Hôm nay,  

Ngày Cuộc Đời Nở Hoa

11/05/200500:00:00(Xem: 5612)
(Do Diệu Mỹ trích từ băng giảng của Tỳ Kheo Thích Minh Hiếu.)
(Lễ Phật Đản tại Đạo Tràng Trúc Lâm.)
Trong suốt thời gian 49 năm hành đạo khi còn tại thế, đức Phật đã để lại một kho tàng giáo lý chứa đầy một trí tuệ siêu việt mà mãi cho đến hơn 2500 năm trôi qua hàng triệu người trên thế giới vẫn cảm thấy hạnh phúc khi được lắng nghe, thực tập và thụ hưởng những hỷ lạc từ nguồn trí tuệ phát sinh ra. Đức Phật đản sinh không những làm lợi lạc cho chư thiên, cho con người mà cho tất cả muôn loài.
Đức Phật có một cái nhìn đặc biệt đối với những giai cấp thấp kém và những thành phần yếu đuối như phụ nữ chẳng hạn trong xã hội vào thời đại cách đây hơn 2500 năm. Phật được sinh ra với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, nhưng tất cả những tướng mạo tốt đẹp là báo thân của một công phu tu tập trong nhiều đời, nhiều kiếp để tạo thành một tâm hồn và nhân cách toàn bích. Vì thông hiểu cái liên hệ giữa vẻ đẹp và con đường tu tập cho nên đức Phật hổ trợ cho những phái đẹp tu hành thế nào và đưa ra những điều kiện làm cho người nữ có thể tồn tại và đứng ngang hàng với Tăng đoàn. Lịch sử Phật giáo có ghi lại nhiều mẫu chuyện huyền thoại, nhưng thay vì nhuộm vẻ mê tín lại đầy ý nghĩa nói lên công phu tu tập của Phật mà không thể dùng ngôn ngữ bình thường hoặc mẫu chuyện bình thường để minh họa hết vẻ đẹp cao thượng, nhân ái của Phật. Những mẫu chuyện đó cho thấy rằng mãi mãi đức Phật vẫn là hiện thân của một sự vi diệu, trác tuyệt tức là đẹp từ tướng hảo trang nghiêm cho đến nhân cách siêu phàm trần thế.
Bài tán Phật trong thiền môn thường đọc như sau:
“Phật thân thanh tịnh tợ lưu ly
Phật diện do như mãn nguyệt huy”
Thân của Phật thanh tịnh như là lưu ly và mặt Phật như là trăng tròn sáng. Đây nói lên báo thân hoặc công đức thân được thành tựu do công phu tu tập nhiều đời và hy sinh vì chúng sanh.
“Phật tại thế gian thường cứu khổ,
Phật tâm vô xứ bất từ bi”
có nghĩa là bất cứ chúng sanh nào đau khổ là Phật hiện để làm vơi đi khổ đau và không chỗ nào nhỏ như vi trần mà không có từ bi tâm của Phật.
Giới rất là quan trọng trong đạo Phật bởi vì giới bảo vệ vai trò của người nam và nữ để có thể tiếp nhận và ổn định cuộc sống để trở thành bậc hiền nhân trong tương lai. Phật nói là khi người nữ trưởng thành thì có 5 nỗi buồn riêng tư: về nhà chồng không có bà con quyến thuộc, bệnh của mỗi tháng, thời gian mang thai làm cho mệt mỏi, nhan sắc xấu xí, mất sức khỏe và đau đớn khi sinh con, và bổn phận phục vụ chồng con suốt cuộc đời. Nếu như người phụ nữ tạo một công đức lực thù thắng thì vẫn có hạnh phúc tại gia hoặc xuất gia.
Nữ giới tại gia:
· Nói về cuộc sống, sắc đẹp, tài sản, gia đình, hạnh phúc thì người phụ nữ có 5 điều mơ ước:
1. Được sinh trong gia đình phú quý
2. Lập gia thất với gia đình phú quý
3. Không có người nữ khác phá hoại hạnh phúc của mình
4. Sinh được những người con và nhất là con trai
5. Chinh phục được người chồng của mình
Ngày Đản Sinh còn nhắc đến một điều quan trọng trong lịch sử là thời của đức Phật phụ nữ coi như là thấp kém nhất trong xã hội và Phật đã dẹp bỏ ý tưởng trọng nam, khinh nữ. Ngài nói rằng Phật tử nữ đóng một vai trò lớn trong sự truyền kỳ và làm cho chánh pháp tồn vong. Ngày Đản Sinh của Phật cũng nhắc nhở đến sự chuyển biến người phụ nữ từ yếu đuối trở thành người mạnh mẽ và bình đẳng trong vai trò chúng bộ. Cho nên từ khi Phật đản sinh cho đến ngày nay, đạo từ bi, giác ngộ, và sức mạnh của trí tuệ đã được nâng lên cho tất cả mọi loài kể cả nam lẫn nữ bình đẳng như nhau trên con đường giác ngộ và giải thoát.
Nữ giới xuất gia:
Thường người ta nói là người nữ do vì nghiệp nặng nên phải giữ nhiều giới hơn người nam (Tỳ Kheo 250 giới, Tỳ Kheo Ni 348 giới). Đây là một sự hiểu lầm bởi vì Phật chế thêm giới cho Tỳ Kheo Ni là để hổ trợ và bảo vệ phụ nữ xuất gia được an toàn hơn trong cuộc sống của họ. Giới là vũ khí cho nên với nhiều giới để giữ thì Tỳ Kheo Ni được trang bị đầy đủ và mạnh mẽ ngang hàng với Tỳ Kheo.
Giáo lý của Phật là giáo lý của bình đẳng, của thương yêu, và của trí tuệ. Với giáo lý này, điều cần thiết là người phụ nữ có thể mở được cái tâm lượng rộng rãi, lòng bao dung hay không để tương ưng với cái tâm từ của đức Phật. Có rất nhiều biện luận, tư duy về vai trò của phụ nữ trong xã hội và tôn giáo, nhưng từ ngày đức Phật ra đời và từ ngày Phật chứng ngộ chúng ta thấy rõ sự bình đẳng trong các giới. Chúng ta hãy noi gương chư Phật, chư Thầy Tổ đã nhọc công hy hiến cuộc đời của họ, không hề phân biệt nam, nữ, sang, hèn, và ghi nhớ tinh thần trí tuệ, lòng bao dung nở hoa thương yêu của các ngài để ngày Phật Đản mãi mãi bất diệt trong lòng chúng ta.
*
(Lễ Phật Đản tại Chùa Huyền Quang, Bankstown, Sydney, Úc)
Bất cứ ngày nào mà người Phật tử còn tưởng nhớ đến đức Phật, còn hiểu về đức Phật và sống như những gì Phật dạy thì đó là ngày cuộc đời nở hoa chào mừng đức Phật ra đời. Cái từ “đản sinh” là ngày sinh đem lại niềm vui cho cuộc đời. Cái từ “giáng sinh” là nói về một đấng cứu thế từ một cảnh giới cao gọi là cung trời Đâu Xuất thị hiện trong cõi đời này sống khổ nhọc, mỏi mệt để làm cho cuộc đời trở nên những đóa hoa tươi mát tức là đóa hoa giác ngộ và tình thương.
Khi Phật chưa ra đời, cuộc sống tại Ấn Độ có rất nhiều thống khổ về cả vật chất lẫn tinh thần. Người dân Ấn Độ thời đó rất đông, sống trong cực khổ và sự phân chia giai cấp rất là trầm trọng. Giai cấp như là Bà La Môn, Sát Đế Lợi, Phệ Xá, Thủ Đà La, và cho đến ngày nay xã hội Ấn Độ vẫn còn những phân biệt đó. Đức Phật đã ra đời và đánh lên tiếng chuông cảnh tỉnh nhân loại trong vai trò bình đẳng. Do đó, ngày Đản Sinh của đức Phật thật sự là ngày nở hoa.
1. Từ địa vị con vua, có vợ đẹp, con xinh, ngài đã bỏ hết tất cả để vào rừng tu 6 năm khổ hạnh và 5 năm tìm đạo. Cuối cùng ngài đã đắc được ngôi vị chánh đẳng, chánh giác và trở lại cuộc sống bình thường dưới dạng một tu sĩ mặc áo vải với nhiều mảnh vá, ôm bát, đi chân không, hoằng hóa suốt khu vực sông Hằng trong 49 năm. Thời gian của 49 năm, ngài đã khai mở với thương yêu, bình đẳng, và do đó tất cả mọi nơi đều được nở hoa. Phật đã nói với ông Ni Đề (người gánh phân của giai cấp Thủ Đà La trong thời xưa của xứ Ấn Độ bị coi như là thấp hèn nhất) rằng: “Không có giai cấp trong giọt nước mắt cùng mặn và trong giòng máu cùng đỏ. Giáo lý của ta từ nam, nữ, già, trẻ, nghèo, giàu, sang, hèn, nếu ai có quyết chí, nếu ai muốn tìm con đường giác ngộ để thoát cảnh khổ đau thì người đó đều được xuất gia.” Ngài đã cho phép ông Ni Đề xuất gia và đó là cánh hoa thứ nhất mà vẫn còn ngát hương cho đến nay.

2. Ngài nhận mảnh vườn xoài do một người kỷ nữ tặng, kiến tạo vườn đó thành tịnh xá và còn cho vị kỷ nữ này xuất gia. Đây là đóa hoa thứ hai đã nở.
3. Ngài còn độ cho một người sát nhân nổi tiếng hung dữ và nói rằng: “Nếu người nào biết buông bỏ những quá khứ của mình, quyết tâm từ bỏ con đường ác nghiệp thì người đó có thể tu hành để đạt quả vị như nhau.” Đây là đóa hoa thứ ba.
Cho nên, chúng ta thấy rằng dù chúng ta ở trong giai cấp nào, ở trong một vị trí nào, ở trong một hoàn cảnh nào tận cùng ở dưới đáy vực chúng ta vẫn có thể vươn lên để học đạo, để giác ngộ và cuối cùng thành tựu. Chẳng hạn như ngài Ưu Ba Ly, một trong thập đại đệ tử của Phật, trước khi xuất gia là ở trong giai cấp rất thấp trong xã hội mà sau khi xuất gia, ngài là đệ nhất về giới luật. Như vậy, những ai quyết đi tìm chân lý đều được giáo hóa bởi giáo lý của đức Phật và đó là những đóa hoa mà đức Phật đã mang lại cho cuộc đời.
Đức Phật đã khuyên dạy mọi người rằng: “Từ trẻ, già, trai, gái, mọi người ai cũng nên nổ lực tu tập để giải thoát giác ngộ bởi vì trần gian chỉ là quán trọ và kiếp con người giống như khách lữ hành dừng chân tạm rồi một lúc nào đó phải ra đi.”
Thi sĩ Trụ Vũ làm câu thơ như sau:
“Đêm nào đêm chẳng sáng trăng
Ngày nào ngày chẳng là rằm tháng Tư”
Ngày nào mà chúng ta phá vỡ vô minh, phiền não, quyết chí tu hành thì chúng ta sẽ đạt quả vị giống như đức Phật. Đức Phật đã tuyên bố rằng: “Như Lai là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành.”
Ngày rằm tháng Tư là ngày ra đời của một người đã làm nở hoa thương yêu, hoa bình đẳng, hoa giác ngộ cho cuộc sống. Lịch sử có kể rằng khi hoàng hậu Ma Da đưa tay hái hoa Vô Ưu (hoa này 1000 năm mới nở một lần) thì Phật từ trong nách bà nhảy ra và đi 7 bước với mỗi bước đi là 1 hoa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, ngài nói rằng: “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn. Vô lượng sinh tử ư kim tận hỷ.” Nhiều người thắc mắc là có ai mà sinh ra từ nách chăng hoặc có ai mới sinh ra mà lại đi được chăng, v..v… Chúng ta hãy đừng tìm kiếm sâu sa những huyền thoại trong lịch sử mà hãy nên nhớ đến những gì đức Phật đem lại cho cuộc đời, đó là ánh sáng của từ bi, ánh sáng của giác ngộ, ánh sáng khai mở tâm linh và làm thay đổi, nở hoa cho toàn thể nhân loại. Đức Phật ra đời vì hạnh phúc cho chư thiên, cho loài người và tất cả chúng sanh. Điều này là đã quá đầy đủ ý nghĩa, cho nên những huyền thoại được nêu lên cho một đấng giáo chủ thì không có gì đáng phải thắc mắc cả. Sự trùng hợp mà chúng ta nhận thấy từ lịch sử là Phật sanh ra dưới gốc cây tại vườn Lâm Tỳ Ni, thành đạo dưới gốc cây Bồ Đề và chết dưới gốc cây Sa La Song Thọ. Điểm này cho thấy rằng dù là đức Phật được sanh ra trong một cảnh vương giả, ngài lại là một người giản dị bởi vì ngài sống giản dị và chết cũng giản dị. Do đó, chúng ta là những người con của Phật thì chúng ta cũng nên giản dị giống như ngài vậy và đừng tìm cầu những gì cao sang, mỹ vị.
Chúng ta kỷ niệm ngày Phật ra đời là chúng ta tự soi xét, tự nhắc nhở rằng làm đệ tử Phật, xưng danh là Phật tử thì chúng ta đã suy nghĩ gì, làm được gì nhân ngày đản sanh, và đây là yếu tố quan trọng nhất. Đức Phật nói rằng: “Những đệ tử của ta sau này chỉ có một con đường thừa tự duy nhất đó là thừa tự chánh pháp. Ta ra đời với một mục đích duy nhất đó là tuyên bố đây là khổ, đây là nguyên nhân của sự khổ, đây là con đường diệt khổ và đây là diệt khổ. Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hỡi những người rất thân yêu của ta.” Gia sản Phật để lại là trí tuệ, thương yêu và hiểu biết.
Cổ nhân có câu: “Thú chết thì để da, người chết thì để tiếng.” Ngày Đản Sinh của Phật cách đây hơn 2500 năm mà mỗi lần tưởng niệm ngày Đản Sinh thì Phật tử vẫn bâng khuâng, xúc động tưởng nhớ đến công lao của Phật đã phá tan những giai cấp, những thành kiến, những bất công trong cuộc đời để mang lại niềm thương yêu, hạnh phúc cho tất cả mọi người và làm cho tất cả lộ trình trong Ấn Độ được nở hoa. Cho đến ngày nay, chúng ta có mặt tại mọi nơi trên thế giới đem theo ánh sáng, hương hoa của đức Phật và đem theo cành hoa giác ngộ của ngày Đản Sinh để làm cho mọi người hiểu về cuộc sống, nhân cách của đức Phật.
Chúng ta hân hoan mừng ngày đức Phật đản sinh cũng đồng nghĩa rằng chúng ta tự suy nghiệm về cuộc đời của mình để nhận thấy là chúng ta đang sống giống như Phật chưa. Nếu như chúng ta xưng danh là đệ tử của Phật, dù xuất gia hay tại gia, thì ít ra chúng ta cũng phải làm theo những gì Phật đã làm. Phật đã từ bỏ cuộc sống vương giả, đi vào lòng người để tìm hiểu, thương yêu và mở con đường giác ngộ cho chúng sanh. Trong khi chúng ta còn tham chấp, phiền não, khổ đau, và như vậy thì chúng ta hiểu rằng những gì chúng ta học Phật đã chưa thấm, chưa hóa giải được những khổ đau trong lòng. Khi nào chúng ta đón ngày Phật Đản mà chúng ta cảm thấy sự bình đẳng, thương yêu, không phân biệt giàu nghèo, hơn thua, không thấy sự cách biệt giữa giai cấp, nam nữ, tuổi tác thì chúng ta đã đón mừng ngày Phật Đản một cách xứng đáng và đúng nghĩa.
Chúng ta tổ chức Lễ Phật Đản với một tâm nguyện rằng chúng ta là người con Phật, thừa tự những gì đức Phật để lại để làm rạng ngời cho Phật giáo tại mọi nơi, mọi chốn trên thế giới. Chúng ta phải làm thế nào cho Lễ Phật Đản trở thành một ấn tượng đầy màu sắc, đầy hương hoa giác ngộ giống như ngày sinh của đức Phật. Cho nên, mỗi người chúng ta hãy trồng một cành hoa giác ngộ để cho những dân tộc trên thế giới, và những thế hệ trong tương lai biết rằng con người của đức Phật đản sinh hơn 2500 năm vẫn tiếp tục nở hoa và vẫn làm ngát hương cuộc đời. Như vậy, ngày rằm tháng Tư còn gọi là ngày cuộc đời nở hoa.
Kính chúc tất cả các Phật tử một đại Lễ Phật Đản đầy hân hoan, an lạc, hạnh phúc và thương yêu mãi mãi giống như những gì đức Phật đã trao truyền cho chúng ta.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
(Pháp đàm của Tỳ Kheo Thích Minh Hiếu trụ trì Minh Quang Thiền Viện tại 30-32 Chadderton Street, Canley Vale, Sydney, NSW 2166, Australia ( http://www.minhquangthienvien.com ) trong dịp dự Lễ Phật Đản PL 2547 (TL 2003) tại Đạo Tràng Trúc Lâm và Chùa Huyền Quang.)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.