Hôm nay,  

Sau Màn Đêm

25/08/200500:00:00(Xem: 6157)
- Trong mấy chị em chúng tôi, đứa nào cũng được bố mẹ lấy cho một lá số tử vi khi vừa mười tám tuổi, trừ cậu em thứ ba vì mẹ sanh em trong thời tao loạn, không có giấy tờ chính xác. Em tôi chào đời vào giữa năm 1947, thời gian mà người dân Việt Bắc, từ thành thị đến thôn quê, lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau chạy loạn, Nói là chạy loạn nhưng thực ra chỉ như kiến bò miệng chén. Trận chiến dằng dai giữa Pháp và Việt Minh đã xô đẩy dân chúng vào giữa vòng lửa đạn khốc liệt. Khi quân Pháp chiếm lại Hà Nội vào tháng hai năm 1947 thì Hà Nội chỉ còn là một thành phố vắng tanh, hoang tàn, đổ nát. Đàn bà, trẻ con dắt nhau chạy về các vùng quê lân cận; còn đa số thanh niên trai tráng theo tiếng gọi “chống Pháp cứu nước” đã gia nhập các toán kháng chiến, các đoàn Vệ-quốc-quân, tưởng là hiến thân cho Tổ Quốc !
Khi đó, tôi mới lên năm và em gái tôi lên ba. Bố mẹ tôi vội vã bế chúng tôi rời Hà Nội khi tiếng giầy đinh của lính Pháp sầm sập nện trên cầu Long Biên. Biết rằng quê nội ở Hà Đông cũng không yên vì quá gần Hà Nội nên bố mẹ tôi ghé về quê, định đón ông bà nội. Về tới làng thì dân làng cũng đang lục tục chạy đi, chỉ còn những người già quyết ở lại vì cho rằng dù Pháp hay Việt Minh tới cũng chẳng làm gì họ. Ông bà nội tôi cũng nghĩ thế. Ông nội có một số vàng chôn dấu ở vườn sau, bố tôi có ngỏ lời xin ông một ít để phòng thân vì mẹ tôi đang mang thai, sắp tới ngày sinh nở. Theo lời bố mẹ tôi kể thì ông nội không muốn đào vàng vì sợ có vết, giặc sẽ biết. Ông chỉ cho một người tá điền gánh một gánh gạo đi theo và một bà vú đỡ đần mẹ tôi. Bà vú gánh hai chị em tôi bằng hai cái thúng tròn. Em gái tôi quá nhỏ, chắc không biết gì. Riêng tôi, chỉ mang máng nhớ cái cảm giác nhịp nhàng, đều đặn truyền xuống từ hai đầu đòn gánh dưới bước đi thoan thoắt của bà vú.
Gia đình tôi cùng với dân làng chạy dọc xuống Hưng Yên rồi Phủ Lý. Dân địa phương đều rất thương xót người từ xa chạy tới, có con cá nào mập, lá rau nào tươi họ đều mang cho. Gánh gạo người tá điền gánh theo đã vơi dần mà những vùng đất đi qua chưa có nơi nào tạm yên ổn để chúng tôi có thể dừng chân. Mẹ tôi đã mệt nhọc lắm và bố lo sợ không biết mẹ sẽ sanh lúc nào. Một chiều, trên bờ sông Trà Lý, bố tôi gặp lại người bạn cũ. Bác ấy đang sửa soạn cho gia đình chạy về Phát Diệm vì nghe nói Phát Diệm là tỉnh duy nhất còn tự trị. Thế là bà vú lại sửa soạn quang, thúng, sau khi mặc cho tôi tấm áo bông mầu lam và đặt tôi ngồi vào thúng trước. Vú nói, tại tôi hay ngọ ngoạy, phải ngó chừng; còn em gái tôi ngồi ở thúng sau vì con bé hiền khô, hễ đã đặt ngồi vào thúng và đưa cho một viên kẹo bột là nó không hề nhúc nhích.
Mẹ tôi nói, đường về Phát Diệm qua nhiều cánh rừng phong. Nhìn lá đổi mầu, mẹ tôi khóc vùi vì nhớ quê ngoại. Chặng dừng ở đầu tỉnh Nam Định, bà vú đã nấu tới hột gạo cuối cùng trong gánh gạo ông nội cho. Anh tá điền đề nghị chúng tôi cứ đi tiếp vào Phát Diệm để mẹ tôi nghỉ ngơi, còn anh, sẽ lội ngược về Hà Đông xin tiếp tế. Bố tôi buồn tủi và có ý giận ông nội nhưng anh tá điền cương quyết trở về sau khi trấn an bố tôi rằng “Cậu cứ đưa mợ và các em đi tiếp, con về thưa cho hai cụ rõ lộ trình rồi trở lại ngay. Con đi một mình sẽ nhanh lắm, cậu đừng lo.”
Khi tới Phát Diệm, trời đã nhá nhem tối. Thành phố yên tĩnh với bóng những tháp chuông nhà thờ in trên nền trời. Bố dừng lại ở khu chợ đã vắng người, hết nhìn mẹ lại nhìn hai chị em chúng tôi. Lòng bố chắc tràn đầy lo lắng, xót thương. Cuối cùng, bố nói với mẹ: “Đi, chúng ta tới gõ cửa nhà Chúa”
Đêm đó, chúng tôi ngủ ở nhà thờ với hai chiếc mền len cũ các Sơ cho. Hôm sau, bà vú ra phố dọ tìm, bán đôi hoa tai của mẹ để lấy tiền thuê đỡ căn chòi lá thấp bên hông nhà thờ. Còn dư chút đỉnh, mẹ bảo Vú đong ít gạo và mua cá khô. Không nói ra nhưng chắc cả bố và mẹ đều mong anh tá điền mau trở lại vì đôi hoa tai của mẹ là vật quý giá cuối cùng.
Thời gian đó, hàng ngày bà vú phải cắp rổ ra bờ ao ở đầu chợ để vớt ốc, bắt còng. Hôm nào may mắn bắt được nhiều, Vú vào chợ bán bớt rồi mua chút rau, thịt mang về. Vú chăm chút dỗ dành mẹ phải ăn để có đủ sức sanh. Mẹ tủi thân, cứ nắm tay Vú mà khóc. Những lúc đó bố thường bỏ ra ngoài, tìm gầu, ra giếng xách nước ...
Một hôm, Vú cắp rổ về sớm hơn mọi ngày. Tiếng Vú reo vui từ đầu ngõ:
- Cậu Hai ơi! Mợ Hai ơi ! Có khách quý !
Mẹ tôi đang nằm vội ngồi bật dậy thì Vú cũng vừa tới cửa, theo sau là một người đàn bà gương mặt phúc hậu. Thấy mẹ tôi, bà nhào tới ôm, vừa khóc, vừa nói:
- Cơ khổ! Cơ khổ! Chú thím tới đây từ bao giờ" Trời ơi, con cái nhà giầu mà loạn lạc cũng khổ sở thế này!
Rồi bà giở giỏ mây, cho chúng tôi bao nhiêu là kẹo bánh. Bà là vợ thứ ba của ông trẻ tôi nên chúng tôi gọi bà là Bà Trẻ Ba. Bà cũng chạy loạn về đây nhưng có thân quyến ở tại tỉnh nên không long đong đói lạnh như chúng tôi.
Đêm hôm đó, mẹ tôi chuyển bụng. Vú chạy xuống nhà thương trong tỉnh cầu cứu. Cô mụ vội vã đi ngay.

Sáng sớm hôm sau, mặt trời vừa dọi thẳng tia nắng hồng đầu ngày qua phiên cửa liếp thì tôi nghe thấy tiếng khóc trong vắt như thủy tinh. Em trai tôi đã chào đời trong căn chòi lá, giữa đường ly loạn....
Lâu lắm, từ ngày rời Hà Nội, mới thấy nét rạng rỡ trên mặt bố, mới thấy bố cười, mới thấy mắt bố sáng.....
Nghe tin mẹ vừa sanh, Bà Trẻ Ba đi cùng với anh người nhà, gánh một gánh gạo trắng tới. Bố mẹ tôi ái ngại lắm vì giữa buổi loạn lạc, bà cho một gánh gạo không phải là ít. Nhưng bà bảo mẹ tôi:
- Thím phải nhận mà ăn, lấy sữa cho con bú chứ lúc này tìm đâu ra sữa hộp.
Bà không biết rằng, dù có tìm ra sữa hộp, bố mẹ tôi cũng đâu có tiền mà mua!
Cũng hôm ấy, Vú cắp rổ tới những ao lạch xa hơn, bắt được rất nhiều cua đồng. Vú bán lấy tiền mua giò lụa về rim mặn cho mẹ ăn kiêng, lại mua bánh tro và nhiều trái cây cho hai chị em tôi. Vú bảo:
- Ăn đi, ăn để giết sâu bọ.
Tôi ngây thơ hỏi:
- Sâu bọ ở đâu mà giết hả Vú"
Vú bảo:
- Hôm nay là Tết Đoan Ngọ, mồng 5 tháng 5 là ngày giết sâu bọ, ai cũng ăn trái cây cho sạch ruột.
Vú chất phác, chỉ biết giải thích như thế. Đó cũng chính là chi tiết duy nhất để bố mẹ tôi nhớ về ngày tháng sanh em tôi. Ngày âm lịch đó cũng dùng làm khai sinh cho em tôi khi về thành.
Gánh gạo Bà Trẻ Ba cho cũng vơi dần mà anh tá điền vẫn biệt vô âm tín. Mẹ nói với bố:
- Không thể để các con chết đói ở đây, hay chúng ta liều trở về quê vậy"
Bố nói:
- Đành thôi, nhưng về Hà Nam chứ không về Hà Đông.
Hà Nam là quê ngoại tôi. Mẹ nghe thế thì mừng lắm vì chúng tôi sẽ được gặp ngoại; nhưng mẹ vẫn nhìn bố mà nói:
- Mình vẫn còn giận Thầy ư" Tánh Thầy cẩn thận chứ lúc nào chả thương con thương cháu. Không thương sao cho người gánh gạo theo, sao bắt bà vú cùng đi, đỡ đần"
Bố gặng hỏi:
- Thế còn thằng Khương đâu" Nó quay về xin tiếp tế rồi cũng biến mất.
Sau này bố mới biết rằng anh tá điền tên Khương không bao giờ về tới làng. Anh ta mất tích trên đường trở lại Hà Đông. Cũng sau này bố mới biết là ông nội nhắn người tìm kiếm chúng tôi khắp nơi không có tin tức gì khiến bà nội buồn rầu, lâm bệnh nặng.
Rời Phát Diệm để đi về quê ngoại ở Hà Nam, mẹ quấn em bé trong một chiếc khăn bông. Mới sanh được hai mươi ngày, mẹ còn yếu lắm nhưng không thể ở lại Phát Diệm được nữa. Mẹ mặc chiếc áo len xám, đầu chít khăn vuông, chân đi đôi vớ nỉ của bố. Bố cõng em gái tôi trên lưng, một tay dắt tôi, một tay dắt mẹ, còn bà vú bế em bé.
Dọc đường tôi khóc vì đói và mỏi chân. Bố luôn miệng dỗ dành:
- Ráng đi con, một đoạn ngắn nữa thôi rồi gặp ngoại, ngoại sẽ cho con ăn cháo, ăn bánh ...
Tới một quãng đồng, trời bỗng chuyển mưa. Bố hối mọi người:
- Mau lên, tới cho kịp căn chòi đằng trước kẻo ướt hết!
Khi tới chòi thì mưa cũng vừa ập xuống. Căn chòi lá, nền đất, dột tứ tung. Bố đỡ mẹ vào góc ít dột nhất, đặt em bé vào lòng mẹ rồi cởi chiếc áo đang mặc, đắp cho em. Chúng tôi run rẩy trong căn chòi lá bốn bề gió thốc. Bố yên lặng ngước nhìn khung trời vần vũ. Chắc bố đang thầm khấn Trời Phật che chở. Không biết có phải Phật nghe thấy bố xin hay không mà sau đó, mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn. Bố giục mọi người “Đi mau thôi”. Bấy giờ, bố bế thốc cả hai chị em tôi vào bên hông để đi cho nhanh ....
Khi chúng tôi thấy bóng cây đa đầu làng quê ngoại cũng là lúc có tiếng reo của một người bên ruộng:
- Trời ơi, Cô, chú!
Đó là người chị họ đang hái rau muống. Chị vội đỡ tôi từ tay bố, miệng gọi rối rít những người làng quanh đó chạy về báo cho ngoại tôi biết.
Thời gian ở quê ngoại, chúng tôi được bao bọc bằng mật ngọt của tình thương. Đối với bà ngoại tôi, việc con rể đưa vợ con về tá túc là một đặc ân vì con gái đã đi lấy chồng là “con người ta”, làm gì còn được gần gũi con, huống chi lại có cả rể và đám cháu.
Ông ngoại mất khi mẹ tôi mới mười ba tuổi và tôi nhớ, đã từng được nghe những nguyên nhân khác nhau về cái chết của ông. Khi thì “Ông bệnh mà mất” khi thì “Ông mất vì tai nạn” và nghiêm trọng hơn cả là “Ông tự sát bằng súng lục sau khi âm mưu ám sát tên toàn quyền Pháp không thành!”. Cũng như cái chết của bác Tri, anh ruột bố, mãi sau này tôi mới biết là khi gia đình làm lễ phát tang ở chùa Bà Đá thì chiếc quan tài chỉ là quan tài trống! Bác tôi đã bị Việt Minh thảm sát ngày 19 tháng 12 năm 1946 cùng với hơn ba trăm chiến sỹ cách mạng tại làng Hoàng Xá vì Việt Minh – tức Cộng Sản Việt Nam - muốn cướp công kháng chiến của tất cả các đảng phái yêu nước. Thân xác bao người hiến dâng cho Tổ Quốc đã bị chôn vùi tập thể dưới những hầm hố đào sẵn!
Cái chết của bác khiến tôi hiểu được vì sao bác rời gia đình khi tuổi còn xanh.
Cái chết của bác cũng khiến tôi hiểu được vì sao khi Cộng Sản vừa chiếm được miền Bắc và khởi sự chính sách đấu tố thì ông nội tôi là người đầu tiên bị bắt đi trong tiếng kêu than tuyệt vọng của đàn ngỗng.
Cái chết của bác cũng khiến tôi hiểu được vì sao, bao nhiêu năm trong lao tù Cộng Sản, dù sức tàn lực kiệt, bố tôi vẫn giữ trọn được tinh thần bất khuất.
Chỉ còn lại một điều tôi không hiểu là sao vẫn có những người chưa nhìn thấy chân diện mục của chủ thuyết Cộng Sản tàn bạo, vô luân"

Linh Linh Ngọc

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anderson tập trung vào cách các phương tiện truyền thông tạo ra cái gọi là “các cộng đồng tưởng tượng”, đặc biệt là sức mạnh của phương tiện in ấn trong việc định hình tâm lý xã hội của một cá nhân. Anderson phân tích chữ viết, một công cụ được sử dụng bởi các giáo hội, tác giả và các công ty truyền thông (đặc biệt là sách, báo và tạp chí), cũng như các công cụ của chính phủ như bản đồ, kiểm tra dân số (census) và viện bảo tàng. Tất cả các công cụ này đều được xây dựng để nhắm vào đại chúng thông qua những hình ảnh, hệ tư tưởng và ngôn ngữ đang chiếm giữ ưu thế. Ví dụ, Anderson phân tích một cách sâu sắc về nguồn gốc văn hóa và tôn giáo của một biểu tượng rất điển hình của chủ nghĩa dân tộc hiện đại: các đài chiến sĩ trận vong với người lính vô danh.
Thánh Kinh nói thế. “Homosexuality is sin". “Đồng tính là tội lỗi.” Sự thật thì sao??? Lần đầu tiên từ “đồng tính" xuất hiện trong Thánh Kinh là năm 1946, khoảng một ngàn chín trăm mười năm sau khi chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự. Trong gần 80 năm qua, nó làm nền tảng cho không biết bao phân biệt đối xử, gây bao đau thương chết chóc cho những người đồng tính.
Quan điểm chính trị thường đươc chia làm hai phe: bảo thủ và cấp tiến. Người bảo thủ có nhiều quan điểm trái ngược với người cấp tiến. Người cấp tiến còn gọi là "khuynh tả", có khi được cho là "thân cộng". Chữ "liberal" được dùng với hàm ý miệt thị. Thật ra thì không đơn giản như vậy. Xin đọc tiếp.
Một câu hỏi phức tạp, gây tranh luận sôi nổi và trở lại Tối Cao Pháp Viện (TCPV) vào mùa thu này: Điều gì sẽ xảy ra khi quyền tự do ngôn luận và quyền công dân xung đột với nhau?
Có một câu hỏi còn bỏ ngỏ cho các chuyên gia và các nghiên cứu gia: Có phải hiện nay có nhiều người Mỹ tin vào các thuyết âm mưu hơn bao giờ hết không? Tốt nghiệp xong bằng Tiến Sĩ Triết Học, Keith Raymond Harris thực hiện một cuộc nghiên cứu về các thuyết âm mưu chỉ ra mối lo ngại rằng việc tập trung vào tìm hiểu bao nhiêu người Mỹ tin tưởng các giả thuyết về âm mưu có thể khiến chúng ta lơ là quên đi những mầm hiểm họa tự các thuyết âm mưu này gieo rắc.
Lãi suất tăng đều đặn đã khiến người tiêu dùng và doanh nghiệp ngày càng tốn kém khi đi vay – để mua nhà, xe và các giao dịch hàng hóa khác. Và gần như chắc chắn sắp tới sẽ có thêm nhiều đợt tăng lãi suất nữa. Các viên chức FED được cho là sẽ phát tín hiệu lãi suất chuẩn có thể lên tới 4.5% vào đầu năm tới. Một chuỗi các đợt tăng lãi suất sẽ khiến nền kinh tế Mỹ có nguy cơ rơi vào suy thoái, đồng nghĩa với thất nghiệp, sa thải nhân viên và tạo áp lực lên giá chứng khoán. Bài này nêu lên những thắc mắc và trả lời thiết thực dành cho người tiêu dùng.
Chủ nghĩa Dân Tộc Cơ-đốc tin rằng nước Mỹ được xác định bởi Cơ-đốc giáo, và chính phủ nên thực hiện các bước tích cực để giữ nó theo cách đó. Những người theo chủ nghĩa dân tộc Cơ-đốc khẳng định rằng nước Mỹ đang và vẫn phải là một “quốc gia Cơ-đốc giáo”, không chỉ đơn thuần là một quan sát về lịch sử, mà là một chương trình cho những gì nước Mỹ phải tiếp tục trong tương lai.
Baltimore, nằm ngay trên bờ vịnh Chesapeake Bay thuộc bờ biển Đại Tây Dương, có dân số khoảng 700.000 người. Đó là thành phố, cũng là trung tâm công nghiệp và văn hóa lớn nhất của tiểu bang Maryland. Trong thời gian đầu lập quốc, Baltimore đã từng là một trong ba hải cảng lớn nhất của Hoa Kỳ và nó cũng đã từng đóng góp một phần vô cùng quan trọng trong ngành ngoại thương và phát triển kinh tế cho xứ sở này.
Sau khi nhiều tờ báo tiếng Anh phổ biến bản tin về vụ 4 nguyên đơn, gồm Elisabeth Le, Phuong Le, Lan Tran, và Lien Ta, kiện bị cáo Quyen Van Ho, đạo hiệu Thích Đạo Quảng, trụ trì Chùa Tam Bảo tại thành phố Baton Rouge thuộc tiểu bang Louisiana, tòa soạn Việt Báo đã thu thập được một số bản tin cập nhật và các tài liệu liên quan đến vụ này, gồm lá thư của Bác sĩ tâm lý đã về hưu John W. Pickering gửi cho báo The Advocate, và lá thư ngỏ của Luật sư di trú Roger K. Ward, Esq. gửi cho các Phật tử của Chùa Tam Bảo. Việt Báo trích dịch và đăng lại.
Tầm quan trọng của diaspora hay cộng đồng người gốc Việt sống ngoài Việt Nam càng ngày càng gia tăng. Để có một cái nhìn tổng quát, có tính cách học thuật và khách quan hơn về tình hình chung của diaspora Việt cũng như các diaspora khác trên thế giới, tôi xin giới thiệu và dịch bài viết năm 2005 của Steven Vertovec, một giáo sư đại học Đức chuyên về Xã hội học và Dân tộc học. Sau đây là phần 2, tiếp theo phần 1 (kỳ trước) bàn về các ý niệm và định nghĩa của diaspora. Các điểm liên quan tới Việt Nam sẽ được người dịch ghi chú, bàn luận thêm trong phần chú thích ở cuối bài.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.