Hôm nay,  

Ngày Cuộc Đời Nở Hoa

11/05/200500:00:00(Xem: 5607)
(Do Diệu Mỹ trích từ băng giảng của Tỳ Kheo Thích Minh Hiếu.)
(Lễ Phật Đản tại Đạo Tràng Trúc Lâm.)
Trong suốt thời gian 49 năm hành đạo khi còn tại thế, đức Phật đã để lại một kho tàng giáo lý chứa đầy một trí tuệ siêu việt mà mãi cho đến hơn 2500 năm trôi qua hàng triệu người trên thế giới vẫn cảm thấy hạnh phúc khi được lắng nghe, thực tập và thụ hưởng những hỷ lạc từ nguồn trí tuệ phát sinh ra. Đức Phật đản sinh không những làm lợi lạc cho chư thiên, cho con người mà cho tất cả muôn loài.
Đức Phật có một cái nhìn đặc biệt đối với những giai cấp thấp kém và những thành phần yếu đuối như phụ nữ chẳng hạn trong xã hội vào thời đại cách đây hơn 2500 năm. Phật được sinh ra với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, nhưng tất cả những tướng mạo tốt đẹp là báo thân của một công phu tu tập trong nhiều đời, nhiều kiếp để tạo thành một tâm hồn và nhân cách toàn bích. Vì thông hiểu cái liên hệ giữa vẻ đẹp và con đường tu tập cho nên đức Phật hổ trợ cho những phái đẹp tu hành thế nào và đưa ra những điều kiện làm cho người nữ có thể tồn tại và đứng ngang hàng với Tăng đoàn. Lịch sử Phật giáo có ghi lại nhiều mẫu chuyện huyền thoại, nhưng thay vì nhuộm vẻ mê tín lại đầy ý nghĩa nói lên công phu tu tập của Phật mà không thể dùng ngôn ngữ bình thường hoặc mẫu chuyện bình thường để minh họa hết vẻ đẹp cao thượng, nhân ái của Phật. Những mẫu chuyện đó cho thấy rằng mãi mãi đức Phật vẫn là hiện thân của một sự vi diệu, trác tuyệt tức là đẹp từ tướng hảo trang nghiêm cho đến nhân cách siêu phàm trần thế.
Bài tán Phật trong thiền môn thường đọc như sau:
“Phật thân thanh tịnh tợ lưu ly
Phật diện do như mãn nguyệt huy”
Thân của Phật thanh tịnh như là lưu ly và mặt Phật như là trăng tròn sáng. Đây nói lên báo thân hoặc công đức thân được thành tựu do công phu tu tập nhiều đời và hy sinh vì chúng sanh.
“Phật tại thế gian thường cứu khổ,
Phật tâm vô xứ bất từ bi”
có nghĩa là bất cứ chúng sanh nào đau khổ là Phật hiện để làm vơi đi khổ đau và không chỗ nào nhỏ như vi trần mà không có từ bi tâm của Phật.
Giới rất là quan trọng trong đạo Phật bởi vì giới bảo vệ vai trò của người nam và nữ để có thể tiếp nhận và ổn định cuộc sống để trở thành bậc hiền nhân trong tương lai. Phật nói là khi người nữ trưởng thành thì có 5 nỗi buồn riêng tư: về nhà chồng không có bà con quyến thuộc, bệnh của mỗi tháng, thời gian mang thai làm cho mệt mỏi, nhan sắc xấu xí, mất sức khỏe và đau đớn khi sinh con, và bổn phận phục vụ chồng con suốt cuộc đời. Nếu như người phụ nữ tạo một công đức lực thù thắng thì vẫn có hạnh phúc tại gia hoặc xuất gia.
Nữ giới tại gia:
· Nói về cuộc sống, sắc đẹp, tài sản, gia đình, hạnh phúc thì người phụ nữ có 5 điều mơ ước:
1. Được sinh trong gia đình phú quý
2. Lập gia thất với gia đình phú quý
3. Không có người nữ khác phá hoại hạnh phúc của mình
4. Sinh được những người con và nhất là con trai
5. Chinh phục được người chồng của mình
Ngày Đản Sinh còn nhắc đến một điều quan trọng trong lịch sử là thời của đức Phật phụ nữ coi như là thấp kém nhất trong xã hội và Phật đã dẹp bỏ ý tưởng trọng nam, khinh nữ. Ngài nói rằng Phật tử nữ đóng một vai trò lớn trong sự truyền kỳ và làm cho chánh pháp tồn vong. Ngày Đản Sinh của Phật cũng nhắc nhở đến sự chuyển biến người phụ nữ từ yếu đuối trở thành người mạnh mẽ và bình đẳng trong vai trò chúng bộ. Cho nên từ khi Phật đản sinh cho đến ngày nay, đạo từ bi, giác ngộ, và sức mạnh của trí tuệ đã được nâng lên cho tất cả mọi loài kể cả nam lẫn nữ bình đẳng như nhau trên con đường giác ngộ và giải thoát.
Nữ giới xuất gia:
Thường người ta nói là người nữ do vì nghiệp nặng nên phải giữ nhiều giới hơn người nam (Tỳ Kheo 250 giới, Tỳ Kheo Ni 348 giới). Đây là một sự hiểu lầm bởi vì Phật chế thêm giới cho Tỳ Kheo Ni là để hổ trợ và bảo vệ phụ nữ xuất gia được an toàn hơn trong cuộc sống của họ. Giới là vũ khí cho nên với nhiều giới để giữ thì Tỳ Kheo Ni được trang bị đầy đủ và mạnh mẽ ngang hàng với Tỳ Kheo.
Giáo lý của Phật là giáo lý của bình đẳng, của thương yêu, và của trí tuệ. Với giáo lý này, điều cần thiết là người phụ nữ có thể mở được cái tâm lượng rộng rãi, lòng bao dung hay không để tương ưng với cái tâm từ của đức Phật. Có rất nhiều biện luận, tư duy về vai trò của phụ nữ trong xã hội và tôn giáo, nhưng từ ngày đức Phật ra đời và từ ngày Phật chứng ngộ chúng ta thấy rõ sự bình đẳng trong các giới. Chúng ta hãy noi gương chư Phật, chư Thầy Tổ đã nhọc công hy hiến cuộc đời của họ, không hề phân biệt nam, nữ, sang, hèn, và ghi nhớ tinh thần trí tuệ, lòng bao dung nở hoa thương yêu của các ngài để ngày Phật Đản mãi mãi bất diệt trong lòng chúng ta.
*
(Lễ Phật Đản tại Chùa Huyền Quang, Bankstown, Sydney, Úc)
Bất cứ ngày nào mà người Phật tử còn tưởng nhớ đến đức Phật, còn hiểu về đức Phật và sống như những gì Phật dạy thì đó là ngày cuộc đời nở hoa chào mừng đức Phật ra đời. Cái từ “đản sinh” là ngày sinh đem lại niềm vui cho cuộc đời. Cái từ “giáng sinh” là nói về một đấng cứu thế từ một cảnh giới cao gọi là cung trời Đâu Xuất thị hiện trong cõi đời này sống khổ nhọc, mỏi mệt để làm cho cuộc đời trở nên những đóa hoa tươi mát tức là đóa hoa giác ngộ và tình thương.
Khi Phật chưa ra đời, cuộc sống tại Ấn Độ có rất nhiều thống khổ về cả vật chất lẫn tinh thần. Người dân Ấn Độ thời đó rất đông, sống trong cực khổ và sự phân chia giai cấp rất là trầm trọng. Giai cấp như là Bà La Môn, Sát Đế Lợi, Phệ Xá, Thủ Đà La, và cho đến ngày nay xã hội Ấn Độ vẫn còn những phân biệt đó. Đức Phật đã ra đời và đánh lên tiếng chuông cảnh tỉnh nhân loại trong vai trò bình đẳng. Do đó, ngày Đản Sinh của đức Phật thật sự là ngày nở hoa.
1. Từ địa vị con vua, có vợ đẹp, con xinh, ngài đã bỏ hết tất cả để vào rừng tu 6 năm khổ hạnh và 5 năm tìm đạo. Cuối cùng ngài đã đắc được ngôi vị chánh đẳng, chánh giác và trở lại cuộc sống bình thường dưới dạng một tu sĩ mặc áo vải với nhiều mảnh vá, ôm bát, đi chân không, hoằng hóa suốt khu vực sông Hằng trong 49 năm. Thời gian của 49 năm, ngài đã khai mở với thương yêu, bình đẳng, và do đó tất cả mọi nơi đều được nở hoa. Phật đã nói với ông Ni Đề (người gánh phân của giai cấp Thủ Đà La trong thời xưa của xứ Ấn Độ bị coi như là thấp hèn nhất) rằng: “Không có giai cấp trong giọt nước mắt cùng mặn và trong giòng máu cùng đỏ. Giáo lý của ta từ nam, nữ, già, trẻ, nghèo, giàu, sang, hèn, nếu ai có quyết chí, nếu ai muốn tìm con đường giác ngộ để thoát cảnh khổ đau thì người đó đều được xuất gia.” Ngài đã cho phép ông Ni Đề xuất gia và đó là cánh hoa thứ nhất mà vẫn còn ngát hương cho đến nay.

2. Ngài nhận mảnh vườn xoài do một người kỷ nữ tặng, kiến tạo vườn đó thành tịnh xá và còn cho vị kỷ nữ này xuất gia. Đây là đóa hoa thứ hai đã nở.
3. Ngài còn độ cho một người sát nhân nổi tiếng hung dữ và nói rằng: “Nếu người nào biết buông bỏ những quá khứ của mình, quyết tâm từ bỏ con đường ác nghiệp thì người đó có thể tu hành để đạt quả vị như nhau.” Đây là đóa hoa thứ ba.
Cho nên, chúng ta thấy rằng dù chúng ta ở trong giai cấp nào, ở trong một vị trí nào, ở trong một hoàn cảnh nào tận cùng ở dưới đáy vực chúng ta vẫn có thể vươn lên để học đạo, để giác ngộ và cuối cùng thành tựu. Chẳng hạn như ngài Ưu Ba Ly, một trong thập đại đệ tử của Phật, trước khi xuất gia là ở trong giai cấp rất thấp trong xã hội mà sau khi xuất gia, ngài là đệ nhất về giới luật. Như vậy, những ai quyết đi tìm chân lý đều được giáo hóa bởi giáo lý của đức Phật và đó là những đóa hoa mà đức Phật đã mang lại cho cuộc đời.
Đức Phật đã khuyên dạy mọi người rằng: “Từ trẻ, già, trai, gái, mọi người ai cũng nên nổ lực tu tập để giải thoát giác ngộ bởi vì trần gian chỉ là quán trọ và kiếp con người giống như khách lữ hành dừng chân tạm rồi một lúc nào đó phải ra đi.”
Thi sĩ Trụ Vũ làm câu thơ như sau:
“Đêm nào đêm chẳng sáng trăng
Ngày nào ngày chẳng là rằm tháng Tư”
Ngày nào mà chúng ta phá vỡ vô minh, phiền não, quyết chí tu hành thì chúng ta sẽ đạt quả vị giống như đức Phật. Đức Phật đã tuyên bố rằng: “Như Lai là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành.”
Ngày rằm tháng Tư là ngày ra đời của một người đã làm nở hoa thương yêu, hoa bình đẳng, hoa giác ngộ cho cuộc sống. Lịch sử có kể rằng khi hoàng hậu Ma Da đưa tay hái hoa Vô Ưu (hoa này 1000 năm mới nở một lần) thì Phật từ trong nách bà nhảy ra và đi 7 bước với mỗi bước đi là 1 hoa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, ngài nói rằng: “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn. Vô lượng sinh tử ư kim tận hỷ.” Nhiều người thắc mắc là có ai mà sinh ra từ nách chăng hoặc có ai mới sinh ra mà lại đi được chăng, v..v… Chúng ta hãy đừng tìm kiếm sâu sa những huyền thoại trong lịch sử mà hãy nên nhớ đến những gì đức Phật đem lại cho cuộc đời, đó là ánh sáng của từ bi, ánh sáng của giác ngộ, ánh sáng khai mở tâm linh và làm thay đổi, nở hoa cho toàn thể nhân loại. Đức Phật ra đời vì hạnh phúc cho chư thiên, cho loài người và tất cả chúng sanh. Điều này là đã quá đầy đủ ý nghĩa, cho nên những huyền thoại được nêu lên cho một đấng giáo chủ thì không có gì đáng phải thắc mắc cả. Sự trùng hợp mà chúng ta nhận thấy từ lịch sử là Phật sanh ra dưới gốc cây tại vườn Lâm Tỳ Ni, thành đạo dưới gốc cây Bồ Đề và chết dưới gốc cây Sa La Song Thọ. Điểm này cho thấy rằng dù là đức Phật được sanh ra trong một cảnh vương giả, ngài lại là một người giản dị bởi vì ngài sống giản dị và chết cũng giản dị. Do đó, chúng ta là những người con của Phật thì chúng ta cũng nên giản dị giống như ngài vậy và đừng tìm cầu những gì cao sang, mỹ vị.
Chúng ta kỷ niệm ngày Phật ra đời là chúng ta tự soi xét, tự nhắc nhở rằng làm đệ tử Phật, xưng danh là Phật tử thì chúng ta đã suy nghĩ gì, làm được gì nhân ngày đản sanh, và đây là yếu tố quan trọng nhất. Đức Phật nói rằng: “Những đệ tử của ta sau này chỉ có một con đường thừa tự duy nhất đó là thừa tự chánh pháp. Ta ra đời với một mục đích duy nhất đó là tuyên bố đây là khổ, đây là nguyên nhân của sự khổ, đây là con đường diệt khổ và đây là diệt khổ. Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hỡi những người rất thân yêu của ta.” Gia sản Phật để lại là trí tuệ, thương yêu và hiểu biết.
Cổ nhân có câu: “Thú chết thì để da, người chết thì để tiếng.” Ngày Đản Sinh của Phật cách đây hơn 2500 năm mà mỗi lần tưởng niệm ngày Đản Sinh thì Phật tử vẫn bâng khuâng, xúc động tưởng nhớ đến công lao của Phật đã phá tan những giai cấp, những thành kiến, những bất công trong cuộc đời để mang lại niềm thương yêu, hạnh phúc cho tất cả mọi người và làm cho tất cả lộ trình trong Ấn Độ được nở hoa. Cho đến ngày nay, chúng ta có mặt tại mọi nơi trên thế giới đem theo ánh sáng, hương hoa của đức Phật và đem theo cành hoa giác ngộ của ngày Đản Sinh để làm cho mọi người hiểu về cuộc sống, nhân cách của đức Phật.
Chúng ta hân hoan mừng ngày đức Phật đản sinh cũng đồng nghĩa rằng chúng ta tự suy nghiệm về cuộc đời của mình để nhận thấy là chúng ta đang sống giống như Phật chưa. Nếu như chúng ta xưng danh là đệ tử của Phật, dù xuất gia hay tại gia, thì ít ra chúng ta cũng phải làm theo những gì Phật đã làm. Phật đã từ bỏ cuộc sống vương giả, đi vào lòng người để tìm hiểu, thương yêu và mở con đường giác ngộ cho chúng sanh. Trong khi chúng ta còn tham chấp, phiền não, khổ đau, và như vậy thì chúng ta hiểu rằng những gì chúng ta học Phật đã chưa thấm, chưa hóa giải được những khổ đau trong lòng. Khi nào chúng ta đón ngày Phật Đản mà chúng ta cảm thấy sự bình đẳng, thương yêu, không phân biệt giàu nghèo, hơn thua, không thấy sự cách biệt giữa giai cấp, nam nữ, tuổi tác thì chúng ta đã đón mừng ngày Phật Đản một cách xứng đáng và đúng nghĩa.
Chúng ta tổ chức Lễ Phật Đản với một tâm nguyện rằng chúng ta là người con Phật, thừa tự những gì đức Phật để lại để làm rạng ngời cho Phật giáo tại mọi nơi, mọi chốn trên thế giới. Chúng ta phải làm thế nào cho Lễ Phật Đản trở thành một ấn tượng đầy màu sắc, đầy hương hoa giác ngộ giống như ngày sinh của đức Phật. Cho nên, mỗi người chúng ta hãy trồng một cành hoa giác ngộ để cho những dân tộc trên thế giới, và những thế hệ trong tương lai biết rằng con người của đức Phật đản sinh hơn 2500 năm vẫn tiếp tục nở hoa và vẫn làm ngát hương cuộc đời. Như vậy, ngày rằm tháng Tư còn gọi là ngày cuộc đời nở hoa.
Kính chúc tất cả các Phật tử một đại Lễ Phật Đản đầy hân hoan, an lạc, hạnh phúc và thương yêu mãi mãi giống như những gì đức Phật đã trao truyền cho chúng ta.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(Pháp đàm của Tỳ Kheo Thích Minh Hiếu trụ trì Minh Quang Thiền Viện tại 30-32 Chadderton Street, Canley Vale, Sydney, NSW 2166, Australia ( http://www.minhquangthienvien.com ) trong dịp dự Lễ Phật Đản PL 2547 (TL 2003) tại Đạo Tràng Trúc Lâm và Chùa Huyền Quang.)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hai trăm mười một năm trước, mùa hè năm 1814, quân Anh kéo vào Washington. Trước khi phóng hỏa Bạch Ốc, họ ngồi xuống dùng bữa tại bàn tiệc đã dọn sẵn cho Tổng thống James Madison. Khi bữa ăn kết thúc, lính Anh đốt màn, đốt giường, và tòa nhà bốc cháy suốt đêm. Sáng hôm sau, cơn mưa lớn chỉ còn rửa trôi phần tro tàn của nơi từng là biểu tượng cho nền cộng hòa non trẻ. Tuần này, phần Cánh Đông của Bạch Ốc bị phá sập. Không phải bởi ngoại bang, mà bởi chính quyền tại vị. Và lần này, không ai được báo trước. Người Mỹ chỉ biết chuyện qua những bức ảnh máy xúc cày nát nền nhà, cùng lời xác nhận ngắn ngủi từ các viên chức trong chính phủ.
Hai trăm năm rưỡi sau ngày dựng cờ độc lập, nước Mỹ vẫn chưa thoát khỏi chiếc bóng của bạo lực. Mỗi khi một viên đạn nổ, người ta lại nói: “Đây không phải là nước Mỹ.” Nhưng chính câu nói ấy lại là cách người Mỹ tránh nhìn thẳng vào chính mình. Bài viết của giáo sư Maurizio Valsania (Đại học Torino), đăng trên The Conversation ngày 12 tháng 9, 2025, nhắc lại lịch sử mà nhiều người muốn quên: từ nhựa đường và lông gà đến súng ngắn buổi bình minh — một mạch dài nối liền hai thế kỷ, nơi tự do và bạo lực chảy cùng dòng máu.
Một cuộc thăm dò dư luận của AP-NORC thực hiện vào tháng 9 & 10 cho thấy hầu hết dân Mỹ coi việc chính phủ đóng cửa hiện tại là một vấn đề nghiêm trọng và đổ lỗi cho cả hai Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ và cả Tổng Thống Trump với những tỷ lệ gần như ngang nhau. Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ lo lắng về kinh tế, lạm phát và bảo đảm việc làm. Họ đang giảm những chi tiêu không thiết yếu như quần áo và nhiên liệu. Đa số cho rằng nền kinh tế yếu kém. Chi phí thực phẩm, nhà ở và chăm sóc sức khỏe được coi là những nguồn chính gây khó khăn tài chính.
Trên cao nguyên Tây Tạng – vùng đất được mệnh danh là “nóc thế giới” – hàng triệu tấm pin mặt trời trải rộng đến tận chân trời, phủ kín 420 cây số vuông, tức hơn bảy lần diện tích đảo Manhattan. Tại đây, ánh nắng gay gắt của không khí loãng ở độ cao gần 10.000 bộ trở thành mỏ năng lượng khổng lồ cho Trung Hoa. Giữa thảo nguyên lạnh và khô, những hàng trụ gió nối dài trên triền núi, các con đập chắn ngang dòng sông sâu, cùng đường dây cao thế băng qua sa mạc, hợp thành một mạng lưới năng lượng sạch lớn nhất thế giới. Tất cả đổ về đồng bằng duyên hải, cung cấp điện cho các thành phố và khu kỹ nghệ cách xa hơn 1.600 cây số.
Mức asen cao được phát hiện trên sông Mê Kông, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng lan rộng ở Đông Nam Á. Các sông Mã, Chu và Lam của Việt Nam đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đất hiếm ở Lào, tác động đến nguồn nước của hàng chục triệu người và di sản cổ đại văn hóa Đông Sơn. Việt Nam cần phối hợp ngoại giao, giám sát khoa học và vận động cộng đồng để bảo vệ các dòng sông này. Khác với sông Mê Kông được giám sát và hợp tác thông qua Ủy hội Sông Mê Kông (MRC), các dòng sông Mã, Chu và Lam lại không có bất kỳ hiệp ước quốc tế nào. Do đó, Lào và đối tác Trung Quốc không có nghĩa vụ pháp lý phải giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Sự thiếu vắng các thỏa thuận ràng buộc này đòi hỏi Việt Nam phải hành động bảo vệ dân cư và sinh mệnh các dòng sông này
Tuần lễ Nobel năm 2025 đã khởi đầu tại Stockholm với giải thưởng đầu tiên thuộc lĩnh vực sinh lý học hoặc y khoa, mở màn cho chuỗi công bố kéo dài đến ngày 13 tháng Mười. Ba nhà khoa học Mary Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi được trao Giải Nobel Y khoa 2025 cho công trình “khám phá cơ chế dung nạp miễn dịch ngoại vi”, nền tảng của nhiều hướng nghiên cứu mới trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn nhiễm. Các giải thưởng còn lại sẽ được công bố như sau: - 7 tháng Mười: Vật lý - 8 tháng Mười: Hóa học - 9 tháng Mười: Văn chương - 10 tháng Mười: Hòa bình - 13 tháng Mười: Kinh tế học
Từ tháng 11/2000 đến nay, chưa từng có một ngày nào mà con người vắng bóng ngoài quỹ đạo Trái đất. Trạm Không Gian Quốc Tế International Space Station (ISS) đã duy trì sự hiện diện liên tục suốt 25 năm, với ít nhất một phi hành gia Hoa Kỳ thường trực trên quỹ đạo thấp. Trong lịch sử bay vào vũ trụ, hiếm có thành tựu nào sánh bằng ISS: một công trình chung của Hoa Kỳ, châu Âu, Canada, Nhật Bản và Nga – biểu tượng của sự hợp tác vượt lên trên chính trị. Nhưng mọi hành trình đều có hồi kết. Năm 2030, con tàu khổng lồ này sẽ được điều khiển rơi xuống một vùng hẻo lánh ở Thái Bình Dương.
50 năm sau và thêm 8 đời tổng thống Mỹ, tuy Việt Nam nay không còn là quan tâm của đại đa số quần chúng như thời chiến tranh, nhưng một nước Việt Nam thống nhất về địa lý vẫn nằm trong chiến lược của Mỹ và vẫn được các nhà nghiên cứu về chính trị, sử, xã hội, kinh tế, quốc phòng và những nhà hoạt động môi trường, xã hội dân sự, những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền quan tâm vì những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh và các chính sách của Hà Nội. Những chủ đề liên quan đã được trình bày trong một hội nghị quốc tế tổ chức vào hai ngày 18 và 19/9/2025 tại Đại học U.C. Berkeley với sự tham dự của nhiều học giả, nghiên cứu sinh từ các đại học Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Pháp; cùng các cựu lãnh đạo, phóng viên, nhà hoạt động.
Tùy vào diễn biến trong dòng chảy xã hội mà người ta thường hay nhắc hoặc nhớ về một nhân vật nào đó của lịch sử. Ngay lúc này, tôi nhớ về Charlie Charplin – người đàn ông với dáng đi loạng choạng trong đôi giày quá khổ, với cây ba-ton, gương mặt trẻ con, tinh khôi nhưng láu cá, nổi bật với chòm râu “Hitler”, ánh mắt sâu thẳm như vác cả một thế giới trên vai
Con người? Nhân loại? Chúng ta đều biết những nhân vật này từ rất lâu. Họ đến từ một loài vượn đặc biệt có trí thông minh muốn vượt lên con vượn và họ trở thành con người, như nhà khoa học triết gia Charles Darwin đã lập thuyết. Hoặc họ được nặn ra từ đất sét rồi bị đuổi khỏi vườn địa đàng, đi lang thang khắp nơi tạo ra nhân loại như Thánh kinh đã ghi chép. Dù họ đến từ đâu, chúng ta đều phải ca ngợi khả năng tiến bộ không ngừng của họ. Dù họ xấu tính cách nào, hung ác ra sao, điên rồ cách mấy, chúng ta cũng phải ngưỡng mộ ý muốn cao cả của họ: Làm cho con người và đời sống tốt đẹp hơn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.