Hôm nay,  

Putin! Ông Là Ai?

29/05/200500:00:00(Xem: 7583)
Từ năm 2000 sau khi ông Valadimir Putin trở thành tổng thống Liên bang Nga, thế giới trông chờ một Liên bang Nga nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng thế giới. Sau 10 năm dưới Boris Yeltsin, Liên bang Nga đã đi vào con đường đa nguyên chính trị và kinh tế thị trường. Có một số khó khăn vì sự mở cửa cho kinh tế thị trường thiếu kế hoạch tạo nên sự mất thăng bằng trong sinh hoạt kinh tế quốc gia, và người ta chờ đợi ông tổng thống trẻ tuổi Putin sẽ dần dần điều chỉnh.
Một vài chính sách của tổng thống Putin có mang lại sự lo âu như cuộc đàn áp thô bạo cuộc đấu tranh giành quyền tự trị của Chechnya, việc giới hạn tự do báo chí trong nước, việc bắt giữ nhà tài phiệt Khodorkovsky, việc can thiệp vào nội bộ của Ukraine… Tuy nhiên thế giới Tây phương vẫn hy vọng rằng đó là những điều bất đắc dĩ tổng thống Putin phải làm để bảo tồn sự toàn vẹn lãnh thổ, kiểm soát sự tự do quá trớn và thu hồi lại cho quốc gia những gì của quốc gia đã lọt vào túi riêng trong thời gian mở cửa thiếu luật lệ.
Nhưng càng chờ đợi càng thất vọng. Mấy tháng trước đây khi nghe tổng thống Putin tuyên bố: “Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết là tai họa địa lý chính trị lớn nhất của thế kỷ 20”, người ta thấy cái chóp của tảng băng độc tài bắt đầu ló dạng.
Trong tất cả những biến cố của thế kỷ 20, sự dẹp bỏ chế độ cộng sản tại Liên bang Xô viết, cất bỏ bức màn sắt, giải phóng Đông Âu là điều tốt đẹp nhất của thế kỷ. Biến cố đó khai thông con đường tự do dân chủ và nhân quyền trên toàn thế giới, và là một món quà lớn của thế kỷ ông Mikhail Grobachev dâng hiến cho thế giới và đất nước của ông. Thế nhưng ông Putin đã phủ nhận hành động tốt đẹp đó. Nó cho chúng ta một dữ kiện độc đáo về tư duy thiếu lành mạnh của tổng thống Putin, và từ đó một bức tranh về con người ông.
Thủ đoạn của tổng thống Putin trong việc bắt giữ và truy tố nhà tài phiệt Khodorkovsky trong tháng 10 năm 2003 càng ngày càng hiện rõ. Ông Putin đã đưa ông Khodorkovsky ra tòa về tội trốn thuế, biển thủ, hối lộ và điều khiển một tổ chức tội phạm. Tòa án đang xử ông. Ông Khodorkovsky xuất thân từ một gia đình trung lưu, có học, năng động và nhiều sáng kiến, tham gia phong trào thanh niên cộng sản thời Gorbachev, và ông đã biết nắm lấy cơ hội kinh tế thị trường trong thập niên 1990 và trở thành một nhà triệu phú, một oligarchy của Liên bang Nga thời hậu cộng sản. Ông Khodorkovsky sở hữu hãng dầu lửa Yukov là hãng dầu lớn nhất Liên bang Nga, kiểm soát một phần truyền thông và khai thác tối đa sinh hoạt dân chủ tại nghị trường để bảo vệ quyền lợi của mình. Ông trở thành cái gai của tổng thống Putin khi ông Putin nghi ông Khodorkovsky có ý định tranh cử tổng thống năm 2004. Và ông Putin đã dùng mọi quyền lực ông có trong tay để truy tố và hủy diệt ông Khodorkovsky. Công tố viện Nga đã dùng mọi đòn phép tư pháp để làm cho công ti dầu lửa trở lại nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ và ông Khodorkovsky phá sản.
Tại một tòa án nhỏ của quận Meshchansky tại Mạc Tư Khoa xử ông Khodorkovsky tuy cũng có quan tòa, có công tố, có luật sư bào chữa, nhưng hết sức buồn tẻ. Trong khi công tố đọc cáo trạng quan tòa ngồi như ngủ làm cho các quan sát viên nhớ lại cảnh các phiên tòa “cho có lệ” (show trial) thời Stalin với tổ chức mật vụ trong tay của các hung thần Nicolai Ezhov và Lavrenti Beria.
Đành rằng công tố không bịa ra tất cả tội lỗi của ông Khodorkovsky. Ông ta đã phạm một số sơ hở để cho ông Putin khai thác. Nhưng Putin thừa hiểu rằng lỗi không phải hoàn toàn do ông Khodorkovsky mà do cơ hội và những lỗ hổng của luật pháp dưới thời mở rộng cửa của Boris Yeltsin. Nếu được bảo vệ bởi luật pháp công minh thì sau khi trả giá những quá đáng của mình ông Khodorkovsky còn có nhiều khả năng đóng góp cho quốc gia và không làm cho những người Nga có khả năng cũng như các nhà đầu tư nước ngoài sợ hãi. Việc truy tố và với một bản án nặng chờ đợi ông Khodorkovsky có thể sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế nước Nga. Người Nga sẽ nhớ lại thời đại công an trị của Nga Hoàng và nhất là dưới thời đại Stalin mà dân chúng thường truyền khẩu rằng nguyên tắc cai trị nước Nga là: “hãy chỉ cho tôi bất cứ một người nào tôi sẽ viết một bản án có chữ ký của người đó”.

Một quốc gia muốn vươn lên cần nhìn lại lịch sử, ưu điểm để học, khuyết điểm để tránh và cần can đảm tháo gỡ xiềng xích tinh thần. Nam Phi đã công khai kết án chính sách apartheid, Đức với việc giết người Do Thái, Nhật với việc bạo tàn khi xâm lăng Trung quốc, và ít nhất như Trung quốc đối với các lỗi lầm của Mao Trạch Đông trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Liên bang Nga trái lại chưa một lần ghi nhận khuyết điểm của thời đại Stalin. Tháng Năm qua Liên bang Nga đã tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm thắng Đức quốc xã một cách rầm rộ tốn kém để nhắc lại công trạng của Liên bang Nga chiến thắng Đức quốc xã, một sự chiến thắng Liên bang Nga đã trả giá bằng 27 triệu quân và dân. Nhưng Liên bang Nga đã làm ngơ trước những quá đáng của Stalin.
Putin chưa làm và sẽ không bao giờ làm vì qua quá trình đào tạo Putin không phải là một người dân chủ, ông ta là một sản phẩm của độc tài. Có thể ông ta sẽ thành công làm cho Liên bang Nga được nể sợ hơn nhưng cái giá nhân dân Liên bang Nga phải trả sẽ không nhỏ.
Ông Donald Rayfield trong phần kết luận cuốn sách Stalin and his Hangmen của ông, đã viết:
“Liên bang Xô viết chưa ra khỏi cơn bệnh tâm thần vì chưa nhìn nhận lỗi lầm quá khứ. Khruchev tố cáo tội ác của Stalin cốt để củng cố quyền hành, vì bàn tay ông cũng từng nhuốm máu. Trong quan niệm của Khruchev và Brezhnev những người Trotskyists bị Stalin giết là phải. Những kẻ sống sót các trại tập trung Gulag cũng như thân nhân của những người bị tàn sát bởi Stalin chưa bao giờ được bồi thường xứng đáng ngoài một bằng ghi nhận và một tháng lương. Khi các sử gia hay các nhà văn Nga đào sâu vào các tội ác của Stalin lập tức chính quyền thắng lại và dân chúng được khuyến cáo chớ quên công lao của Lenin và một số chính sách đúng đắn của Stalin. Dưới thời đại perestroika của Gorbachev các sử gia phanh phui hồ sơ mật và phơi bài bày các mồ chôn tập thể của thời Stalin, thì cơ quan FSB (hậu thân của KGB) tìm cách ngăn cản và sau cùng cấm đoán vì lý do an ninh quốc gia.
Một điều kỳ lạ là dân chúng Nga vẫn còn tin rằng những quá đáng của Stalin là do hai bàn tay khát máu Ezov và Beria, và rằng nhiệm vụ của công an mật vụ là bảo vệ an ninh quốc gia. Truyền thông, báo chí và nền giáo dục của Liên bang Nga không hề có một nỗ lực nào để cho dân Nga biết đó không phải là sự thật. Nạn nhân của Stalin vẫn âm thầm đau khổ, trong khi những tay đồ tể được an hưởng tuổi già với trợ cấp phong phú và thỉnh thoảng mang huy chương đầy ngực vênh vang xuất hiện trước công chúng!
Vào năm 2004, Liên bang Nga đang được cai trị bởi một trong những nhân viên mật vụ đó (tên ông ta là Vladimir Putin.) Quá trình đào tạo của ông ta không khác gì Ezov và Beria. Số tù chính trị tại Liên bang Nga lúc này chỉ còn hằng trăm thay vì hằng trăm nghìn như thời đại trước và cơ quan an ninh FSB của Putin không còn phóng tay muốn làm gì thì làm do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, nhưng họ vẫn liên kết với những thành phần bất hảo trong nước nắm mọi tài nguyên và quyền lợi của quốc gia, và vẫn còn khả năng bắt giết đàn áp, bỏ tù những công dân lương thiện dám chống lại họ một cách kín đáo. Với thời đại tin học và kinh tế hóa toàn cầu Validimir Putin không có thể bắt giết hay bỏ tù hằng triệu nông dân lương thiện hoặc đàn áp tầng lớp trí thức trong nước như thời đại Stalin nhưng sự đàn áp thô bạo vẫn còn tồn tại tại Liên bang Nga. Chechnya là một thí dụ. Số phận của các nhà báo chân chính và các chính trị gia đối lập khác như Galina Starovoitora, Sergei Iushenkov và Dmitri Kholodov, và sau cùng là Mikhail Khodorkovsky là những thí dụ khác.
Nhân dân Liên bang Nga quá bận tâm với cuộc sống và nghĩ rằng sống sót được sau thời đại Stalin là một phép mầu nên không còn ý chí để đòi hỏi nhà cầm quyền phải tôn trọng dân chủ cũng như nghĩ rằng có thể dùng phiếu để bầu những người tử tế vào chức vụ lãnh đạo.
Quá khứ đang được dấu kín sau các bức tường của các kho lưu trữ hồ sơ, mà các cánh cửa càng ngày càng khép kín. Các tài liệu sử cho con em học không có một dòng chữ nói về tội ác của Stalin. Làm sao chúng biết được"”
Ông Donald Rayfield kết luận: “Chừng nào dân chúng Nga chưa biết những tội lỗi quá khứ của những nhà lãnh đạo của mình, chừng nào cộng đồng thế giới chưa áp lực được Liên bang Nga phơi bày sự thật, ngày đó Liên bang Nga còn là một quốc gia bệnh hoạn, vẫn còn bị những hình ảnh quỷ quái hung bạo của Stalin và tập đoàn sát nhân của ông ta ám ảnh. Và nếu chúng được sống lại thì không phải là điều đáng ngạc nhiên.”
Trần Bình Nam
May 27, 2005
[email protected]
http://www.vnet.org/tbn
Tài liệu tham khảo:
1.“Stalin and his Hangmen” by Donald Rayfield, published by Random House, New York, 2004
2. “The Khodorkovsky case”, The Economist, May 27th, 2005

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Về cơ bản, thực hành Phật giáo là sự rèn luyện trong hòa bình – và đạo đức Phật giáo đóng vai trò bảo vệ nền hòa bình này. Khi cảm giác thoải mái, hài hòa và bình tĩnh ngày càng sâu sắc với việc thực hành, chúng ta bắt đầu hiểu những lựa chọn đạo đức tác động đến trải nghiệm hòa bình của chúng ta như thế nào và chúng ta thấy rằng năm giới luật Phật giáo bảo vệ hạnh phúc của chúng ta.
Sự đóng góp của các tôn giáo vào nền văn hóa hòa bình là một chủ đề phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu bằng óc phân tích. Sự phức tạp của các cuộc xung đột đã biến thành lĩnh vực bạo lực lớn hơn, đỉnh điểm là chiến tranh, một hiện tượng phổ biến. Giáo điều tôn giáo và cách tiếp cận theo chủ nghĩa chính thống đã gây ra những kết quả xấu xí nhất cho trái đất. Bất chấp tất cả những phát triển khoa học và công nghệ, sự chuyên chế của chiến tranh và chủ nghĩa tôn giáo chính thống vẫn không suy giảm.
Tôi đề nghị các bạn có khả năng dịch cứ dịch, thời gian sẽ loại bỏ những gì không đúng, không phù hợp, nhưng không cần phải chỉ trích nhau về bản dịch. Nếu thấy dịch không “đúng” theo ý mình, thì mình dịch một bản khác, “đúng” hơn, để người đọc giám định và học hỏi. Có câu, “chỉ trích là rẻ tiền, hành động là đầu tư.” Người đọc có trình độ đều có thể nhìn thấy: hành động vạch lá tìm sâu, lòng tỵ hiềm, và bóng tối âm u trong lời chỉ trích thiếu hiểu biết. Thay vì mất thời giờ vạch cỏ tìm gai, sao không trồng cây hoa, cây ăn trái?
Nga phụ thuộc khá nhiều vào SWIFT với khoảng hơn 300 ngân hàng và tập đoàn tài chánh hàng đầu sử dụng SWIFT, cũng như có người sử dụng cao hàng thứ nhì sau Mỹ khi hơn phân nửa các tổ chức tín dụng Nga sử dụng SWIFT. Trục xuất Nga khỏi SWIFT là cắt mạng "internet" về tài chánh, làm tê liệt các giao dịch, thanh toán của các tổ chức tài chánh của Nga với Châu Âu và thế giới, gây biến động và xáo trộn hệ thống tiền tệ và tài chánh của Nga.
Tô Vĩnh Diện là biểu tượng của anh dũng. Vì đã lấy thân mình ngáng cho khẩu đại bác nặng hai ngàn tấn không rơi xuống vực. Tuy nhiên sau giả tưởng Lê Văn Tám, dân Việt có quyền nghi hoặc: Có thật không hay chỉ là một tai nạn, một vấp ngã hay chính em bé Lê Văn Tám đã lớn lên rồi được cấp chứng minh thư tên là Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa? Làm sao Triều đình Huế biết đặt những tên xã, huyện đậm chất Cách mạng như vậy vào năm 1928?
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Khi Tết gần kề, như hiện tại, các diễn đàn thân hữu thường thả cho nghe vài bản nhạc Xuân. Và cứ lập lại khoảng mươi bài quen thuộc, không đủ để khích động tình xuân đang khuấy động trong lòng người chờ đón Xuân. Nhân cơ hội này mình vào lục soạn, tìm thấy quá nhiều bản nhạc về Xuân. Cả một kho tàng văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam – loại nhạc Vàng mà CS muốn giết nhưng vẫn sống mạnh và làm thay đổi hướng cảm nhận tình quê hương và lòng người lan rộng từ Nam ra Bắc.
Xin mạn phép mở ngoặc ở đây giải thích ngắn gọn. Trước hết, Ca dao là " những câu thơ của dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc ". Đặc biệt hơn chính ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Việt Nam. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao có thể được hiểu theo nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ xưa do tổ tiên ta để lại.
Hoàng Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ trên Thái Bình Dương (Biển Đông), giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc, ngang với vùng bờ biển từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: Nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm (hay Trăng Khuyết) (Crescent group) và nhóm phía đông bắc là An Vĩnh (Amphitrite group). Trong lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước Việt. Có thể trước hoặc trong thơi Hiên Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam sông Gianh từ 1659-1687), chúa Nguyễn lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy. Từ thời nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng sai thuyền chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia để ghi dấu, gieo hạt trồng cây.
Từ lần xuất bản đầu tiên và duy nhất năm 2001, cuốn sách đã tuyệt bản này là nguồn tư liệu vô giá về một giai đoạn dày đặc biến động của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Đọc lại những ghi chép của nhà thơ Trần Dần (1926-1997) về thời kì Cải cách Ruộng đất và Nhân văn-Giai phẩm, tôi vẫn kinh ngạc bởi sự thành thực tận cùng, thành thực đến tàn nhẫn khắc nghiệt, của ông với chính bản thân mình. Cuộc vật lộn của ông với thời đại không phải chỉ là một bi kịch từ vị thế nạn nhân mà đa tầng, đa diện hơn nhiều: Ông cũng là một tác nhân và trước hết là một chứng nhân lỗi lạc, với một khả năng quan sát, phân tích, ghi nhận, diễn đạt hiếm có và một lí tưởng sục sôi cháy bỏng với nghệ thuật văn chương.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.