Hôm nay,  

Lửa Trường Sơn

10/10/200500:00:00(Xem: 9327)
- Ngước mặt nhìn Trường Sơn,
Tựa lưng ra Đông Hải,
Núi cao vời vợi,
Biển rộng bao la...
Quê nhà tôi ở nơi đó!
Từ ngày còn thơ ấu, sống trên mảnh đất quê hương, đêm hè vắng lặng, tôi thường ra đứng trước mặt làng, nhìn lên núi, lửa cháy rừng từ xa, trông rất buồn!
Trên dãy Trường Sơn trùng điệp, người thiểu số đốt rừng làm rẫy; ánh lửa bập bùng nơi bản làng như đang mời gọi tuổi trẻ ra đi, tìm về chốn xa xôi, đầy thâm u và nhiều bí ẩn, có một cuộc sống xa cách với nền văn minh nơi đồng ruộng.
Từ khi đất nước loạn ly, rừng núi đã trở thành chốn tang tóc, hứng chịu biết bao bom đạn hận thù của những người không cùng chiến tuyến, không cùng lý tưởng... Lửa không còn là một hình ảnh lãng mạn của tuổi trẻ qua những đêm buồn nhìn lên dãy Trường Sơn huyền bí, mà lửa đã trở thành nỗi đau của những người cùng tiếng nói, cùng màu da... Quê hương tan nát, làng xóm điêu tàn!
Vì nợ nước thù nhà, nhiều người đã bị giam cầm đày ải khắp nơi. Kẻ ra đi, lìa bỏ quê cha đất tổ, họ hàng bà con, mồ mả tổ tiên... Người gặp rủi ro, gởi thân nơi rừng sâu nước độc, nơi biển cả, làm mồi cho cá ăn... Nhắc đến, không ai mà không khỏi ngậm ngùi rơi lệ, thương cho quê hương mình đau khổ, thương cho bà con mình bất hạnh...
Người ta thường nghĩ đến miền Trung với những hình ảnh quê nghèo đất cày lên sỏi đá, Mùa Đông thiếu áo, Mùa Hè thiếu cơm, thiên tai bão lụt, chiến tranh tàn khốc... Nhưng chính nơi đó cũng là nơi tôi sống, nơi tôi lớn lên trong tiếng hát ca dao của mẹ hiền bên nôi, nơi tôi có họ hàng bà con nội ngoại hằng thương yêu ấp ủ, nơi tôi cùng bạn bè vui đùa chuỗi thời thơ ấu, được thưởng thức những món ăn ngon, được tham dự những hội hè, đình đám vào những dịp lễ, Tết, giỗ, chạp... Nơi mà lúc nào đi xa trở về tôi đều thấy bà con mừng rỡ, hỏi han, chào đón... Tuy là quê nghèo, nhưng nơi đó đã cho tôi nhiều tình cảm gắn bó, đi xa thì nhớ thì thương.
Những hình ảnh bình minh trên cánh đồng, chiều tà trên đỉnh núi, tiếng ve da diết vào buổi trưa Hè oi nắng, gió Tây Nam làm cho tôi say giấc, ngày mùa với tiếng hò giã gạo, trâu đạp lúa trên sân, tát nước đêm trăng... đã đi vào tâm hồn tôi... Tôi không thể nào quên được hình ảnh quê hương đó.

Miền Trung với biết bao danh lam thắng cảnh, nơi không thiếu những đặc sản miền rừng, miền biển, không thiếu của ngon vật lạ, gỗ quý, đá quý, kim khí quý... Đất có linh thiêng mới phát sinh nhân tài, nơi đây cũng là quê hương của những dòng họ lớn, đóng vai trò lãnh đạo quốc gia từ bậc vua chúa đến danh tướng, đại thần, các nhà cách mạng, các bậc khoa bảng, học giả, nghệ sĩ danh tiếng... Và đặc biệt là đất đã sản xuất những nhà tu hành đạo cao đức trọng đã từng giữ vai trò lãnh đạo của các tôn giáo lớn trong nước.
Tiếp theo tác phẩm "Nhà Bè Nước Chảy Chia Hai" xuất bản năm 2003, giới thiệu một số nhân vật lịch sử đã góp phần mở mang đất nước trong cuộc Nam Tiến đặc biệt là Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long dưới thời các chúa và các vua nhà Nguyễn (thế kỷ 17, 18, 19). Năm 2005, chúng tôi xuất bản tác phẩm mới:
* ĐƯA EM TỚI CHỐN NHÀ HỒ
Trong tâm tình biết ơn quê hương, nơi đã un đúc tôi thành người, và được gợi ý từ câu ca dao:
Đưa em tới chốn nhà Hồ,
Em mua trái mít, em bồ trái thơm...
Sách này được viết ra với mục đích giới thiệu những thăng trầm của một số dòng họ lớn và những nhân vật lịch sử đặc biệt xuất thân từ miền Trung.
Ước mong quý độc giả ủng hộ và nếu xét thấy có điều gì thiếu sót, xin vui lòng bổ túc cho. Xin thành thật cảm ơn.
Ngày 15 Tháng Tám năm 2005
Nguyễn Lý-Tưởng
(*) Nhà Hồ tức là Truông Nhà Hồ ở làng Hồ Xá giữa Quảng Trị và Quảng Bình.
-------
Đính chính:
Trong sách "Đưa Em Tới Chốn Nhà Hồ" của Nguyễn Lý-Tưởng, xuất bản tại California vào Tháng Chín năm 2005, các trang 130, 134, 136, về "Nguyễn Bá Trác và bài thơ Hồ Trường" có chỗ nhầm lẫn... Xin quý vị độc giả vui lòng đính chính:
Cụ Phan Châu Trinh sinh ngày 9 Tháng Chín năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam nay là thôn 5, xã Tam Phước, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Ông Nguyễn Bá Trác là người làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Hai người chỉ là người đồng hương cùng tỉnh chứ không phải cùng làng như chúng tôi đã vô lý viết nhầm. Xin cáo lỗi cùng quý vị độc giả.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
"Dự án Kênh Phù Nam tại Cam Bốt do Trung Quốc đỡ đầu, tuy nói là tuyến thủy vận thôi nhưng vẫn có thể là kênh dẫn thủy nhập điền. Trung Quốc có chiến lược khai thác mối hận thù giữa dân tộc Cam Bốt và Việt Nam để chia rẽ họ, đồng thời tài trợ hàng chục tỉ Mỹ kim mua chuộc Lào và Cam Bốt, ràng buộc họ thành con nợ, để cô lập Việt Nam. Bài tham luận này trình bày một chiến lược hoàn toàn mới cho Việt Nam và liên minh chiến lược cho Việt Nam và Cam Bốt để đối phó với Trung Quốc và Lào." Đó là lời Dẫn nhập bài biên khảo về dự án đào kênh Phù Nam của Cam Bốt, bài của kỹ sư Phạm Phan Long, một chuyên gia về Đồng bằng sông Cửu Long. Sau bài viết của nhà văn Ngô Thế Vinh, đây là tiếng chuông cảnh báo thứ hai về vấn đề này. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Trong công cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp để giành lại chủ quyền cho dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước Việt Nam, tiền nhân của chúng ta đã gian khổ cùng một lòng đánh đuổi bọn xâm lăng ra khỏi mảnh đất thân yêu mà Tổ tiên ta đã bao đời dầy công gầy dựng. Cho nên nhìn lại dòng lịch sử dân tộc từ Bắc vào Nam ở đâu và lúc nào cũng có những vị anh hùng dân tộc đứng lên liều mình cứu nước chống giặc ngoại xâm...
Dự án “Funan Techo Canal” nhằm phục hồi một hệ thống đường thủy đã được xây dựng và vận hành từ triều đại Đế chế Funan-Khmer [sic] có từ khoảng 500 năm trước Công Nguyên. Công trình này nhằm cải thiện giao thông đường thủy trong lãnh thổ Cam Bốt. Con kênh này có chiều dài 180 km, kết nối 4 tỉnh: Kandal, Takeo, Kampot, và Kep. Mục đích chính của dự án này như một kết nối lại với lịch sử và nhằm cải thiện giao thông đường thủy cho các cộng đồng cư dân địa phương. Triển khai dự án này phù hợp với cam kết của Cam Bốt theo điều khoản 1 và 2 của Hiệp Định Sông Mekong 1995, với sự bình đẳng về chủ quyền, tôn trọng những quyền hạn và các lợi ích chính đáng..
Người nhập cư Việt Nam được biết đến với “đạo đức làm việc” mạnh mẽ của họ. Họ sẵn sàng bỏ ra nhiều giờ và hy sinh để đạt được mục tiêu của mình. Tính cần cù này đã giúp họ thành công trong nhiều lĩnh vực, bao gồm kinh doanh, giáo dục và các ngành nghề khác...
Sau một vài năm ở Mỹ và đã quen hơn với vùng đất mới của họ, những người nhập cư Việt Nam đã chuyển đến các khu vực đô thị lớn để tạo ra các “biệt khu dân tộc” (ethnic enclaves) với những người Mỹ gốc Á khác...
Từ đợt đầu di tản sau biến cố 30/4/1975, chừng 125,000 người. Vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, khi bộ đội miền Bắc tiến vào Sài Gòn, Hoa Kỳ đã ra lệnh sơ tán ngay lập tức nhân viên Hoa Kỳ và hàng nghìn quan chức quân sự và ngoại giao của miền Nam Việt Nam. Các kênh truyền hình tin tức Mỹ đã phát đi những hình ảnh đau lòng về cuộc không vận hỗn loạn, trong đó có đám đông công dân miền Nam Việt Nam tuyệt vọng tràn ngập ngoài cổng Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Làn sóng đầu tiên đến vào năm 1975 như một phần của 140.000 người của Đông Dương được sơ tán ban đầu qua lệnh của Tổng thống Gerald Ford. Những người tị nạn đó, hầu hết đều có trình độ học vấn và nói được một ít tiếng Anh, đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt từ công chúng Mỹ mong muốn được xóa bỏ ít nhiều mặc cảm tội lỗi về việc quân đội Mỹ đột ngột rời khỏi miền Nam Việt Nam. Đến năm 1978, kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái và sự chào đón nồng nhiệt này không còn nữa (1).
Giữa những hình ảnh cánh đồng hoa anh túc và những chiến hào sũng nước trong ký ức chung về Thế Chiến I, ít ai để ý đến sự hiện diện của các trại tù binh chiến tranh ở vùng đảo British Isles. Nhưng trong suốt cuộc chiến, Anh đã giam giữ gần 116,000 người trong các trại tù binh trên khắp đất nước, từ Cung điện Alexandra ở London đến một trang trại cũ trên Đảo Isle of Man. Trong số đó có một võ sĩ đấm bốc và nghệ sĩ biểu diễn xiếc người Đức tên là Joseph Pilates.
Cựu Trung tướng Phạm Quốc Thuần đã qua đời vào lúc 8 giờ sáng ngày Thứ Sáu 18-8-2023 tại Fountain Valley, California, hưởng thọ 98 tuổi. Ông sinh ngày 31-8-1926 tại Hà Đông. Trung tướng Phạm Quốc Thuần giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Bộ Binh (Thủ Đức) ngày 20-8-1969...
Bát Nhã Tâm Kinh của Phật học có câu “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Từ “sắc” trong câu kinh dùng để chỉ vật chất và những gì có hình tướng. Còn “không” là cái không bao giờ xẩy ra. Từ “không” được nhắc đến nhiều trong đạo Phật chính là “Chân Không Diệu Hữu”. Như vậy, “sắc tức thị không, không tức thị sắc” là nói đến “thật tướng” của vạn pháp và đấy chính là “vô tướng”, từ “cái không” do nhân duyên hợp lại thành “cái có”. Và, ngược lại, từ “cái có” tất yếu trở về “cái không”. Chu kỳ ấy là bất diệt, cứ tiếp nối nhau đến vô tận. Đó là cách tiếp cận theo triết học tôn giáo hay siêu hình học. Nhìn từ nhãn quan vật lý học, “cái có” có thể đến từ “cái không” được không? Theo thuyết Big Bang thì có vẻ là như thế. Vật chất tồn tại như ta nhìn thấy – hàng tỉ tỉ dải thiên hà, mỗi thiên hà có hàng tỉ tỉ ngôi sao, mỗi ngôi sao là một hệ thái dương có thể có nhiều hành tinh, mỗi hành tinh là một thế giới như quả đất chúng ta đang sinh sống – đến từ “cái không có gì”,
Nhân Lễ Tưởng Niệm Nhị vị Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy và Nguyễn Văn Bông được tổ chức ngày hôm nay 13/08/2023 tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng tiểu bang Victoria-Úc, Ban Tổ Chức có nhờ tôi chia sẻ đề tài “Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy nhà hoạt động chính trị chân chính”, dưới đây là một số điều tôi được biết về cuộc đời chính trị của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.