Mỹ đều phải rời đi - Không có người Mỹ, chúng ta có thể thắng chiến tranh trong hai hoặc ba năm - Hiện nay trong ngoại giao Mỹ ở Việt Nam, không có đạo đức. ✱ Đại sứ Lodge: Chúng ta nên xem xét việc rút quân là một khả năng ngày càng gia tăng. Sự bắt đầu của việc rút quân có thể gây ra một cuộc đảo chính...
Một nhóm khoa học giả quốc tế đã thấy bằng chứng lâu đời nhất về cà ri bên ngoài Ấn Độ và cho thấy ý nghĩa lịch sử của hành trình mà các thành phần gia vị này đã trải qua để đến đó. Các nhà nghiên cứu từ Úc, Việt Nam và Trung Quốc đã tìm thấy món ăn này – được biết đến với hương vị cay nồng của đất, có nguồn gốc từ Nam Á và hiện đã phổ biến trên toàn cầu – có lẽ đã được đưa đến bàn ăn của người Việt Nam hơn 1800 năm trước nhờ mạng lưới thương mại hàng hải.
Ở Hoa Kỳ, khi ai đó qua đời, thường thì họ sẽ được ướp xác, đặt trong quan tài và chôn cất tại nghĩa trang (thổ táng), hoặc mang đi hỏa táng, phần tro cốt sẽ được trả lại cho gia đình, người thân. Tuy nhiên, thổ táng và hỏa táng nay đã không phải là các lựa chọn duy nhất. Ngày càng có nhiều nhà tang lễ, cả các công ty khởi nghiệp và tổ chức vô vụ lợi, cung cấp cho mọi người những nghi thức khác nhau dành cho người đã khuất. Trong tương lai, bối cảnh nghi thức tang lễ sẽ đa dạng hơn…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.