Hôm nay,  

Sau Màn Đêm

25/08/200500:00:00(Xem: 6151)
- Trong mấy chị em chúng tôi, đứa nào cũng được bố mẹ lấy cho một lá số tử vi khi vừa mười tám tuổi, trừ cậu em thứ ba vì mẹ sanh em trong thời tao loạn, không có giấy tờ chính xác. Em tôi chào đời vào giữa năm 1947, thời gian mà người dân Việt Bắc, từ thành thị đến thôn quê, lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau chạy loạn, Nói là chạy loạn nhưng thực ra chỉ như kiến bò miệng chén. Trận chiến dằng dai giữa Pháp và Việt Minh đã xô đẩy dân chúng vào giữa vòng lửa đạn khốc liệt. Khi quân Pháp chiếm lại Hà Nội vào tháng hai năm 1947 thì Hà Nội chỉ còn là một thành phố vắng tanh, hoang tàn, đổ nát. Đàn bà, trẻ con dắt nhau chạy về các vùng quê lân cận; còn đa số thanh niên trai tráng theo tiếng gọi “chống Pháp cứu nước” đã gia nhập các toán kháng chiến, các đoàn Vệ-quốc-quân, tưởng là hiến thân cho Tổ Quốc !
Khi đó, tôi mới lên năm và em gái tôi lên ba. Bố mẹ tôi vội vã bế chúng tôi rời Hà Nội khi tiếng giầy đinh của lính Pháp sầm sập nện trên cầu Long Biên. Biết rằng quê nội ở Hà Đông cũng không yên vì quá gần Hà Nội nên bố mẹ tôi ghé về quê, định đón ông bà nội. Về tới làng thì dân làng cũng đang lục tục chạy đi, chỉ còn những người già quyết ở lại vì cho rằng dù Pháp hay Việt Minh tới cũng chẳng làm gì họ. Ông bà nội tôi cũng nghĩ thế. Ông nội có một số vàng chôn dấu ở vườn sau, bố tôi có ngỏ lời xin ông một ít để phòng thân vì mẹ tôi đang mang thai, sắp tới ngày sinh nở. Theo lời bố mẹ tôi kể thì ông nội không muốn đào vàng vì sợ có vết, giặc sẽ biết. Ông chỉ cho một người tá điền gánh một gánh gạo đi theo và một bà vú đỡ đần mẹ tôi. Bà vú gánh hai chị em tôi bằng hai cái thúng tròn. Em gái tôi quá nhỏ, chắc không biết gì. Riêng tôi, chỉ mang máng nhớ cái cảm giác nhịp nhàng, đều đặn truyền xuống từ hai đầu đòn gánh dưới bước đi thoan thoắt của bà vú.
Gia đình tôi cùng với dân làng chạy dọc xuống Hưng Yên rồi Phủ Lý. Dân địa phương đều rất thương xót người từ xa chạy tới, có con cá nào mập, lá rau nào tươi họ đều mang cho. Gánh gạo người tá điền gánh theo đã vơi dần mà những vùng đất đi qua chưa có nơi nào tạm yên ổn để chúng tôi có thể dừng chân. Mẹ tôi đã mệt nhọc lắm và bố lo sợ không biết mẹ sẽ sanh lúc nào. Một chiều, trên bờ sông Trà Lý, bố tôi gặp lại người bạn cũ. Bác ấy đang sửa soạn cho gia đình chạy về Phát Diệm vì nghe nói Phát Diệm là tỉnh duy nhất còn tự trị. Thế là bà vú lại sửa soạn quang, thúng, sau khi mặc cho tôi tấm áo bông mầu lam và đặt tôi ngồi vào thúng trước. Vú nói, tại tôi hay ngọ ngoạy, phải ngó chừng; còn em gái tôi ngồi ở thúng sau vì con bé hiền khô, hễ đã đặt ngồi vào thúng và đưa cho một viên kẹo bột là nó không hề nhúc nhích.
Mẹ tôi nói, đường về Phát Diệm qua nhiều cánh rừng phong. Nhìn lá đổi mầu, mẹ tôi khóc vùi vì nhớ quê ngoại. Chặng dừng ở đầu tỉnh Nam Định, bà vú đã nấu tới hột gạo cuối cùng trong gánh gạo ông nội cho. Anh tá điền đề nghị chúng tôi cứ đi tiếp vào Phát Diệm để mẹ tôi nghỉ ngơi, còn anh, sẽ lội ngược về Hà Đông xin tiếp tế. Bố tôi buồn tủi và có ý giận ông nội nhưng anh tá điền cương quyết trở về sau khi trấn an bố tôi rằng “Cậu cứ đưa mợ và các em đi tiếp, con về thưa cho hai cụ rõ lộ trình rồi trở lại ngay. Con đi một mình sẽ nhanh lắm, cậu đừng lo.”
Khi tới Phát Diệm, trời đã nhá nhem tối. Thành phố yên tĩnh với bóng những tháp chuông nhà thờ in trên nền trời. Bố dừng lại ở khu chợ đã vắng người, hết nhìn mẹ lại nhìn hai chị em chúng tôi. Lòng bố chắc tràn đầy lo lắng, xót thương. Cuối cùng, bố nói với mẹ: “Đi, chúng ta tới gõ cửa nhà Chúa”
Đêm đó, chúng tôi ngủ ở nhà thờ với hai chiếc mền len cũ các Sơ cho. Hôm sau, bà vú ra phố dọ tìm, bán đôi hoa tai của mẹ để lấy tiền thuê đỡ căn chòi lá thấp bên hông nhà thờ. Còn dư chút đỉnh, mẹ bảo Vú đong ít gạo và mua cá khô. Không nói ra nhưng chắc cả bố và mẹ đều mong anh tá điền mau trở lại vì đôi hoa tai của mẹ là vật quý giá cuối cùng.
Thời gian đó, hàng ngày bà vú phải cắp rổ ra bờ ao ở đầu chợ để vớt ốc, bắt còng. Hôm nào may mắn bắt được nhiều, Vú vào chợ bán bớt rồi mua chút rau, thịt mang về. Vú chăm chút dỗ dành mẹ phải ăn để có đủ sức sanh. Mẹ tủi thân, cứ nắm tay Vú mà khóc. Những lúc đó bố thường bỏ ra ngoài, tìm gầu, ra giếng xách nước ...
Một hôm, Vú cắp rổ về sớm hơn mọi ngày. Tiếng Vú reo vui từ đầu ngõ:
- Cậu Hai ơi! Mợ Hai ơi ! Có khách quý !
Mẹ tôi đang nằm vội ngồi bật dậy thì Vú cũng vừa tới cửa, theo sau là một người đàn bà gương mặt phúc hậu. Thấy mẹ tôi, bà nhào tới ôm, vừa khóc, vừa nói:
- Cơ khổ! Cơ khổ! Chú thím tới đây từ bao giờ" Trời ơi, con cái nhà giầu mà loạn lạc cũng khổ sở thế này!
Rồi bà giở giỏ mây, cho chúng tôi bao nhiêu là kẹo bánh. Bà là vợ thứ ba của ông trẻ tôi nên chúng tôi gọi bà là Bà Trẻ Ba. Bà cũng chạy loạn về đây nhưng có thân quyến ở tại tỉnh nên không long đong đói lạnh như chúng tôi.
Đêm hôm đó, mẹ tôi chuyển bụng. Vú chạy xuống nhà thương trong tỉnh cầu cứu. Cô mụ vội vã đi ngay.

Sáng sớm hôm sau, mặt trời vừa dọi thẳng tia nắng hồng đầu ngày qua phiên cửa liếp thì tôi nghe thấy tiếng khóc trong vắt như thủy tinh. Em trai tôi đã chào đời trong căn chòi lá, giữa đường ly loạn....
Lâu lắm, từ ngày rời Hà Nội, mới thấy nét rạng rỡ trên mặt bố, mới thấy bố cười, mới thấy mắt bố sáng.....
Nghe tin mẹ vừa sanh, Bà Trẻ Ba đi cùng với anh người nhà, gánh một gánh gạo trắng tới. Bố mẹ tôi ái ngại lắm vì giữa buổi loạn lạc, bà cho một gánh gạo không phải là ít. Nhưng bà bảo mẹ tôi:
- Thím phải nhận mà ăn, lấy sữa cho con bú chứ lúc này tìm đâu ra sữa hộp.
Bà không biết rằng, dù có tìm ra sữa hộp, bố mẹ tôi cũng đâu có tiền mà mua!
Cũng hôm ấy, Vú cắp rổ tới những ao lạch xa hơn, bắt được rất nhiều cua đồng. Vú bán lấy tiền mua giò lụa về rim mặn cho mẹ ăn kiêng, lại mua bánh tro và nhiều trái cây cho hai chị em tôi. Vú bảo:
- Ăn đi, ăn để giết sâu bọ.
Tôi ngây thơ hỏi:
- Sâu bọ ở đâu mà giết hả Vú"
Vú bảo:
- Hôm nay là Tết Đoan Ngọ, mồng 5 tháng 5 là ngày giết sâu bọ, ai cũng ăn trái cây cho sạch ruột.
Vú chất phác, chỉ biết giải thích như thế. Đó cũng chính là chi tiết duy nhất để bố mẹ tôi nhớ về ngày tháng sanh em tôi. Ngày âm lịch đó cũng dùng làm khai sinh cho em tôi khi về thành.
Gánh gạo Bà Trẻ Ba cho cũng vơi dần mà anh tá điền vẫn biệt vô âm tín. Mẹ nói với bố:
- Không thể để các con chết đói ở đây, hay chúng ta liều trở về quê vậy"
Bố nói:
- Đành thôi, nhưng về Hà Nam chứ không về Hà Đông.
Hà Nam là quê ngoại tôi. Mẹ nghe thế thì mừng lắm vì chúng tôi sẽ được gặp ngoại; nhưng mẹ vẫn nhìn bố mà nói:
- Mình vẫn còn giận Thầy ư" Tánh Thầy cẩn thận chứ lúc nào chả thương con thương cháu. Không thương sao cho người gánh gạo theo, sao bắt bà vú cùng đi, đỡ đần"
Bố gặng hỏi:
- Thế còn thằng Khương đâu" Nó quay về xin tiếp tế rồi cũng biến mất.
Sau này bố mới biết rằng anh tá điền tên Khương không bao giờ về tới làng. Anh ta mất tích trên đường trở lại Hà Đông. Cũng sau này bố mới biết là ông nội nhắn người tìm kiếm chúng tôi khắp nơi không có tin tức gì khiến bà nội buồn rầu, lâm bệnh nặng.
Rời Phát Diệm để đi về quê ngoại ở Hà Nam, mẹ quấn em bé trong một chiếc khăn bông. Mới sanh được hai mươi ngày, mẹ còn yếu lắm nhưng không thể ở lại Phát Diệm được nữa. Mẹ mặc chiếc áo len xám, đầu chít khăn vuông, chân đi đôi vớ nỉ của bố. Bố cõng em gái tôi trên lưng, một tay dắt tôi, một tay dắt mẹ, còn bà vú bế em bé.
Dọc đường tôi khóc vì đói và mỏi chân. Bố luôn miệng dỗ dành:
- Ráng đi con, một đoạn ngắn nữa thôi rồi gặp ngoại, ngoại sẽ cho con ăn cháo, ăn bánh ...
Tới một quãng đồng, trời bỗng chuyển mưa. Bố hối mọi người:
- Mau lên, tới cho kịp căn chòi đằng trước kẻo ướt hết!
Khi tới chòi thì mưa cũng vừa ập xuống. Căn chòi lá, nền đất, dột tứ tung. Bố đỡ mẹ vào góc ít dột nhất, đặt em bé vào lòng mẹ rồi cởi chiếc áo đang mặc, đắp cho em. Chúng tôi run rẩy trong căn chòi lá bốn bề gió thốc. Bố yên lặng ngước nhìn khung trời vần vũ. Chắc bố đang thầm khấn Trời Phật che chở. Không biết có phải Phật nghe thấy bố xin hay không mà sau đó, mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn. Bố giục mọi người “Đi mau thôi”. Bấy giờ, bố bế thốc cả hai chị em tôi vào bên hông để đi cho nhanh ....
Khi chúng tôi thấy bóng cây đa đầu làng quê ngoại cũng là lúc có tiếng reo của một người bên ruộng:
- Trời ơi, Cô, chú!
Đó là người chị họ đang hái rau muống. Chị vội đỡ tôi từ tay bố, miệng gọi rối rít những người làng quanh đó chạy về báo cho ngoại tôi biết.
Thời gian ở quê ngoại, chúng tôi được bao bọc bằng mật ngọt của tình thương. Đối với bà ngoại tôi, việc con rể đưa vợ con về tá túc là một đặc ân vì con gái đã đi lấy chồng là “con người ta”, làm gì còn được gần gũi con, huống chi lại có cả rể và đám cháu.
Ông ngoại mất khi mẹ tôi mới mười ba tuổi và tôi nhớ, đã từng được nghe những nguyên nhân khác nhau về cái chết của ông. Khi thì “Ông bệnh mà mất” khi thì “Ông mất vì tai nạn” và nghiêm trọng hơn cả là “Ông tự sát bằng súng lục sau khi âm mưu ám sát tên toàn quyền Pháp không thành!”. Cũng như cái chết của bác Tri, anh ruột bố, mãi sau này tôi mới biết là khi gia đình làm lễ phát tang ở chùa Bà Đá thì chiếc quan tài chỉ là quan tài trống! Bác tôi đã bị Việt Minh thảm sát ngày 19 tháng 12 năm 1946 cùng với hơn ba trăm chiến sỹ cách mạng tại làng Hoàng Xá vì Việt Minh – tức Cộng Sản Việt Nam - muốn cướp công kháng chiến của tất cả các đảng phái yêu nước. Thân xác bao người hiến dâng cho Tổ Quốc đã bị chôn vùi tập thể dưới những hầm hố đào sẵn!
Cái chết của bác khiến tôi hiểu được vì sao bác rời gia đình khi tuổi còn xanh.
Cái chết của bác cũng khiến tôi hiểu được vì sao khi Cộng Sản vừa chiếm được miền Bắc và khởi sự chính sách đấu tố thì ông nội tôi là người đầu tiên bị bắt đi trong tiếng kêu than tuyệt vọng của đàn ngỗng.
Cái chết của bác cũng khiến tôi hiểu được vì sao, bao nhiêu năm trong lao tù Cộng Sản, dù sức tàn lực kiệt, bố tôi vẫn giữ trọn được tinh thần bất khuất.
Chỉ còn lại một điều tôi không hiểu là sao vẫn có những người chưa nhìn thấy chân diện mục của chủ thuyết Cộng Sản tàn bạo, vô luân"

Linh Linh Ngọc

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.
Năm 1979, Steve cho xuất bản Indochina Newsletter là tài liệu liên quan đến các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam sau ngày 30/4/1975, sau đổi tên thành Indochina Journal, rồi Vietnam Journal. Tôi và vài người Việt nữa đã cùng làm việc với Steve trong việc phối kiểm tin tức liên quan đến tù nhân lương tâm và dịch nhiều tài liệu của các phong trào đòi tự do dân chủ tại Việt Nam sang tiếng Anh, như Cao trào Nhân bản của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Diễn đàn Tự do của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, các bài giảng về sám hối vào Mùa chay 1990 của linh mục Chân Tín, cũng như những tuyên cáo về tình trạng thiếu tự do tôn giáo của các Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát; của Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền, Linh mục Nguyễn Văn Lý.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.