Hôm nay,  

Putin! Ông Là Ai?

29/05/200500:00:00(Xem: 7532)
Từ năm 2000 sau khi ông Valadimir Putin trở thành tổng thống Liên bang Nga, thế giới trông chờ một Liên bang Nga nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng thế giới. Sau 10 năm dưới Boris Yeltsin, Liên bang Nga đã đi vào con đường đa nguyên chính trị và kinh tế thị trường. Có một số khó khăn vì sự mở cửa cho kinh tế thị trường thiếu kế hoạch tạo nên sự mất thăng bằng trong sinh hoạt kinh tế quốc gia, và người ta chờ đợi ông tổng thống trẻ tuổi Putin sẽ dần dần điều chỉnh.
Một vài chính sách của tổng thống Putin có mang lại sự lo âu như cuộc đàn áp thô bạo cuộc đấu tranh giành quyền tự trị của Chechnya, việc giới hạn tự do báo chí trong nước, việc bắt giữ nhà tài phiệt Khodorkovsky, việc can thiệp vào nội bộ của Ukraine… Tuy nhiên thế giới Tây phương vẫn hy vọng rằng đó là những điều bất đắc dĩ tổng thống Putin phải làm để bảo tồn sự toàn vẹn lãnh thổ, kiểm soát sự tự do quá trớn và thu hồi lại cho quốc gia những gì của quốc gia đã lọt vào túi riêng trong thời gian mở cửa thiếu luật lệ.
Nhưng càng chờ đợi càng thất vọng. Mấy tháng trước đây khi nghe tổng thống Putin tuyên bố: “Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết là tai họa địa lý chính trị lớn nhất của thế kỷ 20”, người ta thấy cái chóp của tảng băng độc tài bắt đầu ló dạng.
Trong tất cả những biến cố của thế kỷ 20, sự dẹp bỏ chế độ cộng sản tại Liên bang Xô viết, cất bỏ bức màn sắt, giải phóng Đông Âu là điều tốt đẹp nhất của thế kỷ. Biến cố đó khai thông con đường tự do dân chủ và nhân quyền trên toàn thế giới, và là một món quà lớn của thế kỷ ông Mikhail Grobachev dâng hiến cho thế giới và đất nước của ông. Thế nhưng ông Putin đã phủ nhận hành động tốt đẹp đó. Nó cho chúng ta một dữ kiện độc đáo về tư duy thiếu lành mạnh của tổng thống Putin, và từ đó một bức tranh về con người ông.
Thủ đoạn của tổng thống Putin trong việc bắt giữ và truy tố nhà tài phiệt Khodorkovsky trong tháng 10 năm 2003 càng ngày càng hiện rõ. Ông Putin đã đưa ông Khodorkovsky ra tòa về tội trốn thuế, biển thủ, hối lộ và điều khiển một tổ chức tội phạm. Tòa án đang xử ông. Ông Khodorkovsky xuất thân từ một gia đình trung lưu, có học, năng động và nhiều sáng kiến, tham gia phong trào thanh niên cộng sản thời Gorbachev, và ông đã biết nắm lấy cơ hội kinh tế thị trường trong thập niên 1990 và trở thành một nhà triệu phú, một oligarchy của Liên bang Nga thời hậu cộng sản. Ông Khodorkovsky sở hữu hãng dầu lửa Yukov là hãng dầu lớn nhất Liên bang Nga, kiểm soát một phần truyền thông và khai thác tối đa sinh hoạt dân chủ tại nghị trường để bảo vệ quyền lợi của mình. Ông trở thành cái gai của tổng thống Putin khi ông Putin nghi ông Khodorkovsky có ý định tranh cử tổng thống năm 2004. Và ông Putin đã dùng mọi quyền lực ông có trong tay để truy tố và hủy diệt ông Khodorkovsky. Công tố viện Nga đã dùng mọi đòn phép tư pháp để làm cho công ti dầu lửa trở lại nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ và ông Khodorkovsky phá sản.
Tại một tòa án nhỏ của quận Meshchansky tại Mạc Tư Khoa xử ông Khodorkovsky tuy cũng có quan tòa, có công tố, có luật sư bào chữa, nhưng hết sức buồn tẻ. Trong khi công tố đọc cáo trạng quan tòa ngồi như ngủ làm cho các quan sát viên nhớ lại cảnh các phiên tòa “cho có lệ” (show trial) thời Stalin với tổ chức mật vụ trong tay của các hung thần Nicolai Ezhov và Lavrenti Beria.
Đành rằng công tố không bịa ra tất cả tội lỗi của ông Khodorkovsky. Ông ta đã phạm một số sơ hở để cho ông Putin khai thác. Nhưng Putin thừa hiểu rằng lỗi không phải hoàn toàn do ông Khodorkovsky mà do cơ hội và những lỗ hổng của luật pháp dưới thời mở rộng cửa của Boris Yeltsin. Nếu được bảo vệ bởi luật pháp công minh thì sau khi trả giá những quá đáng của mình ông Khodorkovsky còn có nhiều khả năng đóng góp cho quốc gia và không làm cho những người Nga có khả năng cũng như các nhà đầu tư nước ngoài sợ hãi. Việc truy tố và với một bản án nặng chờ đợi ông Khodorkovsky có thể sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế nước Nga. Người Nga sẽ nhớ lại thời đại công an trị của Nga Hoàng và nhất là dưới thời đại Stalin mà dân chúng thường truyền khẩu rằng nguyên tắc cai trị nước Nga là: “hãy chỉ cho tôi bất cứ một người nào tôi sẽ viết một bản án có chữ ký của người đó”.

Một quốc gia muốn vươn lên cần nhìn lại lịch sử, ưu điểm để học, khuyết điểm để tránh và cần can đảm tháo gỡ xiềng xích tinh thần. Nam Phi đã công khai kết án chính sách apartheid, Đức với việc giết người Do Thái, Nhật với việc bạo tàn khi xâm lăng Trung quốc, và ít nhất như Trung quốc đối với các lỗi lầm của Mao Trạch Đông trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Liên bang Nga trái lại chưa một lần ghi nhận khuyết điểm của thời đại Stalin. Tháng Năm qua Liên bang Nga đã tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm thắng Đức quốc xã một cách rầm rộ tốn kém để nhắc lại công trạng của Liên bang Nga chiến thắng Đức quốc xã, một sự chiến thắng Liên bang Nga đã trả giá bằng 27 triệu quân và dân. Nhưng Liên bang Nga đã làm ngơ trước những quá đáng của Stalin.
Putin chưa làm và sẽ không bao giờ làm vì qua quá trình đào tạo Putin không phải là một người dân chủ, ông ta là một sản phẩm của độc tài. Có thể ông ta sẽ thành công làm cho Liên bang Nga được nể sợ hơn nhưng cái giá nhân dân Liên bang Nga phải trả sẽ không nhỏ.
Ông Donald Rayfield trong phần kết luận cuốn sách Stalin and his Hangmen của ông, đã viết:
“Liên bang Xô viết chưa ra khỏi cơn bệnh tâm thần vì chưa nhìn nhận lỗi lầm quá khứ. Khruchev tố cáo tội ác của Stalin cốt để củng cố quyền hành, vì bàn tay ông cũng từng nhuốm máu. Trong quan niệm của Khruchev và Brezhnev những người Trotskyists bị Stalin giết là phải. Những kẻ sống sót các trại tập trung Gulag cũng như thân nhân của những người bị tàn sát bởi Stalin chưa bao giờ được bồi thường xứng đáng ngoài một bằng ghi nhận và một tháng lương. Khi các sử gia hay các nhà văn Nga đào sâu vào các tội ác của Stalin lập tức chính quyền thắng lại và dân chúng được khuyến cáo chớ quên công lao của Lenin và một số chính sách đúng đắn của Stalin. Dưới thời đại perestroika của Gorbachev các sử gia phanh phui hồ sơ mật và phơi bài bày các mồ chôn tập thể của thời Stalin, thì cơ quan FSB (hậu thân của KGB) tìm cách ngăn cản và sau cùng cấm đoán vì lý do an ninh quốc gia.
Một điều kỳ lạ là dân chúng Nga vẫn còn tin rằng những quá đáng của Stalin là do hai bàn tay khát máu Ezov và Beria, và rằng nhiệm vụ của công an mật vụ là bảo vệ an ninh quốc gia. Truyền thông, báo chí và nền giáo dục của Liên bang Nga không hề có một nỗ lực nào để cho dân Nga biết đó không phải là sự thật. Nạn nhân của Stalin vẫn âm thầm đau khổ, trong khi những tay đồ tể được an hưởng tuổi già với trợ cấp phong phú và thỉnh thoảng mang huy chương đầy ngực vênh vang xuất hiện trước công chúng!
Vào năm 2004, Liên bang Nga đang được cai trị bởi một trong những nhân viên mật vụ đó (tên ông ta là Vladimir Putin.) Quá trình đào tạo của ông ta không khác gì Ezov và Beria. Số tù chính trị tại Liên bang Nga lúc này chỉ còn hằng trăm thay vì hằng trăm nghìn như thời đại trước và cơ quan an ninh FSB của Putin không còn phóng tay muốn làm gì thì làm do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, nhưng họ vẫn liên kết với những thành phần bất hảo trong nước nắm mọi tài nguyên và quyền lợi của quốc gia, và vẫn còn khả năng bắt giết đàn áp, bỏ tù những công dân lương thiện dám chống lại họ một cách kín đáo. Với thời đại tin học và kinh tế hóa toàn cầu Validimir Putin không có thể bắt giết hay bỏ tù hằng triệu nông dân lương thiện hoặc đàn áp tầng lớp trí thức trong nước như thời đại Stalin nhưng sự đàn áp thô bạo vẫn còn tồn tại tại Liên bang Nga. Chechnya là một thí dụ. Số phận của các nhà báo chân chính và các chính trị gia đối lập khác như Galina Starovoitora, Sergei Iushenkov và Dmitri Kholodov, và sau cùng là Mikhail Khodorkovsky là những thí dụ khác.
Nhân dân Liên bang Nga quá bận tâm với cuộc sống và nghĩ rằng sống sót được sau thời đại Stalin là một phép mầu nên không còn ý chí để đòi hỏi nhà cầm quyền phải tôn trọng dân chủ cũng như nghĩ rằng có thể dùng phiếu để bầu những người tử tế vào chức vụ lãnh đạo.
Quá khứ đang được dấu kín sau các bức tường của các kho lưu trữ hồ sơ, mà các cánh cửa càng ngày càng khép kín. Các tài liệu sử cho con em học không có một dòng chữ nói về tội ác của Stalin. Làm sao chúng biết được"”
Ông Donald Rayfield kết luận: “Chừng nào dân chúng Nga chưa biết những tội lỗi quá khứ của những nhà lãnh đạo của mình, chừng nào cộng đồng thế giới chưa áp lực được Liên bang Nga phơi bày sự thật, ngày đó Liên bang Nga còn là một quốc gia bệnh hoạn, vẫn còn bị những hình ảnh quỷ quái hung bạo của Stalin và tập đoàn sát nhân của ông ta ám ảnh. Và nếu chúng được sống lại thì không phải là điều đáng ngạc nhiên.”
Trần Bình Nam
May 27, 2005
[email protected]
http://www.vnet.org/tbn
Tài liệu tham khảo:
1.“Stalin and his Hangmen” by Donald Rayfield, published by Random House, New York, 2004
2. “The Khodorkovsky case”, The Economist, May 27th, 2005

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình. Nếu một quốc gia nhận thấy một quốc gia khác gia tăng quyền lực của họ và do đó trở thành một mối đe dọa tiềm tàng, nó sẽ cố gắng bảo vệ an ninh của chính mình bằng cách tăng cường quyền lực của mình và / hoặc bằng cách liên minh với các quốc gia khác. Những lợi ích và hành động của trên dưới 184 quốc gia của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh có thể được dự đoán từ những giả định này.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Nước Nhật vừa xót xa tiễn biệt cựu Thủ tướng Shinzo Abe lần cuối. Thi hài ông được đưa qua đường phố Tokyo, ngang qua văn phòng Thủ Tướng và Nghị viện Nhật, nơi ông đã từng làm việc. Ngồi phía trước xe tang vẫn là phu nhân Akie Abe, như khi xe chở thi hài ông về lại Tokyo từ nơi bị ám sát hôm cuối tuần. Lặng lẽ, bình tĩnh, thỉnh thoảng phu nhân Abe lại cúi đầu đáp lễ người dân Nhật đứng đầy hai bên đường, chắp tay lạy và cúi đầu khi xe tang đi ngang. Không như lá thư hư cấu ủy mị gửi chồng của bà bằng tiếng Việt được lan truyền trên mạng, dù những người tinh ý khá dễ nhận ngay ra đó là suy diễn đầy Việt tính của một ai đó muốn lợi dụng cảm xúc đám đông. Thật ra phu nhân Abe là một người như thế nào?
COVID-19 một lần nữa hoành hành khắp Hoa Kỳ, nhưng đã không còn nhuốm màu chết chóc như thuở ban đầu, một phần là do nhiều người đã có một số mức độ miễn dịch nhờ tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm trước đó, nhưng cũng bởi vì chúng ta hiện đã có một kho công cụ để điều trị. Các kháng thể đơn dòng (Monoclonal antibodies) là kháng thể đầu tiên xuất hiện, trước đó, chúng được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại COVID-19. Khi đại dịch bùng phát, Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho 4 kháng thể đơn dòng để điều trị COVID-19 và một kháng thể đơn dòng để giúp ngăn ngừa bệnh ở những người không thể tiêm phòng.
Để chấm dứt những tranh cãi pháp lý xoay quanh việc phá thai sẽ đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận về mặt đạo đức. Nếu có thể trình bày rõ ràng quan điểm đạo đức của chúng ta và thấu hiểu quan điểm của người khác, tất cả các bên sẽ tiến đến gần hơn với một thỏa thuận có nguyên tắc. Bài tổng hợp này dựa theo các chi tiết phỏng dịch từ bài viết đăng trên The Conversation của Nancy S. Jecker, Giáo sư Đạo đức Sinh học và Nhân văn, School of Medicine, University of Washington, đã nghiên cứu các vấn đề đạo đức trong y học và chính sách y tế, bao gồm cả việc phá thai; và các vấn đề liên quan đến quyết định lật ngược án lệ Roe v Wade cuối tuần qua của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ.
Roe kiện Wade (Roe v. Wade) là một vụ án dẫn đến một quyết định quan trọng được đưa ra bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vào năm 1973, Roe v. Wade làm cho việc phá thai được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ. Trong vụ kiện này, một phụ nữ tên là Norma McCorvey (lấy bút danh là Jane Roe) muốn phá thai ở tiểu bang Texas. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, luật của bang Texas không cho phép phá thai ngoại trừ việc cứu sống người mẹ. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết có lợi cho McCorvey và cho rằng luật của Texas không phù hợp với hiến pháp. Tòa án tuyên bố rằng việc quyết định phá thai của một người phụ nữ trong ba tháng đầu của thai kỳ nên được quyết định theo ý kiến cá nhân và bác sĩ. Theo Tối cao Pháp viện, mỗi người dân có “quyền về quyền riêng tư” cơ bản và quyền đó bảo vệ sự lựa chọn phá thai của một người.
Chiến tranh Nga xâm chiếm Ukraine được nhân danh một trong số lý do: Cuộc xử lý nội bộ, nghĩa là, chiếm lại vùng đất thuộc địa. Lập luận này khiến cho thế giới tự do dẫn đầu bởi Hoa Kỳ và Âu Châu đứng ra ngoài vòng chiến, dù hô hào chống đối và giúp đỡ vũ khí, nhưng thái độ này mặc nhiên chấp nhận sự xâm lăng vô lý đối với tự do của một dân tộc và quyền thống nhất lãnh thổ của một quốc gia. Nguyên nhân ngấm ngầm rõ rệt là nỗi sợ hãi dù gọi là cân nhắc: hành động trực tiếp của thế giới tự do tham gia vào trận chiến giúp Ukraine chống lại Nga sẽ dẫn đến chiến tranh nguyên tử, khi xảy ra, ngày đó là ngày tận thế. Những lý do còn lại chỉ là những cách diễn đạt bên ngoài, không chỉ là nghệ thuật chính trị, mà còn là tác động sinh tồn. Quên rằng: Ngày tận thế không chỉ là nỗi sợ tuyệt đối của thế giới tự do, mà thế giới cộng sản và độc tài cũng tuyệt đối kinh hãi không kém. Nếu hai bên cùng sợ tận xương tủy, vấn đề còn lại là ván bài xì tố?
Khi các tiểu bang đã hợp pháp hóa việc sử dụng cần sa cho mục đích y khoa và giảm căng thẳng, và luật liên bang bây giờ cũng cho phép bán các sản phẩm chiết xuất từ cây gai dầu, thì cần sa và các hậu quả liên hệ được chú ý và nghiên cứu kỹ càng hơn. Sau đây là một số phân tích từ các nhà nghiên cứu, những người đã theo dõi sự phát triển của cần sa gần đây do trang The Conversation tổng hợp.
Trong hai ngày cuối tuần vừa qua, Học Viện Nghiên Cứu Chiến Tranh ISW đã liên tiếp đưa ra các bản đánh giá về cuộc chiến Ukraine và Nga hiện nay. ISW là một tổ chức think-tank phi đảng phái và phi lợi nhuận uy tín có trụ sở tại Washington, DC, quy tụ nhiều cựu tướng lãnh, viên chức cao cấp chính phủ và các học giả để cung cấp các nghiên cứu giá trị về quân sự và đối ngoại quốc tế qua các nghiên cứu, số liệu và phân tích đáng tin cậy. Các nghiên cứu của ISW cũng giúp cho chính phủ Hoa Kỳ có thêm nguồn cố vấn quan trọng trong các chiến dịch quân sự và đối phó với các nguy cơ liên quan đến an ninh quốc gia.
Nếu có ai nói với tôi, là một người có trái tim thú vật. Có lẽ tôi sẽ nỗi giận hoặc mặc cảm buồn rầu. Đây là một câu chửi. Ngụ ý tôi là một loại người giả hình, trong lòng đầy mưu toan ác độc, như một con thú không có nhân tính, ăn thịt luôn đồng loại. Tôi là một súc sinh. Ông Dasvid Bennett, Sr. là súc sinh? Ông là người có tim thú vật. Tim một con heo. Sự tưởng tượng của con người vô cùng tận. Nhiều sự tưởng tượng sau một thời gian trở thành thực tế. Ví dụ: Năm 1870, khi con người còn xa lạ với những chiếc tàu ngầm hữu hiệu, có khả năng lặn xuống biển sâu và đi lại như tàu trên mặt nước, nhà văn pháp Jules Verne đã xuất bản một cuốn truyện “Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển”, cho đến nay vẫn còn nổi tiếng. Hàng tỷ độc giả đã say mê khả năng tưởng tượng kỳ thú của tác giả. Một cuộc phiêu lưu dưới đáy biển sâu, hiểm nguy, gặp nhiều quái vật và vượt qua lắm trở ngại. Vào đầu thế kỷ 20, con người mới thực sự có chiếc tàu ngầm tương đương với chiếc tàu Jules Verne.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.