Hôm nay,  

Bên Sông

26/02/200500:00:00(Xem: 7332)
LGT : DAKTO là bút hiệu của Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Chương, nguyên Trung Úy CTCT/QLVNCH cũng là Cựu Giáo Sư Anh Văn, Trung Học PBC/Phan Thiết . Ông hiện ở Honolulu - Hoa Kỳ
*
Ngày tôi rời Phan Thiết tới nay, đã gần một nửa thế kỷ, mà sao hình ảnh thành phố hiền hòa yêu dấu đó, vẫn nằm trong tâm khảm tôi, năm này qua năm khác, sâu đậm, giống như hình ảnh một nơi tôi đã sinh ra. Gần năm mươi năm trước, tôi bước chân đến Phan Thiết, như một người xa lạ, lưu lạc qua các ngả đường đất nước, để tìm cách ổn định cuộc sống. Nhưng rồi chỉ một thời gian sống ở đây, ngày tôi rời Phan Thiết, tưởng rằng tạm bợ, nhưng một năm sau, con tim tôi cho biết, Phan Thiết không phải chỉ là một không gian vay mượn, mà chính là một góc tâm tư, tồn tại lâu dài.
Ngày đó, ở tuổi chưa tới 30, tôi cảm thấy tù túng ở đô thị, ngột ngạt về cuộc sống quá lâu mài đũng quần trên ghế trường Văn Khoa và Sinh Ngữ, tôi muốn bung ra xa, để tìm một ' chân trời nới', một phần để đổi mới chuỗi ngày đèn sách đã qua, phần khác dường như tối khao khát một luồng gió tình cảm. Ngồi ở Sài Gòn, lúc tôi nghĩ mãi chưa biết đi về hướng nào và còn đang phân vân ở ngã ba đường, không biết nên chọn nghề hành chánh hay nghề nhà giáo, thì gặp một cô bạn nhỏ, học cùng trường sinh ngữ năm thứ nhất, xuất hiện sau kỳ nghỉ vào dịp Tết. Cô tả chuyện quê nhà, ước mong kỳ nghỉ dài hơn, để cô ở lại Phan Thiết lâu hơn với những người thân. Ngồi uống cà phê, trong câu lạc bộ của trường vào một ngày đầu xuân, khi một số sinh viên , còn ăn Tết nơi xa chưa kịp trở về, tôi hỏi người bạn nhỏ :
' Phan Thiết có gì lạ Mai " '
Cô bé nhìn tôi một cách ngạc nhiên, nhưng thân mật . Cô kể cho tôi những thắng cảnh của Phan Thiết, mọi thứ hấp dẫn ở nơi sinh quán của cô, trong đó không biết bao nhiêu đia danh mà tôi không nhớ nổi. Cô tả mỗi nơi một cách say mê, chốc chốc lại ngưng lời hỏi một cách tự nhiên " Anh biết không "' làm tôi như một người cũng sinh đẻ ở Phan Thiết như cô. Naò là Lầu Ông Hoàng, nào là Bãi Thương Chánh, nào là Đức Nghĩa..một vài tên tôi còn nhớ. Theo lời Mai, Phan Thiết là một vùng trời thơ mộng không giống bất cứ một nơi nào khác, một phong cảnh độc đáo của miền Trung, một kho hải sản phong phú nhát nước và nơi có những trái tim hiền hòa, nhân ái, không tỉnh nào sánh bằng. Nghe Mai nói, tôi nghĩ chắc vì cô sinh ra ở đó, nên Phan Thiết trở thành một bức tranh vẽ ra từ con tim cô, chứ không phải từ những cảnh thực trên trái đất. Nhưng dù sao, lời mô tả của Mai, làm tôi nhớ cái tên Phan Thiết từ đó và mãi mãi về sau.
Rồi định mệnh đưa đẩy, một hôm tôi nhận được lá thư Ông thầy cũ, GS Đặng Vũ Tiễn, người cùng quê với tôi từ miền Bắc, hiện đang dạy học ở Phan Thiết. Thầy là người tôi vô cùng thương mến, từ hồi bắt đầu học Ông năm Đệ Thất tại nhà Ông, tới hồi bỏ Hà Nội vào Nam, tôi vẫn thư thăm hỏi, sau khi bắt lại được liên lạc Thầy Tiễn cho biết Ông có mở một trường tư ở Phan Thiết, lúc đó dường như là Tư thục Tiến Đức, và hỏi nếu tôi có thì giờ ra chơi thăm ông bà, những người từng coi tôi như con cái ngày xưa. Nếu lời mời của Thầy , đến với tôi trước ngày tôi gặp Mai, có lẽ tôi từ chối vì lý do bận rộn, lo cuộc sống chứa ổn định. Nhưng thư Ông đến đúng lúc tôi đang nghĩ về Phan Thiết, đang mong mỏi được nhìn thấy bức ảnh , mà Thanh Mai vẽ bằng lời hôm ngồi ở câu lạc bộ trường, và đang nghĩ về cô gái quê quán Phan Thiết tên Thanh Mai. Tôi biên ngay thư phúc đáp Ông thầy cũ và nhận lời liền.
Rồi mấy tháng chót của năm học trôi qua, hàng phượng nằm trong sân trường Sinh Ngữ rực màu đỏ, rơi cánh xuống thảm cỏ dọc theo lối đi. Tôi vẫn gặp Mai trong câu lạc bộ, nói toàn chuyện Phan Thiết. Lại nhũng tên lạ hoắc tôi nghe rất thích mà chưa thấy. Mai vẫn vẽ tiếp phần còn lại của bức tranh quê hương Phan Thiết tuyệt vời. Mai vẽ cả hình ảnh của cha mẹ, người em gái duy nhất, và dĩ nhiễn kể thêm những kỷ niệm thân thương của một cô bé tên Mai, sinh ra và lớn lên tại vùng đất nàng đem trong tim, khi đi học xa nhà. Hoa phượng nở thêm, mùa hè tới. Thanh Mai từ giã trường, bạn bè, hàng cây phượng và tôi để về quê, không quên dặn tôi "Anh về thăm Phan Thiết nhé " . Hôm chót, Mai đứng lặng dưới tàn cây, nhìn những cánh phượng đỏ, mắt thật buồn. Tôi nhìn Mai, mắt nàng ướt như sắp khóc. Nàng nói rất khẽ " Anh về thăm gia đình Mai". Rồi Mai đi. Có một cánh phượng rơi trên sân cỏ. Trường Sinh Ngữ và Trường Đại Học Sư Phạm vắng hoe, nỗi buồn bay trong gió.
Mùa hè năm đó, tầng lầu khách sạn bên phía Đông chân cầu thị xã, đón một du khách phương xa tới là tôi. Theo sự chỉ dẫn của Thầy Tiễn và Mai, tôi từ đó ra phố rất gần, thăm mấy dẫy phố phía Đông, nhà Bưu Điện phía Tây và có thể thả bộ ra thăm bãi biển Thương Chánh không xa mấy. Phong cảnh mộc mạc đơn sơ nhưng đậm tình người, ai cũng vui vẻ chào hỏi nhau như họ hàng thân thiết. Tôi lang thang đi thăm khắp nơi, một lần lạc vào khu nhà thương Hải Thượng Lãn Ông, tình cờ gặp lại một người bạn cũ nầm đó, đang phục vụ tại Ty Cảnh Sát Phan Thiết. Anh cho tôi lên chiếc xe Jeep, đi loanh quanh thăm thị xã, nhìn bãi biển, nhìn ngôi trường Phan Bội Châu trên Đại Lộ Nguyễn Hoàng, với những tà áo dài trắng tha thướt dưới đường, hoặc trên xe đạp. Anh Phó Ty CS đuà "Các hoa khôi của Phan Thiết đấy". Tôi nghĩ không có hoa khôi nào là Thanh Mai cả.
Bữa cơm ngày đầu ở Phan Thiết, tôi ăn một mình trong một tiệm Tầu gần khách sạn. Ngày sau đó, tôi về nhà thầy Tiễn thăm Thầy và Cô, kể lại những kỷ niệm vui buồn của "những ngày xưa thân ái" trên đất Bắc. Thầy coi tôi như con, muốn tôi tới sống gần Thầy Cô và sau bữa ăn, mở đường cho tôi đi vào nghề dạy học.
"Thầy muốn anh nghĩ về nghề dạy học. Anh học xong Văn Khoa và Trường Sinh Ngữ, anh có nhiều cơ hội vào nghề của Thầy ".
" Thưa Thầy cơ hội ở đâu, con chưa thấy ".
" Ngay tại thành phố này " . Ông ngưng trước con mắt ngạc nhiên của tôi. Tôi chưa dám hỏi thăm về ngôi trường nhỏ của Ông, có lẽ ý ông là cho tôi một chân dạy trong Tiến Đức, nhưng dường như Ông đọc được câu hỏi trong đầu tôi, Ông tiếp : " Tiến Đức nhỏ quá không có chỗ, hoặc phải chờ năm tới coi sĩ số tăng ra sao mới tính được. Thầy nghe bên Phan Bội Châu, sĩ số năm nay tăng vọt, có nhiều chỗ dạy giờ. Anh nên nghĩ đến việc dạy giờ tạm bây giờ, rồi mai mốt tính xin vào ngạch, hoặc anh đi học lại. . Con qua hỏi xem sao ". Tôi trình bày dự định đi vào Đại Học Sư Phạm, để chính thức nhập nghề giáo, Ông coi đó là một chuyện tốt cho tương lai nhưng với mấy chứng chỉ Văn Khoa và Trường Sinh Ngữ, tôi có thể kiếm sống thoải mái ở thành phố biển, mấy năm sau có thể về Đại Học Sư Phạm không muộn. Tôi thấy lời khuyên của Ông hữu lý, bèn xin Ông một lá thư giới thiệu sang Phan Bội Châu, dính kềm tất cả mấy giấy Văn Khoa và Trường Sinh Ngữ làm " bùa hộ mạng ". Kết quả là tôi trở thành là người "Phan Thiết" sau tháng 9, khi Phan Bội Châu khai giảng sau mùa hè.
Vừa từ Phan Bội Châu về khách sạn, tôi thấy Thanh Mai đã đứng ở đó. Mai cười tươi, đôi mắt có đuôi nói thay lời. Nàng vui , nhí nhảnh kể chuyện ở nhà, những ngày chờ tin tôi đến và tỏ ra thành thạo khi cho tôi biết , Mai đã liên lạc với Thầy Tiễn, rồi tới khách sạn, chờ lúc tôi đi vắng. Tôi tự dưng muốn trêu nàng :"Anh thất bại rồi Mai ơi, PBC không nhận anh". Mặt Mai tiu nghỉu như bánh bao chiều, không nói nên lời. Mai đi cạnh tôi về phía phố chợ, trên đường về nhà nàng. Tới hiên nhà Mai mới lên tiếng :
" Có Ba Má. Em Mai ở nhà. Anh vô đi ".

Ông thân sinh Mai ra tận cửa đón tôi, còn Má Mai vẫn lụm cụm dưới bếp, chuẩn bị bữa cơm trưa cho gia đình và người khách là tôi. Trên bàn đã bày sẵn chén bát, một phần thức ăn mùi thơm phức. Em Mai là Thanh Nga, lo mang đồ ăn từ bép lên nhà trên. Rồi mọi người ngồi vào chỗ cho Mai giới thiệu tôi với ba má. Câu chuyện xoay quanh quê quán tôi ngoài Bắc, cha mẹ tôi ở Sài Gòn, việc học hành của tôi ở Văn Khoa và Trường Sinh Ngữ. Phần này Mai nói thay tôi, vì Mai biết chương trình học ở cả hai trường. . Sai đó Má Mai, tính thực tế, đi vào phần công việc và hỏi về cuộc sống của tôi ở Sài Gòn và sao mà phải lặn lội ra thăm Thầy Tiển , thăm cảnh Phan Thiết và xin dạy ở Phan Bội Châu. Ông thân sinh Mai nhập cuộc, hỏi tôi về vụ xin việv đi tới đâu, Mai buồn rầu kể là không kết quả. Tôi vội vàng cải chính với ông bà là tôi chỉ nói đuà để trêu Mai, chứ thực ra, trường PBC đã nhận tôi, bắt đầu vào tháng 9 sau đó.
Mùa hè Phan Thiết năm đó, có lẽ là thời gian đẹp nhất trong đời tôi kể từ khi khôn lớn. Ngày trước ở đất Bắc tôi chưa đủ tuổi lãng mạn, chỉ cặm cụi làm con mọt sách ở trường, ít chú ý tới mấy mái tóc dài, tóc ngắn. Bây giờ ở một vùng đất mới, có bông mai biết nói mầu xanh, tôi tự nhiên thấy đời đáng sống, đáng vui, đáng nhớ từng phuát, từng giờ. Mai có biệt tài lái xe "mobilette" lạng trên đường và dường như trước đây, đã từng đua xe với con trai thị xã, chiếm đặc danh "Mai Mobylette" . Mai đèo tôi trên chiếc xe gắn máy chạy khắp phố phường, coi mọi nơi nàng đã mô tả, ngày ngồi ở câu lạc bộ trường, và nhất là một khu thơ mộng, vắng vẻ cách xa thị xã chừng 3 cây số. Đó là một khoảng vườn cỏ lau mọc thấp trống trải cạnh một dòng sông lượn quanh những ghềnh đá tảng, mang tên Sông Cà-Ty. Nước chảy mạnh vổ vào sườn đá tung bọt trắng xóa, tuôn vào bờ cỏ và cuộn mạnh về xuôi. Cây rừng đầy bóng mát, với những loài chim lạ hót líu lo trong nắng. Tâm hồn tôi dịu êm trong gió nhẹ và bầu không gian yên tĩnh của dòng sông.
Tôi ngồi dựa một tảng đá lớn, nghe Mai kể chuyện mình, chuyện Ba Má nàng và chuyện Thanh Nga. Mai líu lo như con chim đang hót trên cành cây, miên man nói hết chuyện này sang chuyện khác rồi trở về với chuyện Phan Bội Châu sắp sửa đưa tôi vào dạy. Tới đây mặt Mai rạng rỡ khác thường, nụ cười gần như rọi sáng khuôn mặt nàng trong bóng mát và đôi mắt laiï có đuôi . Niềm vui trong lòng Mai lây sang con tim tôi, gửi từng nhịp sóng đi vào tâm não, khiến tôi thấy cuộc đời sao thơ mộng quá, khác với những ngày u ám ở Sài Gòn, chỉ biết vật lộn với xe cộ, với áo cơm và với những ưu tư phiền não, dường như bất tận. Ở đây tôi không phải nhìn thấy những thực tại gay go của cuộc sống, chỉ thấy gió thổi, chim bay, nước chảy và một con tim hòa cùng nhịp thở, giữa khung trời bao la mát rợi. Vả lại, với chỗ day đã được bảo đảm , tôi không còn phải lo gì về nợ áo cơm, về bổn phận giúp cha mẹ tôi và đàn em đang còn tuổi đi học ở Sài Gòn. Cuộc đời tự nhiên trở thành mật ngọt và hoa thơm, với những kỷ niệm đang có hôm nay và sẽ coq ngày mai.Tất cả gom lại thành một vườn hoa thơm ngát.
Nhiều ngày tôi và Mai ngồi như vậy trong nhiều tiếng đồng hồ, nghe chuyện của nhau trong gió núi, và cũng có những ngày chúng tôi không nói chuyện, chỉ nghe chim hót và sóng vổ nơi ghềnh đá thay cho lời người. Thời gian ngưng đọng ở dưới, mặt trời mỉm cười trên cao, và có hai hơi thở của nhân loại, trong một thế giới chỉ có linh hồn câm lặng mà nói rất nhiều. Con sông Cà Ty thay hai người hát bản tình ca mùa hạ, giữa những hoa nắng lung linh trên ngàn lá, va một đàn chim di ở đâu ùa đến, phụ họa giữa khung trời lãng mạn nhất của Phan Thiết. Thật là tuyệt diệu. Không có nhà cửa, không có phố xá, không có tiếng chân người. Nhưng có tiếng tim đập, tiếng xào xạc cỏ lau, và tiếng thời gian trong tưởng tượng. Không ai biết ai nói gì nhưng trong ý nghĩ, tôi mong tới tháng 9 để bắt đầu cuộc đời nhà giáo, còn Mai óc nàng chứa đựng , niềm vui một cuộc hạnh ngộ kỳ lạ của định mệnh, nhưng chắc chắn nàng đang lo cho mùa học tháng 9 khi nàng phải rời Phan Thiết vào Sài Gòn trong mùa tựu trường. Lúc đó nàng sẽ là con chim tha hương, xa tổ.
Tháng 8 năm đó, một hôm trời đất sụt sùi trong cơn mưa buồn nhất thế kỷ. Mai và tôi chở nhau trên chiếc xe mobylette của nàng đi thăm Thầy Tiễn, trước ngày Mai rời quê đi học lâi. Chúng tôi vòng quanh một vài nơi thăm những người quen trong họ hàng của Mai, cả những người làm ở vựa nước mắm của ba má Mai và không quên thăm bãi biển Thương Chánh, một buổi chiều thu ảm đạm nhất trong đời.. Mưa bay không ngớt làm ướt những mái tóc ngoài phố. Gió từ đâu rủ nhau về biển nói lời giã từ của Mai trước khi trở về đô thị. Gió tung tóc nàng rối lên như biểu lộ giông b ảo sắp tới của mối tình hai người hai ngả, dù chưa ai lên tiếng hẹn thề. Đàn chim bình thường ở đây hôm nay sao vắng bóng, chỉ còn lại hai con hải âu, dường như cũng sắp xa nhau, bay lượn trong mưa và kêu một vài tiếng giã từ. Mai buồn đứng nép vào tôi, không nói lời gì, chỉ phơi bầy đôi mắt ướt đẫm, không biết nước mưa hay nước mắt, hay cả hai. Rồi ngày hôm sau, trời chua tạnh hẳn, Mai chở tôi thăm chốn cũ, chỗ mà cách đó hai tháng, mối tình thầm lặng đã nở hoa. Bờ sông Cà-Ty. Ghềnh đá. Bãi cỏ lau. Những tàn cây. Đám chim di. Tiếng sóng. Và hai trái tim rất cô đơn, sắp vỡ. Rồi một trái tim thổn thức. Bờ vai rung. Những giọt nước mắt Mai từ từ lăn xuống má trong tiếng nấc nghẹn ngào. Chưa chia ly mà một linh hồn đã hấp hối. Tôi ngồi yên không dám lên tiếng vì không biết nói gì. Tôi cũng không đủ can đảm để hứa hẹn.
Ngày cuối cùng đ4 đến. Tôi đến thăm Mai một lần trong căn nhà cũng là tiệm nước mắm của ba má màng. Mai ngồi cạnh má, mắt đỏ hoe. Thanh Nga lo tiếp khách và làm mọi chuyện trong nhà, pha trà bưng ra đặt trên bàn, chờ ba má lên tiếng. Ba Mai dường như đi làm mới về, trên đầu còn đội chiếc nón Địa Phương Quân. Bà mẹ Mai ngồi yên, buồn lây với con gái, nhắc Thanh Nga "mời anh" uống trà ăn mứt Tuỳ Hòa. Cuối cùng ba má nói mong tôi săn sóc việc học hành cho Thanh Nga ở Phan Bội Châu, và cứ ngày nghĩ cuối tuần, thì về với ông bà coi như gia đình. Tôi không dám nhận lời và cũng chẳng biết nói gì vì Mai không dặn trước nàng đã nói gì với cha mẹ. Dù sao, tôi cũng nhìn thấy một tình thân do Mai tạo ra qua mấy tháng lui tới, và trong ánh mắt mọi người, những tình cảm sâu đậm đã gắn chặt giữa tôi và gia đình Mai, như một mạng lưới vô hình, úp lên năm con người từ hai hướng khác nhau tới đây để kết thành một tình thương, không phân biệt Nam Bắc hay tôn giáo.
Riêng tôi một năm dạy học ở Phan Thiết, đã cho tôi cuộc tình đẹp nhất trên đời, mà một nửa thế kỷ sau, không có mối tình nào thay thế nổi. Hình ảnh Phan Thiết và người Phan Thiết vẫn in sâu trong óc tôi, với phong cảnh những vùng đất một lần cho tôi được hưỏng tình yêu đầu, dù không trọn vẹn. Một nửa thế kỷ sau, vật đổi sao dòi, cuộc biển dâu làm cho Phan Thiết suy tàn theo vận nước, nhưng người Phan Thiết, ngoài những tên đã đổi sang linh hồn màu đỏ, vẫn hiền hòa, vẫn thân thương, vẫn nặng tình nghĩa như ngày tôi tới làm dân Phan Thiết. Dù cuộc xoay vần chính trị như chu kỳ của trời đất nhưng hình ảnh Lầu Ông Hoàng, Trung Học Phan Bội Châu, Đại lộ Nguyễn Hoàng, sông Mường Mán, Bãi biển thương Chánh, bờ sông Cà-Ty, nuí Tà Cú..vẫn muôn đời giữ được vẽ đẹp nên thơ của một miền quê thanh bình xứ biển. Tình người chân thật của Phan Thiết không bao giờ phai, và bao nhiêu địa danh Phan Thiết, vẫn là một bức tranh muôn màu, muôn vẽ, tạo nên một thành phố độc đáo, khó có nơi nào sánh kịp. Và độc đáo nhất không phải là những căn lầu, những cửa tiệm, những con đường trong thị xã. Đó là bờ sông Cà-Ty, nơi mà chỉ có những linh hồn biết thưởng thức thiên nhiên, biết đem tình yêu tỏa rộng ra trời đất, biết nói mà không lên tiếng, và biết nuốt tình yêu vào linh hồn mình.
Trong đời tôi, một nửa thế kỷ sau, không bao giờ tôi quên được Phan Thiết và bờ sông Cà-Ty thơ mộng của mối tình đầu.
Xóm Cồn
11-12-04
DAKTO

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiếm ai có thể hình dung cơn bão tin giả (fake news) hoành hành khắp nước Mỹ trong tám năm qua, từ cuộc bầu cử 2016, lại thổi đến từ Veles – một thị trấn xa xôi nằm phía tây nam châu Âu, ở North Macedonia, trên dòng sông Vardar êm ả. Không nói cũng không ai biết. Những câu chuyện trong bóng tối này mãi mãi không bước ra ánh sáng, hoặc cũng chỉ rất ít người biết đến, thấu rõ đường đi nước bước của thánh địa tin giả này, cho đến khi cuốn sách “The Book Of Veles” của nhiếp ảnh gia Jonas Bendiksen được xuất bản. Ông là người Na-Uy, thành viên của hội nhiếp ảnh danh giá Magnumphoto.
Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng sắc đẹp sẽ mang lại lợi thế trong các mối quan hệ, học tập và công việc. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu việc “không được đẹp đẽ” không chỉ là một điều bất lợi mà còn bị coi là phạm pháp? Từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, ở Hoa Kỳ từng có các luật gọi là “luật xấu xí” (ugly laws), cấm những người có vẻ ngoài “khó coi” xuất hiện ở các nơi công cộng.
Dự án 2025 đề ra những thay đổi sâu rộng trong toàn bộ chính phủ liên bang, đặc biệt trong chính sách kinh tế và xã hội, và vai trò của chính phủ và các cơ quan liên bang. Trong những thay đổi đó có cả việc cắt giảm tài trợ cho Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (DOJ), tháo dỡ cơ quan điều tra FBI và Bộ An ninh Nội địa, hủy bỏ các quy định về môi trường và biến đổi khí hậu để giúp gia tăng sản xuất nhiên liệu như dầu hỏa, cùng loại bỏ các Bộ Giáo dục và Thương mại ra khỏi nội các chính phủ. Hãng thông tấn Associated Press có một bài tóm tắt song rành mạch những chương trình của Dự án 2025 đối nội cũng như đối ngoại, tại đường dẫn này. Bao gồm trong Dự án 2025 cũng gồm cả việc lập tức dùng Đạo luật nổi dậy năm 1807 để tổng thống có thể ra lệnh cho quân đội vào dẹp các vụ biểu tình chống đối chính phủ, cùng chỉ đạo Bộ Tư pháp truy lùng các đối thủ của ông Trump. Chính ông Trump cũng đã từng tuyên bố với những người ủng hộ ông là ông là người sẽ giúp họ phục hận. Theo luật hiện hành, quân đội không đượ
Nghèo đói là yếu tố quyết định mạnh mẽ của bệnh Lao. Môi trường sống và làm việc đông đúc và kém thông gió thường liên quan đến nghèo đói, tạo thành các yếu tố gây nguy cơ trực tiếp cho việc lây truyền bệnh lao. Suy dinh dưỡng cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng để bệnh phát triển. Nghèo đói lại cũng liên quan đến tình trạng kém kiến thức về sức khỏe và từ đó thiếu những sự bảo vệ sức khỏe trong đời sống hàng ngày dẫn đến nguy cơ tiếp xúc và truyền bệnh.
Trong hai ngày Thứ Bảy & Chủ Nhật 17 & 18/08/2024, tại Bowers Museum, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt phối hợp cùng Trung Tâm Việt Nam Texas Tech University, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt - Mỹ University of Oregon đã tổ chức hai buổi triển lãm và thảo luận về hai chủ đề: Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc Việt Nam và Cuộc Di Cư Năm 1954. Khoảng 1,000 lượt người đã đến tham dự hai sự kiện về lịch sử từ bảy thập niên trước. Có thể nói rằng lâu lắm rồi tại Thủ Đô Người Việt Tị Nạn mới có một sự kiện lịch sử được tổ chức với qui mô lớn và công phu như thế. Động lực nào đã khiến ba tổ chức chuyên nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam cùng nhau tổ chức sự kiện này? Ông Châu Thụy, Giám Đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt nói lời khai mạc, chào mừng mọi người đến với cuộc triển lãm và hội thảo, để cùng nhau ôn lại, nhìn theo những góc nhìn mới về hai sự kiện lịch sử vẫn còn ảnh hưởng đến người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại đến tận ngày hôm nay.
Hiểu cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam đòi hỏi phải đặt nó trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thay vì xem xét nó một cách tách biệt. Được khởi xướng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1953, cải cách ruộng đất bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện biến động sau Thế chiến II. Sự kết thúc của cuộc chiến, nạn đói năm 1945, và cuộc đấu tranh sau đó để giành độc lập khỏi ách thực dân Pháp đã tạo ra một không khí cách mạng ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) đã làm tăng sự cấp bách cho những thay đổi xã hội và kinh tế triệt để khi Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực và giải quyết các bất bình giữa người giàu và người nghèo do khai thác thực dân gây ra.
Cuối tuần vừa qua tôi đi dự hội thảo về Việt Nam tại Bảo tàng Bowers ở thành phố Santa Ana, thủ phủ của Quận Cam. Hai ngày hội thảo với hai chủ đề có liên quan với nhau là Cải cách Ruộng đất 1953-56 và Di cư 1954. Xong ngày đầu của hội thảo, đi ăn tối với một bạn sống ở Quận Cam từ năm 1978, khi biết chủ đề là về cải cách ruộng đất, bạn hỏi ngay: “Có hình Hồ Chí Minh cầm khăn khóc không?”. Bạn tôi ít quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng nhưng cũng biết sử Việt vì là con trong gia đình bắc di cư 54, lớn lên tại miền Nam và sống ở đó cho đến khi vượt biển. Hình Hồ Chí Minh khóc và sự kiện bà Nguyễn Thị Năm đóng góp nhiều vàng cho Việt Minh rồi cũng bị đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ 1953 đến 1956 có lẽ là những hiểu biết cơ bản của nhiều người Việt, dù không chứng kiến hay trực tiếp là nạn nhân trong sự việc. Những hình ảnh đó hôm nay cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Bowers và có trong bài nói chuyện của diễn giả tại hội thảo.
Chương trình Triển Lãm Và Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt & Cuộc Di Cư 1954 vừa chấm dứt. Việt Báo đăng lại toàn bài của giáo sự Trần Huy Bích chiều Chủ Nhật ngày 18 tháng 8 tại Bowers Museum kể lại câu chuyện di cư của Ông và bối cảnh Bắc Việt những ngày tháng 8, 1954.
John Andrew Jackson vừa chào đời đã mang phận nô lệ, và được định sẵn là sẽ dành trọn kiếp sống tủi nhục trên những cánh đồng bông vải ở Nam Carolina. Nhưng, không cúi đầu trước số phận, Jackson đã thoát khỏi cảnh nô dịch, trở thành một diễn giả và văn nhân có ảnh hưởng lớn đến phong trào bãi nô. Ông cũng là nguồn cảm hứng cho tác phẩm kinh điển Uncle Tom's Cabin (Túp Lều của Chú Tom) của Harriet Beecher Stowe, xuất bản năm 1852. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về chế độ nô lệ này được nhiều sử gia đánh giá là đã góp phần thúc đẩy cuộc Nội chiến của Hoa Kỳ.
(Little Saigon-VB) - Để đánh dấu 70 năm cuộc di cư Bắc Nam hậu Hội nghị Geneva; và cùng nhìn lại sự kiện Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam dưới thời VNDCCH với tác động, hệ lụy trên cả nước đối với quốc gia, dân tộc Việt, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Trung Tâm Việt Nam ĐH Texas Tech, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ ĐH Oregon phối hợp tổ chức Triển Lãm Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt và Cuộc Di Cư 1954: Hai Biến Cố Thay Đổi Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vào hai ngày: Thứ Bảy, ngày 17 tháng 8: Cải cách ruộng đất và đấu tranh giai cấp ở miền Bắc Việt Nam, 1953-1957; Chủ nhật, ngày 18 tháng 8: Cuộc di cư của gần 1 triệu người từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 tại Bowers Museum 2002 N. Main St, Santa Ana, CA 92706.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.