Hôm nay,  

Sau Màn Đêm

25/08/200500:00:00(Xem: 7189)
- Trong mấy chị em chúng tôi, đứa nào cũng được bố mẹ lấy cho một lá số tử vi khi vừa mười tám tuổi, trừ cậu em thứ ba vì mẹ sanh em trong thời tao loạn, không có giấy tờ chính xác. Em tôi chào đời vào giữa năm 1947, thời gian mà người dân Việt Bắc, từ thành thị đến thôn quê, lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau chạy loạn, Nói là chạy loạn nhưng thực ra chỉ như kiến bò miệng chén. Trận chiến dằng dai giữa Pháp và Việt Minh đã xô đẩy dân chúng vào giữa vòng lửa đạn khốc liệt. Khi quân Pháp chiếm lại Hà Nội vào tháng hai năm 1947 thì Hà Nội chỉ còn là một thành phố vắng tanh, hoang tàn, đổ nát. Đàn bà, trẻ con dắt nhau chạy về các vùng quê lân cận; còn đa số thanh niên trai tráng theo tiếng gọi “chống Pháp cứu nước” đã gia nhập các toán kháng chiến, các đoàn Vệ-quốc-quân, tưởng là hiến thân cho Tổ Quốc !
Khi đó, tôi mới lên năm và em gái tôi lên ba. Bố mẹ tôi vội vã bế chúng tôi rời Hà Nội khi tiếng giầy đinh của lính Pháp sầm sập nện trên cầu Long Biên. Biết rằng quê nội ở Hà Đông cũng không yên vì quá gần Hà Nội nên bố mẹ tôi ghé về quê, định đón ông bà nội. Về tới làng thì dân làng cũng đang lục tục chạy đi, chỉ còn những người già quyết ở lại vì cho rằng dù Pháp hay Việt Minh tới cũng chẳng làm gì họ. Ông bà nội tôi cũng nghĩ thế. Ông nội có một số vàng chôn dấu ở vườn sau, bố tôi có ngỏ lời xin ông một ít để phòng thân vì mẹ tôi đang mang thai, sắp tới ngày sinh nở. Theo lời bố mẹ tôi kể thì ông nội không muốn đào vàng vì sợ có vết, giặc sẽ biết. Ông chỉ cho một người tá điền gánh một gánh gạo đi theo và một bà vú đỡ đần mẹ tôi. Bà vú gánh hai chị em tôi bằng hai cái thúng tròn. Em gái tôi quá nhỏ, chắc không biết gì. Riêng tôi, chỉ mang máng nhớ cái cảm giác nhịp nhàng, đều đặn truyền xuống từ hai đầu đòn gánh dưới bước đi thoan thoắt của bà vú.
Gia đình tôi cùng với dân làng chạy dọc xuống Hưng Yên rồi Phủ Lý. Dân địa phương đều rất thương xót người từ xa chạy tới, có con cá nào mập, lá rau nào tươi họ đều mang cho. Gánh gạo người tá điền gánh theo đã vơi dần mà những vùng đất đi qua chưa có nơi nào tạm yên ổn để chúng tôi có thể dừng chân. Mẹ tôi đã mệt nhọc lắm và bố lo sợ không biết mẹ sẽ sanh lúc nào. Một chiều, trên bờ sông Trà Lý, bố tôi gặp lại người bạn cũ. Bác ấy đang sửa soạn cho gia đình chạy về Phát Diệm vì nghe nói Phát Diệm là tỉnh duy nhất còn tự trị. Thế là bà vú lại sửa soạn quang, thúng, sau khi mặc cho tôi tấm áo bông mầu lam và đặt tôi ngồi vào thúng trước. Vú nói, tại tôi hay ngọ ngoạy, phải ngó chừng; còn em gái tôi ngồi ở thúng sau vì con bé hiền khô, hễ đã đặt ngồi vào thúng và đưa cho một viên kẹo bột là nó không hề nhúc nhích.
Mẹ tôi nói, đường về Phát Diệm qua nhiều cánh rừng phong. Nhìn lá đổi mầu, mẹ tôi khóc vùi vì nhớ quê ngoại. Chặng dừng ở đầu tỉnh Nam Định, bà vú đã nấu tới hột gạo cuối cùng trong gánh gạo ông nội cho. Anh tá điền đề nghị chúng tôi cứ đi tiếp vào Phát Diệm để mẹ tôi nghỉ ngơi, còn anh, sẽ lội ngược về Hà Đông xin tiếp tế. Bố tôi buồn tủi và có ý giận ông nội nhưng anh tá điền cương quyết trở về sau khi trấn an bố tôi rằng “Cậu cứ đưa mợ và các em đi tiếp, con về thưa cho hai cụ rõ lộ trình rồi trở lại ngay. Con đi một mình sẽ nhanh lắm, cậu đừng lo.”
Khi tới Phát Diệm, trời đã nhá nhem tối. Thành phố yên tĩnh với bóng những tháp chuông nhà thờ in trên nền trời. Bố dừng lại ở khu chợ đã vắng người, hết nhìn mẹ lại nhìn hai chị em chúng tôi. Lòng bố chắc tràn đầy lo lắng, xót thương. Cuối cùng, bố nói với mẹ: “Đi, chúng ta tới gõ cửa nhà Chúa”
Đêm đó, chúng tôi ngủ ở nhà thờ với hai chiếc mền len cũ các Sơ cho. Hôm sau, bà vú ra phố dọ tìm, bán đôi hoa tai của mẹ để lấy tiền thuê đỡ căn chòi lá thấp bên hông nhà thờ. Còn dư chút đỉnh, mẹ bảo Vú đong ít gạo và mua cá khô. Không nói ra nhưng chắc cả bố và mẹ đều mong anh tá điền mau trở lại vì đôi hoa tai của mẹ là vật quý giá cuối cùng.
Thời gian đó, hàng ngày bà vú phải cắp rổ ra bờ ao ở đầu chợ để vớt ốc, bắt còng. Hôm nào may mắn bắt được nhiều, Vú vào chợ bán bớt rồi mua chút rau, thịt mang về. Vú chăm chút dỗ dành mẹ phải ăn để có đủ sức sanh. Mẹ tủi thân, cứ nắm tay Vú mà khóc. Những lúc đó bố thường bỏ ra ngoài, tìm gầu, ra giếng xách nước ...
Một hôm, Vú cắp rổ về sớm hơn mọi ngày. Tiếng Vú reo vui từ đầu ngõ:
- Cậu Hai ơi! Mợ Hai ơi ! Có khách quý !
Mẹ tôi đang nằm vội ngồi bật dậy thì Vú cũng vừa tới cửa, theo sau là một người đàn bà gương mặt phúc hậu. Thấy mẹ tôi, bà nhào tới ôm, vừa khóc, vừa nói:
- Cơ khổ! Cơ khổ! Chú thím tới đây từ bao giờ" Trời ơi, con cái nhà giầu mà loạn lạc cũng khổ sở thế này!
Rồi bà giở giỏ mây, cho chúng tôi bao nhiêu là kẹo bánh. Bà là vợ thứ ba của ông trẻ tôi nên chúng tôi gọi bà là Bà Trẻ Ba. Bà cũng chạy loạn về đây nhưng có thân quyến ở tại tỉnh nên không long đong đói lạnh như chúng tôi.
Đêm hôm đó, mẹ tôi chuyển bụng. Vú chạy xuống nhà thương trong tỉnh cầu cứu. Cô mụ vội vã đi ngay.

Sáng sớm hôm sau, mặt trời vừa dọi thẳng tia nắng hồng đầu ngày qua phiên cửa liếp thì tôi nghe thấy tiếng khóc trong vắt như thủy tinh. Em trai tôi đã chào đời trong căn chòi lá, giữa đường ly loạn....
Lâu lắm, từ ngày rời Hà Nội, mới thấy nét rạng rỡ trên mặt bố, mới thấy bố cười, mới thấy mắt bố sáng.....
Nghe tin mẹ vừa sanh, Bà Trẻ Ba đi cùng với anh người nhà, gánh một gánh gạo trắng tới. Bố mẹ tôi ái ngại lắm vì giữa buổi loạn lạc, bà cho một gánh gạo không phải là ít. Nhưng bà bảo mẹ tôi:
- Thím phải nhận mà ăn, lấy sữa cho con bú chứ lúc này tìm đâu ra sữa hộp.
Bà không biết rằng, dù có tìm ra sữa hộp, bố mẹ tôi cũng đâu có tiền mà mua!
Cũng hôm ấy, Vú cắp rổ tới những ao lạch xa hơn, bắt được rất nhiều cua đồng. Vú bán lấy tiền mua giò lụa về rim mặn cho mẹ ăn kiêng, lại mua bánh tro và nhiều trái cây cho hai chị em tôi. Vú bảo:
- Ăn đi, ăn để giết sâu bọ.
Tôi ngây thơ hỏi:
- Sâu bọ ở đâu mà giết hả Vú"
Vú bảo:
- Hôm nay là Tết Đoan Ngọ, mồng 5 tháng 5 là ngày giết sâu bọ, ai cũng ăn trái cây cho sạch ruột.
Vú chất phác, chỉ biết giải thích như thế. Đó cũng chính là chi tiết duy nhất để bố mẹ tôi nhớ về ngày tháng sanh em tôi. Ngày âm lịch đó cũng dùng làm khai sinh cho em tôi khi về thành.
Gánh gạo Bà Trẻ Ba cho cũng vơi dần mà anh tá điền vẫn biệt vô âm tín. Mẹ nói với bố:
- Không thể để các con chết đói ở đây, hay chúng ta liều trở về quê vậy"
Bố nói:
- Đành thôi, nhưng về Hà Nam chứ không về Hà Đông.
Hà Nam là quê ngoại tôi. Mẹ nghe thế thì mừng lắm vì chúng tôi sẽ được gặp ngoại; nhưng mẹ vẫn nhìn bố mà nói:
- Mình vẫn còn giận Thầy ư" Tánh Thầy cẩn thận chứ lúc nào chả thương con thương cháu. Không thương sao cho người gánh gạo theo, sao bắt bà vú cùng đi, đỡ đần"
Bố gặng hỏi:
- Thế còn thằng Khương đâu" Nó quay về xin tiếp tế rồi cũng biến mất.
Sau này bố mới biết rằng anh tá điền tên Khương không bao giờ về tới làng. Anh ta mất tích trên đường trở lại Hà Đông. Cũng sau này bố mới biết là ông nội nhắn người tìm kiếm chúng tôi khắp nơi không có tin tức gì khiến bà nội buồn rầu, lâm bệnh nặng.
Rời Phát Diệm để đi về quê ngoại ở Hà Nam, mẹ quấn em bé trong một chiếc khăn bông. Mới sanh được hai mươi ngày, mẹ còn yếu lắm nhưng không thể ở lại Phát Diệm được nữa. Mẹ mặc chiếc áo len xám, đầu chít khăn vuông, chân đi đôi vớ nỉ của bố. Bố cõng em gái tôi trên lưng, một tay dắt tôi, một tay dắt mẹ, còn bà vú bế em bé.
Dọc đường tôi khóc vì đói và mỏi chân. Bố luôn miệng dỗ dành:
- Ráng đi con, một đoạn ngắn nữa thôi rồi gặp ngoại, ngoại sẽ cho con ăn cháo, ăn bánh ...
Tới một quãng đồng, trời bỗng chuyển mưa. Bố hối mọi người:
- Mau lên, tới cho kịp căn chòi đằng trước kẻo ướt hết!
Khi tới chòi thì mưa cũng vừa ập xuống. Căn chòi lá, nền đất, dột tứ tung. Bố đỡ mẹ vào góc ít dột nhất, đặt em bé vào lòng mẹ rồi cởi chiếc áo đang mặc, đắp cho em. Chúng tôi run rẩy trong căn chòi lá bốn bề gió thốc. Bố yên lặng ngước nhìn khung trời vần vũ. Chắc bố đang thầm khấn Trời Phật che chở. Không biết có phải Phật nghe thấy bố xin hay không mà sau đó, mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn. Bố giục mọi người “Đi mau thôi”. Bấy giờ, bố bế thốc cả hai chị em tôi vào bên hông để đi cho nhanh ....
Khi chúng tôi thấy bóng cây đa đầu làng quê ngoại cũng là lúc có tiếng reo của một người bên ruộng:
- Trời ơi, Cô, chú!
Đó là người chị họ đang hái rau muống. Chị vội đỡ tôi từ tay bố, miệng gọi rối rít những người làng quanh đó chạy về báo cho ngoại tôi biết.
Thời gian ở quê ngoại, chúng tôi được bao bọc bằng mật ngọt của tình thương. Đối với bà ngoại tôi, việc con rể đưa vợ con về tá túc là một đặc ân vì con gái đã đi lấy chồng là “con người ta”, làm gì còn được gần gũi con, huống chi lại có cả rể và đám cháu.
Ông ngoại mất khi mẹ tôi mới mười ba tuổi và tôi nhớ, đã từng được nghe những nguyên nhân khác nhau về cái chết của ông. Khi thì “Ông bệnh mà mất” khi thì “Ông mất vì tai nạn” và nghiêm trọng hơn cả là “Ông tự sát bằng súng lục sau khi âm mưu ám sát tên toàn quyền Pháp không thành!”. Cũng như cái chết của bác Tri, anh ruột bố, mãi sau này tôi mới biết là khi gia đình làm lễ phát tang ở chùa Bà Đá thì chiếc quan tài chỉ là quan tài trống! Bác tôi đã bị Việt Minh thảm sát ngày 19 tháng 12 năm 1946 cùng với hơn ba trăm chiến sỹ cách mạng tại làng Hoàng Xá vì Việt Minh – tức Cộng Sản Việt Nam - muốn cướp công kháng chiến của tất cả các đảng phái yêu nước. Thân xác bao người hiến dâng cho Tổ Quốc đã bị chôn vùi tập thể dưới những hầm hố đào sẵn!
Cái chết của bác khiến tôi hiểu được vì sao bác rời gia đình khi tuổi còn xanh.
Cái chết của bác cũng khiến tôi hiểu được vì sao khi Cộng Sản vừa chiếm được miền Bắc và khởi sự chính sách đấu tố thì ông nội tôi là người đầu tiên bị bắt đi trong tiếng kêu than tuyệt vọng của đàn ngỗng.
Cái chết của bác cũng khiến tôi hiểu được vì sao, bao nhiêu năm trong lao tù Cộng Sản, dù sức tàn lực kiệt, bố tôi vẫn giữ trọn được tinh thần bất khuất.
Chỉ còn lại một điều tôi không hiểu là sao vẫn có những người chưa nhìn thấy chân diện mục của chủ thuyết Cộng Sản tàn bạo, vô luân"

Linh Linh Ngọc

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong giới báo chí Việt ngữ hải ngoại, có hai khuynh hướng rõ rệt khi viết về quốc gia Trung Đông nằm giữa Ai Cập và Jordan. Một số, có vẻ là đa số, gọi quốc gia đó là Do Thái, trong khi số khác, trong đó có tôi, gọi là Israel. Có nhiều lý do để gọi quốc gia đó là Do Thái, trong đó lịch sử là một. Quốc gia này được lập ra như một quốc gia của người theo đạo Do Thái. Bản tuyên bố Balfour của Anh năm 1947 chấp nhận việc thành lập một quốc gia của người Do Thái trên đất Palestine khi đó đang do Anh nắm giữ. Nghị quyết Liên Hiệp Quốc năm 1947 thông qua một kế hoạch phân chia vùng đất làm hai, một cho người Do Thái và một cho người Ả Rập.
Tháng Lịch Sử Phụ Nữ tại Hoa Kỳ phát sinh từ phong trào đòi phục hồi vai trò phụ nữ trong lịch sử quốc gia, hình thành vào thập niên 1970 dưới ảnh hưởng của làn sóng phản kháng xã hội. Trong nhiều thế kỷ, phụ nữ hiện diện trong mọi sinh hoạt của cộng đồng, nhưng lại vắng bóng trong các bộ sử chính thống; những tập sử đầu tiên chỉ ghi chép tên tuổi vài nữ hoàng hoặc phụ nữ quyền quý, còn đại đa số bị loại khỏi dòng niên biểu của quốc gia.
Ở phương diện đạo đức và văn hóa, Philip Taubman và William Taubman đã phân tích những mâu thuẫn nội tâm của McNamara: tiếng nói của lương tâm và quyền lợi quốc gia. Theo họ, trong thâm tâm, ông từng nhận định rằng Hoa Kỳ đã phạm sai lầm nghiêm trọng và không thể giành chiến thắng trong cuộc chiến. Tuy nhiên, trước công chúng và trong các tuyên bố chính thức, ông vẫn duy trì lập trường cứng rắn, tiếp tục biện minh cho chính sách leo thang quân sự. Sự đối lập giữa nhận thức riêng tư và lập trường công khai ấy tạo nên một nghịch lý phản ánh bi kịch cá nhân của McNamara, đồng thời cũng là bi kịch của cả một thời kỳ lịch sử...
Hiệp định Mekong năm 1995 là nền tảng của sự hợp tác cho Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam – qua đó các quốc gia thành viên long trọng hứa hẹn sẽ tôn trọng công bằng, không gây tổn hại cho nhau và cùng chung quản lý sông Mekong. Ủy hội sông Mekong, MRC là cơ quan được lập ra với nhiệm vụ quản lý, quan trắc kiểm soát dòng nước, chia sẻ dữ liệu, điều hợp tham vấn các dự án trên sông và bảo vệ sự lành mạnh cho lưu vực. Nhân dịp Lễ Kỷ Niệm 30 Năm ngày thành lập, tháng 11 năm 2025, MRC mô tả cho lưu vực một thành tích vẻ vang là đạt được: "Thịnh vượng chung“. Các quan chức MRC nhấn mạnh khả năng cảnh báo lũ lụt, nghiên cứu môi trường, lập quy hoạch phát triển, và cả những nhượng bộ (bất đắc dĩ) của Đối Tác Trung Quốc về việc chia sẻ dữ liệu dòng chảy của Lạn Thương giang, thượng nguồn sông Mekong trên Vân Nam.
Năm Bính Ngọ 2026 – năm Con Ngựa Lửa – đang phi nước đại tới với bao hứa hẹn đổi thay, may mắn và khám phá mới quanh một loài vật từng cùng nhân loại viết lại bản đồ thế giới. Các nhà cổ sinh học cho biết tổ tiên xa xưa của ngựa là một sinh vật cỡ… con cáo, sống trên đất Bắc Mỹ khoảng 55 triệu năm trước; nhiều triệu năm sau, dòng họ ấy mới tiến hóa thành giống Equus – họ hàng trực tiếp của những chú ngựa ngày nay. Đàn Equus lần theo dải đất Bering băng qua sang Á, Âu, Phi, để rồi gặp tổ tiên chúng ta – lúc ấy vẫn xem ngựa là mồi săn, để lại xương và dấu mũi giáo trong những dấu tích khảo cổ có niên đại hàng trăm ngàn năm.
Theo cuộc thăm dò mới của NBC News Decision Desk Poll do SurveyMonkey thực hiện, sự ủng hộ dành cho chương trình nhập cư của Tổng thống Donald Trump đang giảm mạnh vào đầu năm 2026 sau khi các nhân viên nhập cư liên bang bắn chết hai người Mỹ vào tháng trước. Cuộc thăm dò cho thấy rằng các chiến thuật hung hăng và chỉ tiêu trục xuất của chính quyền đã thay đổi quan điểm của người Mỹ về Trump đối với chính những vấn đề đã giúp ông đắc cử. Vấn đề nhập cư và an ninh biên giới từ lâu đã nổi bật như một điểm mạnh của Trump trong các cuộc thăm dò, cả khi ông tranh cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2024 và trong năm đầu tiên của chính quyền mới. Giờ đây, tỷ lệ ủng hộ Trump về vấn đề này đã giảm xuống ngang bằng với tỷ lệ ủng hộ công việc tổng thể của ông.
Trong các cuộc xuống đường phản đối biện pháp siết chặt di trú và tăng ngân sách cho cơ quan ICE trên khắp nước Mỹ những tuần qua, hình ảnh dễ thấy là hàng hàng giáo sĩ đeo cổ áo thánh, giơ bảng, đứng giữa hàng rào cảnh sát và đoàn người di dân. Một trong những tiếng nói gây tranh luận mạnh là Giám mục Rob Hirschfeld, Giáo phận Episcopal New Hampshire. Ngày 18.1.2026, ông kêu gọi các giáo sĩ trong giáo phận “chuẩn bị cho một kỷ nguyên tử đạo mới”, thậm chí lo sẵn di chúc và giấy tờ hậu sự. Theo ông, đây không còn là thời của những tuyên bố trên giấy, mà là lúc “dùng chính thân thể mình để đứng giữa các thế lực của thế gian và những người dễ bị tổn thương nhất”.
Câu chuyện Samuel Green nhắc lại một bài học cũ mà vẫn mới - pháp luật có thể sai, nhưng dư luận đạo đức của xã hội – lương tri chung của nhà giáo, nhà báo, trí thức, giáo dân, độc giả – nếu đủ bền, vẫn có thể bẻ cong những bản án bất công. Khi một mục sư da đen bị tống ngục chỉ vì giữ Uncle Tom’s Cabin, chính các tiếng nói ấy, chứ không phải thiện chí của giới cầm quyền, đã dần mở cửa nhà tù cho ông. Giữa thời nay, khi ngôn ngữ và ý kiến dễ bị dán nhãn, bị siết trong tên gọi “chống woke” hay “đúng đắn chính trị”, bài học đó rất đáng nhớ: nếu xã hội không giữ cho mình một dư luận đạo đức độc lập – bảo vệ quyền đọc, quyền nói, quyền bất đồng – thì khoảng cách từ “quản lý ngôn luận” đến “vào tù vì một cuốn sách” không bao giờ xa như ta tưởng.
Belzoni, một thị trấn chừng hai ngàn dân ở Mississippi, lâu nay được quảng cáo là “Kinh đô Catfish của thế giới”. Nhưng với người da đen, cái tên ấy còn gợi lại một chuyện khác: một trong những vụ treo cổ thời dân quyền đầu tiên trên đất Mỹ ở thế kỷ này. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, hai người thuộc tổ chức White Citizens’ Council ở địa phương nhắm thẳng vào ca-bin xe của Mục sư George Lee mà bắn; mấy viên đạn xé nát nửa phần dưới gương mặt ông. Lee là một trong những người đồng lập hội NAACP tại Belzoni, là người da đen đầu tiên ghi tên đi bầu được ở hạt Humphreys kể từ thời Tái thiết. Không những thế, ông còn vận động cho hơn trăm người da đen cùng thị trấn ghi tên vào danh sách cử tri, một con số đáng kể nếu nhớ tới kích thước nhỏ bé của Belzoni và bầu không khí bạo lực luôn treo lơ lửng trên đầu người da đen dám dùng lá phiếu của mình giữa thời Jim Crow
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.